ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
ĐỖ TRẦN ĐẠT
TÊN ĐỀ TÀI:
“NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ TỔ HỢP PHÂN BÓN
ĐẾN SINH TRƯỞNG PHÁT TRIỂN CỦA GIỐNG SẮN KM94 TẠI
THÁI NGUYÊN”.
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo
: Chính quy
Chuyên ngành
: Khoa học cây trồng
Khoa:
: Nông học
Khóa học
: 2014-2018
Thái Nguyên – năm 2018
Giáo viên hướng dẫn
: ThS. Đỗ Tuấn Tùng
ThS. Hà Việt Long
Thái Nguyên, năm 2018
i
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn tốt nghiệp của mình, em cảm ơn các thầy và các
bạn đã tạo điều kiện thuận lợi, nhiệt tình giúp đỡ em trong quá trình học tập và
thực hiện đề tài tốt nghiệp.
Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo hướng dẫn
ThS. Hà Việt Long và ThS. Đỗ Tuấn Tùng đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn
giúp đỡ em vượt qua khó khăn trong quá trình thực hiện đề tài và hoàn thành
báo cáo tốt nghiệp.
Em cũng chân thành cảm ơn gia đình và bạn bè đã luôn động viên giúp
đỡ em về tinh thần, vật chất trong quá trình học tập và thời gian thực hiện đề
tài tốt nghiệp cuối khóa học.
Thái Nguyên, ngày 4 tháng 6 năm 2017
Sinh viên thực hiện
Đỗ Trần Đạt
ii
iii
PHẦN 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU .......................................................... 22
4.1. Ảnh hưởng của các tổ hợp phân bón đến tỷ lệ mọc mầm, thời gian mọc mầm
và thời gian phân cành của giống sắn tham gia thí nghiệm. ................................ 22
4.2.1. Ảnh hưởng của phân bón đến tốc độ tăng trưởng chiều cao cây của
giống sắn KM94 tại Thái Nguyên. .................................................................. 24
4.2.2. Ảnh hưởng của các tổ hợp phân bón đến tốc độ ra lá của giống sắn KM94
trồng tại Thái Nguyên. .................................................................................... 26
4.2.3. Ảnh hưởng của các tổ hợp phân bón đến diện tích lá của giống sắn
KM94 tại Thái Nguyên. .................................................................................. 29
4.3. Ảnh hưởng của các tổ hợp phân bón đến đặc điểm hình thái của giống sắn
KM94 tại Thái Nguyên. .................................................................................. 31
4.3.1. Chiều cao thân chính. ............................................................................ 32
4.3.2. Chiều dài cành các cấp. ......................................................................... 32
4.3.3. Đường kính gốc. .................................................................................... 33
4.3.4. Chiều cao cây cuối cùng. ...................................................................... 33
4.3.5. Tổng số lá. ............................................................................................. 34
4.4. Nghiên cứu ảnh hưởng của tổ hợp phân bón đến một số yếu tố cấu thành
năng suất và năng suất của giống sắn KM94 tại Thái Nguyên. ...................... 34
4.4.1. Nghiên cứu ảnh hưởng của tổ hợp phân bón đến một số yếu tố cấu
thành năng suất của giống sắn KM94 tại Thái Nguyên. ................................. 35
4.4.1.1. Chiều dài củ........................................................................................ 36
4.4.1.2. Đường kính củ. ................................................................................... 36
4.4.1.3. Số củ trên gốc. .................................................................................... 36
4.4.1.4. Khối lượng trung bình củ trên gốc. .................................................... 37
4.5.. Nghiên cứu ảnh hưởng của tổ hợp phân bón đến năng suất của giống sắn
KM94 tại Thái Nguyên. .................................................................................. 37
4.6. Nghiên cứu ảnh hưởng của tổ hợp phân bón đến chất lượng của giống
sắn KM94 tại khu trồng cạn của Trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên. 41
Bảng 4.7. Ảnh hưởng của tổ hợp phân bón đến năng suất và chỉ số thu hoạch
của giống sắn KM94 tại khu trồng cạn trường Đại Học Nông Lâm Thái
Nguyên. ........................................................................................................... 38
Bảng 4.8: Ảnh hưởng của tổ hợp phân bón đến chất lượng của giống sắn
KM94 tại khu trồng cạn của Trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên. ....... 41
Bảng 4.9. Ảnh hưởng của tổ hợp phân bón đến hiệu quả kinh tế của giống sắn
KM94 tại Thái nguyên. ................................................................................... 44
vi
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 4.1: Biểu đồ ảnh hưởng của tổ hợp phân bón đến năng suất củ tươi, năng
suất thân lá và năng suất sinh vật học của giống sắn KM94. ......................... 38
Hình 4.2: Biểu đồ chỉ số thu hoạch của giống sắn KM94. ............................. 40
Hình 4.3: Biểu đồ ảnh hưởng của tổ hợp phân bón đến Tỷ lệ chất khô và Tỷ lệ
tinh bột của giống sắn KM94. ......................................................................... 42
Hình 4.4: Biểu đồ ảnh hưởng của tổ hợp phân bón đến năng suất tinh bột và
năng suất củ khô của giống sắn KM94. .......................................................... 43
Hình 4.5: Hiệu quả kinh tế của giống sắn KM94. .......................................... 45
vii
DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT
CIAT
: Trung tâm Quốc tế nông nghiệp nhiệt đới.
CV
NSSVH
: Năng suất sinh vật học.
NSTL
: Năng suất thân lá.
NS
: Not significant (không có ý nghĩa).
TLCK
: Tỷ lệ chất khô.
TLTB
: Tỷ lệ tinh bột.
P
: Probabliity (xác suất).
STT
: Số thứ tự.
