ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
ĐỖ TRẦN ĐẠT
TÊN ĐỀ TÀI:
“NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ TỔ HỢP PHÂN BÓN
ĐẾN SINH TRƯỞNG PHÁT TRIỂN CỦA GIỐNG SẮN KM94 TẠI
THÁI NGUYÊN”.
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo
: Chính quy
Chuyên ngành
: Khoa học cây trồng
Khoa:
: Nông học
Khóa học
: 2014-2018
Thái Nguyên – năm 2018
Giáo viên hướng dẫn
: ThS. Đỗ Tuấn Tùng
ThS. Hà Việt Long
Thái Nguyên, năm 2018
i
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn tốt nghiệp của mình, em cảm ơn các thầy và các
bạn đã tạo điều kiện thuận lợi, nhiệt tình giúp đỡ em trong quá trình học tập và
thực hiện đề tài tốt nghiệp.
Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo hướng dẫn
ThS. Hà Việt Long và ThS. Đỗ Tuấn Tùng đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn
giúp đỡ em vượt qua khó khăn trong quá trình thực hiện đề tài và hoàn thành
báo cáo tốt nghiệp.
Em cũng chân thành cảm ơn gia đình và bạn bè đã luôn động viên giúp
đỡ em về tinh thần, vật chất trong quá trình học tập và thời gian thực hiện đề
tài tốt nghiệp cuối khóa học.
Thái Nguyên, ngày 4 tháng 6 năm 2017
Sinh viên thực hiện
Đỗ Trần Đạt
ii
3
PHẦN 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU .......................................................... 22
4.1. Ảnh hưởng của các tổ hợp phân bón đến tỷ lệ mọc mầm, thời gian mọc
mầm và thời gian phân cành của giống sắn tham gia thí nghiệm.
................................ 22
4.2.1. Ảnh hưởng của phân bón đến tốc độ tăng trưởng chiều cao cây của
giống sắn KM94 tại Thái Nguyên. .................................................................. 24
4.2.2. Ảnh hưởng của các tổ hợp phân bón đến tốc độ ra lá của giống sắn
KM94 trồng tại Thái Nguyên.
.................................................................................... 26
4.2.3. Ảnh hưởng của các tổ hợp phân bón đến diện tích lá của giống sắn
KM94 tại Thái Nguyên. .................................................................................. 29
4.3. Ảnh hưởng của các tổ hợp phân bón đến đặc điểm hình thái của giống sắn
KM94 tại Thái Nguyên. .................................................................................. 31
4.3.1. Chiều cao thân chính. ............................................................................ 32
4.3.2. Chiều dài cành các cấp. ......................................................................... 32
4.3.3. Đường kính gốc..................................................................................... 33
4.3.4. Chiều cao cây cuối cùng. ...................................................................... 33
4.3.5. Tổng số lá. ............................................................................................. 34
4.4. Nghiên cứu ảnh hưởng của tổ hợp phân bón đến một số yếu tố cấu thành
năng suất và năng suất của giống sắn KM94 tại Thái Nguyên. ...................... 34
4.4.1. Nghiên cứu ảnh hưởng của tổ hợp phân bón đến một số yếu tố cấu
thành năng suất của giống sắn KM94 tại Thái Nguyên. ................................. 35
4.4.1.1. Chiều dài củ........................................................................................ 36
4.4.1.2. Đường kính củ.................................................................................... 36
4.4.1.3. Số củ trên gốc. .................................................................................... 36
4.4.1.4. Khối lượng trung bình củ trên gốc. .................................................... 37
4.5.. Nghiên cứu ảnh hưởng của tổ hợp phân bón đến năng suất của giống sắn
Bảng 4.5: Ảnh hưởng của tổ hợp phân bón đến đặc điểm hình thái giống sắn
KM94 tại Thái Nguyên. .................................................................................. 31
Bảng 4.6. Ảnh hưởng của tổ hợp phân bón đến một số yếu tố cấu thành năng
suất của giống sắn KM94 tại khu trồng cạn trường Đại Học Nông Lâm Thái
Nguyên. ........................................................................................................... 35
Bảng 4.7. Ảnh hưởng của tổ hợp phân bón đến năng suất và chỉ số thu hoạch
của giống sắn KM94 tại khu trồng cạn trường Đại Học Nông Lâm Thái
Nguyên. ........................................................................................................... 38
Bảng 4.8: Ảnh hưởng của tổ hợp phân bón đến chất lượng của giống sắn
KM94 tại khu trồng cạn của Trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên........ 41
Bảng 4.9. Ảnh hưởng của tổ hợp phân bón đến hiệu quả kinh tế của giống sắn
KM94 tại Thái nguyên. ................................................................................... 44
6
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 4.1: Biểu đồ ảnh hưởng của tổ hợp phân bón đến năng suất củ tươi, năng
suất thân lá và năng suất sinh vật học của giống sắn KM94. ......................... 38
Hình 4.2: Biểu đồ chỉ số thu hoạch của giống sắn KM94. ............................. 40
Hình 4.3: Biểu đồ ảnh hưởng của tổ hợp phân bón đến Tỷ lệ chất khô và Tỷ lệ
tinh bột của giống sắn KM94. ......................................................................... 42
Hình 4.4: Biểu đồ ảnh hưởng của tổ hợp phân bón đến năng suất tinh bột và
năng suất củ khô của giống sắn KM94. .......................................................... 43
Hình 4.5: Hiệu quả kinh tế của giống sắn KM94. .......................................... 45
vii
DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT
: Năng suất củ tươi.
NSTB
: Năng suất tinh bột.
NSSVH
: Năng suất sinh vật học.
NSTL
: Năng suất thân lá.
NS
: Not significant (không có ý nghĩa).
TLCK
: Tỷ lệ chất khô.
TLTB
: Tỷ lệ tinh bột.
P
: Probabliity (xác suất).
800.000 tấn tinh bột sắn, trong đó trên 70% xuất khẩu và gần 30% tiêu thụ
trong nước (Trần Ngọc Ngoạn, 2007) [2]. Sản phẩm xuất khẩu của Việt Nam
chủ yếu là tinh bột, sắn lát và bột sắn. Thị trường tiêu thụ chính là Trung
Quốc, Đài Loan, Nhật Bản, Singapo và Hàn Quốc.
Thái Nguyên là một tỉnh trung du miền núi phía Bắc có diện tích đất tự
nhiên 356,282 ha, dân số 1,156,000 người. Năm 2016 diện tích trồng sắn của
tỉnh là 3,4 nghìn ha, năng suất trung bình 14,5 tấn/ha, sản lượng 49,3 tấn (theo
Tổng cục Thống kê năm 2018) [3]. Cây Sắn đã có từ lâu đời ở tất cả các
huyện, thị xã trong tỉnh, sắn được trồng để làm lương thực thực phẩm, thức ăn
cho gia súc và để bán. Tuy nhiên, người dân thường quan niệm sắn là cây dễ
trồng, thích ứng rộng, ít sâu bệnh, chịu đất chua, nghèo dinh dưỡng và không
đòi hỏi kỹ thuật phức tạp nên chưa chú ý đầu tư thâm canh. Để phục vụ cho
chiến lược phát triển sắn bền vững ở Việt Nam, ngoài việc nghiên cứu về
giống, cần áp dụng các biện pháp kỹ thuật vào sản xuất sắn nhằm nâng cao
năng suất và chất lượng của các giống sắn là vấn đề rất cần thiết. vì vậy em
thực hiện đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của một số tổ hợp phân bón đến
sinh trưởng phát triển của giống sắn KM94 tại Thái Nguyên ”.
1.2. Mục đích nghiên cứu đề tài.
Xác định được tổ hợp phân bón thích hợp đến sinh trưởng và phát triển của
giống sắn KM94 tại Thái Nguyên.
1.2.1. Yêu cầu đề tài.
- Theo dõi ảnh hưởng của các tổ hợp phân bón đến sinh trưởng của giống
sắn KM94.
- Ảnh hưởng của các tổ hợp phân bón đến năng suất, chất lượng của
giống sắn KM94.
-
Đánh giá hiệu quả kinh tế của các công thức phân bón đối với giống
trồng. Để bón phân cho cây trồng đạt hiệu quả cao mà không gây ảnh hưởng
xấu tới cây và môi trường, cần phải bón phân phù hợp với đặc điểm của từng
loại cây và từng loại đất. Cơ sở khoa học của việc bón phân hợp lý cho cây
trồng cần được xây dựng trên cơ sở đảm bảo những yêu cầu cơ bản như cây
trồng cần được cung cấp đầy đủ và kịp thời chất dinh dưỡng cần thiết cho
năng suất cao, phẩm chất tốt. Không ngừng ổn định và nâng cao độ phì của
đất, đem lại lợi nhuận tối đa cho người sản xuất trên cơ sở phối hợp tốt các
biện pháp kỹ thuật trồng, đồng thời phải phù hợp với điều kiện và trình độ sản
xuất hiện tại của người dân.
Nhiều nghiên cứu về phân bón cho sắn được thực hiện trên thế giới và
Việt Nam cho thấy cây sắn yêu cầu từ 50 – 200 kg N, 40 – 80 kg P205 và 80 –
160 kg K20 với tỷ lệ N:P:K là 2:1:2, 1,5:1:2 hoặc 1:1:2. Do vậy, để đạt được
năng suất và phẩm chất cao, đồng thời duy trì được độ phì của đất trồng sắn
cần xác định được tổ hợp phân bón thích hợp trên từng loại đất.
2.2. Tình hình sản xuất sắn trên thế giới và Việt Nam.
2.2.1. Tình hình sản xuất sắn trên thế giới.
Hiện nay sắn được trồng trên 100 quốc gia trong đó 64,8% được trồng
ở Châu Phi, Châu Á chiếm 21% và Châu Mỹ 14%. Mức tiêu thụ sắn bình
quân thế giới khoảng 18kg/người/năm. Sản lượng sắn của thế giới được tiêu
dùng trong nước khoảng 85% (lương thực 58%, thức ăn gia súc 28%, chế
biến công nghiệp 3%, hao hụt 11%), còn lại 15% (gần 30 triệu tấn) được xuất
khẩu dưới dạng sắn lát khô, sắn viên và tinh bột (CIAT, 1993). Sắn chiếm tỷ
trọng cao ở khu vực Châu Phi bình quân 96kg/người/năm do nhu cầu lương
thực ở cả dạng củ tươi và sản phẩm chế biến
Theo thống kê của FAO, tính đến năm 2016 diện tích trồng sắn trên thế
giới đạt 23,48 triệu ha, năng suất bình quân đạt 11,80 tấn/ha, sản lượng đạt
277,10 triệu tấn. Tình hình sản xuất sắn trên thế giới 5 năm gần đây được thể
hiện ở bảng 2.1
2014
23,21
11,82
274,33
2015
23,46
11,79
276,61
2016
23,48
11,80
277,10
Năm
(Nguồn : FAOSTAT, 3/2018) [26]
Số liệu bảng 2.1 cho thấy diện tích trồng sắn trên thế giới trong 5 năm
gần đây tăng giảm không đáng kể, từ 23,21 triệu ha (2014) lên 23,48 triệu ha
(2016). Năng suất sắn tăng chậm từ 11,05 tấn/ha (năm 2013) đến 11,82 tấn/ha
Châu Phi
17,006,222
9,25
157,271,697
Châu Á
4,182,958
21,34
89,269,132
Châu Mỹ
2,267,294
13,37
30,311,826
25,579
9,77
249,909
Chiến lược phát triển lương thực toàn cầu đã thực sự coi trọng giá trị
của cây sắn. Mặt khác, sắn lại là cây lương thực dễ trồng, thích hợp với nhiều
điều kiện kinh tế đặc biệt là có thể sinh trưởng và cho năng suất cao ở những
nơi đất nghèo dinh dưỡng, là cây trồng nông nghiệp có khả năng cạnh tranh
với nhiều cây công nghiệp khác.
Trên thế giới, sắn được trồng bởi những hộ nông dân sản xuất nhỏ để
làm lương thực – thực phẩm, thức ăn gia súc và để bán. Sắn chủ yếu được
trồng trên đất nghèo dinh dưỡng và kỹ thuật canh tác truyền thống. Mức tiêu
thụ sắn bình quân toàn thế giới khoảng 18 kg/người/năm. Sản lượng sắn
của thế giới được tiêu dùng trong nước khoảng 85% (lương thực 58%, thức
ăn gia súc 28%, chế biến công nghiệp 3%, hao hụt 11%), còn lại gần 15%
(gần 30 triệu tấn) được xuất khẩu dưới dạng sắn lát khô, sắn viên và tinh
bột (CIAT, 1993) [28].
Cây sắn tiếp tục giữ vai trò quan trọng trong nhiều nước châu Á, đặc
biệt là các nước Đông Nam Á nơi cây sắn có tổng diện tích đứng thứ 3 sau lúa
và ngô và tổng sản lượng đứng thứ ba lúa và mía. Chiều hướng sản xuất sắn
phụ thuộc vào khả năng cạnh tranh cây trồng. Giải pháp chính là tăng năng
suất sắn bằng cách áp dụng giống mới và các biện pháp kỹ thuật tiến bộ.
2.2.2 Tình hình sản xuất sắn tại Việt Nam.
Sắn là cây lương thực và thức ăn chăn nuôi quan trọng thứ ba sau ngô
và lúa (Phạm Văn Biên, 1998) [4], và đang có xu hướng tăng ở vùng Đông
Nam Bộ, Tây Nguyên, vùng núi và trung du Bắc Bộ. Tình hình sản xuất sắn
trong 5 năm gần đây được thể hiện ở bảng 2.3
Bảng 2.3: Tình hình sản xuất sắn của Việt Nam giai đoạn 2012 – 2016
Diện tích
Năng suất
10,209,882
2015
567,988
18,91
10,740,000
2016
579,898
19,05
11,045,184
Năm
(Nguồn: FAOSTAT, 3/2018) [26]
Số liệu bảng 2.3 cho thấy sản xuất của Việt Nam tăng dần trong 5 năm
gần đây, năm 2012 diện tích trồng sắn cả nước là 511,771 ha, đến năm 2016
đạt 579,898 ha. Năng suất tăng từ 17,64 tấn/ha (năm 2012) tăng dần qua các
năm và đạt 19,05 tấn/ha (năm 2016). Do diện tích và năng suất tăng nên sản
lượng sắn tăng dần trong 5 năm gần đây, từ 9,735,723 tấn (năm 2012) và đạt
cao nhất năm 2016 (11,045,184 tấn).
Ở miền Bắc nước ta, sắn được trồng chủ yếu ở khu vực có địa hình đồi
núi và khoảng 68% diện tích trồng sắn là đất đá và có 12% là đất cát pha. Sắn
tuy được trồng với diện tích khá lớn nhưng lại không tập trung. Trong khi đó
19,18
10,931,8
1,6
19,88
31,8
Trung du và miền núi phía Bắc
114,6
12,87
1,474,9
Bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung
174,5
18,61
3,247,4
Tây Nguyên
155,4
tiếp theo là vùng Bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung (18,61 tấn/ha). Các
tỉnh miền núi phía bắc còn gặp nhiều khó khăn, điều kiện canh tác còn lạc hậu
nên năng suất sắn thấp nhất (12,87 tấn/ha). Do vùng này sắn được trồng chủ
yếu ở khu vực có địa hình đồi núi và khoảng 68% diện tích trồng sắn là đất đá
và 12% có đất cát pha
tương ứng. Ở miền Nam sắn được trồng chủ yếu trên đất cát màu xám, các
loại đất này phẳng và nghèo chất dinh dưỡng, các khu vực ven biển miền
Trung và Đông Nam, chiếm khoảng 60% diện tích sắn toàn miền Nam.
Sắn và sản phẩm từ sắn là mặt hàng tăng trưởng nóng trong những năm
qua và phụ thuộc vào nhu cầu nhập khẩu của các nước, do vậy, nghề trồng
sắn dễ bị động nếu các thị trường giảm nhu cầu nhập khẩu. Hiện nay Trung
Quốc là thị trường nhập khẩu sắn và các sản phẩm từ sắn lớn nhất của Việt
Nam (chiếm 85%) tuy nhiên xuất khẩu sắn và sản phẩm sắn sang thị trường
Trung Quốc trong những năm gần đây ngày càng giảm. Do sự trì trệ của
ngành Ethanol tại Trung Quốc, các nhà máy sản xuất cồn tại đây đã đóng cửa
gần 70%, một số còn lại giảm công suất nên nhu cầu nhập khẩu sắn cũng sụt
giảm mạnh.
Ngoài ra, giá xuất khẩu sắn của Việt Nam hiện nay đang giảm, thêm
vào đó lượng tồn kho sắn lại cao trong khi nguồn cung từ các thị trường xuất
khẩu khác (như Thái Lan và Indonesia) đang rất lớn, giá cả cạnh tranh cũng là
nguyên nhân của sự sụt giảm xuất khẩu sắn sang thị trường Trung Quốc nói
riêng và thị trường thế giới nói chung. Bởi thế, yêu cầu cấp thiết hiện nay là
phải chủ động được thị trường và đặc biệt ưu tiên chính từ thị trường nội địa.
2.2.3.Tình hình sản xuất sắn tại Thái Nguyên.
Thái Nguyên là tỉnh Trung du và miền núi phía Bắc, diện tích tự nhiên
toàn tỉnh là 3,526,2 km2, độ cao trung bình so với mực nước biển 200 - 300m.
Thái Nguyên mang nét đặc trưng của khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ
trung bình khoảng 23 - 280c, địa hình chủ yếu là đồi núi thích hợp cho việc
3,7
15,05
55,7
2014
3,7
14,75
54,6
2015
3,4
14,735
50,1
2016
3,4
14.50
49,3
tăng giá thành sản xuất và đôi khi làm giảm năng suất dẫn đến hiệu quả kinh
tế thấp. Chính vì vậy duy trì việc cung cấp dinh dưỡng cân đối cho cây sắn là
rất cần thiết để đạt năng suất cao.
Tuỳ theo điều kiện đất đai, giống, thời gian thu hoạch mà trung bình một
tấn sắn củ tươi thu hoạch sẽ lấy đi của đất 4,1 kg K; 2,3 kg N; 0,6 kg Ca; 0,5
kg P và 0,3 kg Mg.
Theo tác giả Howeler (1999 ) [16] Để đạt năng suất 15 tấn củ tươi/ha,
cây sắn lấy đi lượng dinh dưỡng trung bình là 74kg N, 16kg P2O5, 87kg K2O,
27kg Ca, 12kg Mg. Tác giả Kanapaty (1974) [17] cho rằng để đạt được mức
năng suất củ tươi 20 tấn/ha thì cây sắn đã hấp thụ một lượng dinh dưỡng là
87kg N + 37kgP2O5 +177kg K2O + 35,1kg MgO.
Còn theo tác giả Anneke (2005) [18] cho rằng để đạt mức năng suất củ
tươi 20 tấn/ha thì cây sắn đã hấp thu một lượng dinh dưỡng là 87kg N, 37kg
P2O5, 177kg K2O, 35,1kg MgO.
Tác giả Duangpatra (1987) [19] cho biết đạm là nguyên tố quan trọng
nhất đối với sự sinh trưởng và phát triển của cây. Cây hấp thu lượng lớn N từ
đất nên bón đạm làm tăng số lá trên thân, số đốt, tăng năng suất củ, tuy nhiên
theo các tác giả khác thì bón nhiều đạm là giảm tỷ lệ tinh bột chứa trong củ..
Ở các ô thí nghiệm dài hạn ngắn hạn cho thấy sắn phản ứng với đạm nhất
mạnh, nhất là trên các loại đất nghèo dinh dưỡng. Phản ứng của sắn đối với
các liều lượng N khác nhau để thể hiện rõ ngay từ năm thí nghiệm đầu tiên.
Ngoài ra có mối quan hệ rõ giữa lượng N bón vào đất và hàm lượng N chưa
trong thân lá sắn. Hàm lượng N trong thân lá tăng khi mức bón đạm tăng
Theo tác giả Weite, Z (1996) [20] cho rằng sắn được trồng trên đất giầu
dinh dưỡng và bón phân đầy đủ thì sức sinh trưởng mạnh, tỷ lệ tinh bột cao.
Bón quá nhiều đạm với giống sắn có tốc độ sinh trưởng nhanh dẫn đến thân lá
phát triển nhiều, năng suất sinh vật học cao, tỷ lệ tinh bột giảm. Nếu lúc thu
hoạch người ta lấy toàn bộ sinh khối của sắn có trên đồng ruộng (củ tươi, các
khoảng: (100kgN + 50kg P2O5 + 100kg K2O)/ha; (60kgN + 60kg P2O5 +
120kg K2O)/ha ; (80kgN + 40kg P2O5 + 80kg K2O)/ha. Nghĩa là tỷ lệ bón
NPK là 2:1:2 và 2:2:4 để cho năng suất và tỷ lệ tinh bột cao, đồng thời có thể
duy trì được độ phì của đất. Công thức phân bón của tiến sĩ Lian thực hiện
trên đất than bùn ở Malaysia cho thấy công thức phân bón N, P, K thích hợp
cho sắn là 150 - 250kgN + 30kg P2O5 + 80 - 160kg K2O/ha.
Theo Anneke M.Fermont và cộng sự (2005) [25] ở Châu Phi cụ thể là ở
Kenya, Uganda mức bón [100kg N + 22kg P2O5 +80kg K2O]/ha là phù hợp để
cho năng suất từ 14,4 - 15,7 tấn/ha.
2.3.2. Một số kết quả nghiên cứu về phân bón cho sắn ở Việt Nam.
Sắn được trồng ở nhiều vùng miền trên cả nước, hầu hết các vùng trồng
sắn của nước ta đều là vùng đất bạc màu, đất nghèo dinh dưỡng và có độc tố
như chua, mặn, phèn. Sắn cũng được trồng trên đất dốc ở miền Bắc cho đến
đất cát xám ven biển miền Trung và đất phù sa nhiễm phèn vùng đồng bằng
sông Cửu Long.
Theo kết quả nghiên cứu của tác giả Công Doãn Sắt và Hoàng Văn
Tám (2000) cho thấy sắn được trồng chủ yếu trên các loại đất có độ phì thấp,
quá trình canh tác không bón phân hoặc ít bón và chưa áp dụng các biện pháp
bảo vệ đất trồng sắn. Hàng năm cây sắn đã lấy đi một lượng dinh dưỡng khá
lớn. Người dân quen với tập quán sản xuất độc canh làm tăng độ chua trong
đất, hàm lượng mùn, độ phì đất giảm. Mặt khác trồng sắn với mật độ thưa,
diện tích che phủ thấp làm tăng quá trình rửa trôi, xói mòn đất dẫn đến sự cạn
kiệt, mất cân bằng dinh dưỡng của cây, do vậy cần các biện pháp bón phân để
duy trì sản xuất bền vững [5].
Theo tác giả Thái Phiên và Nguyễn Công Vinh (1998) [6] khi trồng sắn
3 năm liên tục trên cùng một diện tích đất ở miền Bắc Việt Nam thì năng suất
sắn giảm xuống chỉ còn 10 tấn/ha nếu không bón phân, ngược lại năng suất sẽ
tăng 20 tấn/ha nếu cân đối đủ lượng phân bón cho cây, đặc biệt khi bón K ở
Lâm Thái Nguyên chỉ ra rằng nếu bón N, K mà thiếu P thì năng suất vẫn
cao,nhưng khi bón N, P mà không bón K thì năng suất giảm.
Hàng năm cây sắn đã lấy đi một lượng dinh dưỡng khá lớn so với các
cây trồng khác, sắn trồng với mật độ thưa và diện tích che phủ thấp làm tăng
quá trình rửa trôi, xói mòn đất dẫn đến sự cạn kiệt và mất cân đối nguồn dinh
dưỡng của cây trồng, do vậy cần phải áp dụng các biện pháp kỹ thuật bón
phân để duy trì sản suất bền vững.
Nhiều nghiên cứu của các tác giả khác nhau cho thấy bón phân hữu cơ
làm giảm dung trọng đất, tăng độ xốp, điều hòa được chế dộ nhiệt và ẩm độ
trong đất, dung tích hấp thụ của đất được cải thiện, nhờ đó khả năng trao đổi
ion và kháng chất được tốt hơn. Phân hữu cơ còn có tác dụng chuyển lân từ
dạng kho tiêu thành dạng dễ tiêu cho cây trồng.
Nhiều nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam cho thấy để đạt năng suất
và chất lượng cao, cây sắn yêu cầu từ 50 - 200 kgN, 40 - 80 kgP2O5 và 80-160
kgK2O, để đạt hiệu quả kinh tế cao, sự kết hợp giữa N : P : K phụ thuộc vào
từng loại đất.