2
Thái Nguyên là một tỉnh trung du miền núi phía Bắc có diện tích đất tự
nhiên 356,282 ha, dân số 1,156,000 người. Năm 2016 diện tích trồng sắn của
tỉnh là 3,4 nghìn ha, năng suất trung bình 14,5 tấn/ha, sản lượng 49,3 tấn (theo
Tổng cục Thống kê năm 2018) [3]. Cây Sắn đã có từ lâu đời ở tất cả các
huyện, thị xã trong tỉnh, sắn được trồng để làm lương thực thực phẩm, thức ăn
cho gia súc và để bán. Tuy nhiên, người dân thường quan niệm sắn là cây dễ
trồng, thích ứng rộng, ít sâu bệnh, chịu đất chua, nghèo dinh dưỡng và không
đòi hỏi kỹ thuật phức tạp nên chưa chú ý đầu tư thâm canh. Để phục vụ cho
chiến lược phát triển sắn bền vững ở Việt Nam, ngoài việc nghiên cứu về
giống, cần áp dụng các biện pháp kỹ thuật vào sản xuất sắn nhằm nâng cao
năng suất và chất lượng của các giống sắn là vấn đề rất cần thiết. vì vậy em
thực hiện đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của một số tổ hợp phân bón đến
sinh trưởng phát triển của giống sắn KM94 tại Thái Nguyên ”.
1.2. Mục đích nghiên cứu đề tài.
Xác định được tổ hợp phân bón thích hợp đến sinh trưởng và phát triển của
giống sắn KM94 tại Thái Nguyên.
1.2.1. Yêu cầu đề tài.
- Theo dõi ảnh hưởng của các tổ hợp phân bón đến sinh trưởng của giống
sắn KM94.
- Ảnh hưởng của các tổ hợp phân bón đến năng suất, chất lượng của
giống sắn KM94.
-
Đánh giá hiệu quả kinh tế của các công thức phân bón đối với giống
sắn KM94 trồng tại Thái Nguyên.
1.3. Ý nghĩa của đề tài.
trồng. Để bón phân cho cây trồng đạt hiệu quả cao mà không gây ảnh hưởng
xấu tới cây và môi trường, cần phải bón phân phù hợp với đặc điểm của từng
loại cây và từng loại đất. Cơ sở khoa học của việc bón phân hợp lý cho cây
trồng cần được xây dựng trên cơ sở đảm bảo những yêu cầu cơ bản như cây
trồng cần được cung cấp đầy đủ và kịp thời chất dinh dưỡng cần thiết cho
năng suất cao, phẩm chất tốt. Không ngừng ổn định và nâng cao độ phì của
đất, đem lại lợi nhuận tối đa cho người sản xuất trên cơ sở phối hợp tốt các
biện pháp kỹ thuật trồng, đồng thời phải phù hợp với điều kiện và trình độ sản
xuất hiện tại của người dân.
Nhiều nghiên cứu về phân bón cho sắn được thực hiện trên thế giới và
Việt Nam cho thấy cây sắn yêu cầu từ 50 – 200 kg N, 40 – 80 kg P205 và 80 –
160 kg K20 với tỷ lệ N:P:K là 2:1:2, 1,5:1:2 hoặc 1:1:2. Do vậy, để đạt được
năng suất và phẩm chất cao, đồng thời duy trì được độ phì của đất trồng sắn
cần xác định được tổ hợp phân bón thích hợp trên từng loại đất.
2.2. Tình hình sản xuất sắn trên thế giới và Việt Nam.
2.2.1. Tình hình sản xuất sắn trên thế giới.
Hiện nay sắn được trồng trên 100 quốc gia trong đó 64,8% được trồng
ở Châu Phi, Châu Á chiếm 21% và Châu Mỹ 14%. Mức tiêu thụ sắn bình
5
quân thế giới khoảng 18kg/người/năm. Sản lượng sắn của thế giới được tiêu
dùng trong nước khoảng 85% (lương thực 58%, thức ăn gia súc 28%, chế
biến công nghiệp 3%, hao hụt 11%), còn lại 15% (gần 30 triệu tấn) được xuất
khẩu dưới dạng sắn lát khô, sắn viên và tinh bột (CIAT, 1993). Sắn chiếm tỷ
trọng cao ở khu vực Châu Phi bình quân 96kg/người/năm do nhu cầu lương
thực ở cả dạng củ tươi và sản phẩm chế biến
Theo thống kê của FAO, tính đến năm 2016 diện tích trồng sắn trên thế
giới đạt 23,48 triệu ha, năng suất bình quân đạt 11,80 tấn/ha, sản lượng đạt
261,51
2014
23,21
11,82
274,33
2015
23,46
11,79
276,61
2016
23,48
11,80
277,10
Năm
(Nguồn : FAOSTAT, 3/2018) [26]
Số liệu bảng 2.1 cho thấy diện tích trồng sắn trên thế giới trong 5 năm
(tấn)
Châu Phi
17,006,222
9,25
157,271,697
Châu Á
4,182,958
21,34
89,269,132
Châu Mỹ
2,267,294
13,37
30,311,826
25,579
9,77
Đứng thứ 3 trên thế giới về diện tích và sản lượng sắn là châu Mỹ, năm
2016 diện tích trồng sắn châu lục này là 2,267,294 ha, với năng suất đạt 13,37
tấn/ha và sản lượng đạt 30,311,826 tấn.
Châu Đại Dương là châu lục có diện tích trồng sắn ít nhất (25,579 ha),
với năng suất sắn là 9,77 tấn/ha. Do vậy sản lượng sắn châu lục này đạt thấp
nhất thế giới năm 2016 là 249.909 nghìn tấn.
Chiến lược phát triển lương thực toàn cầu đã thực sự coi trọng giá trị
của cây sắn. Mặt khác, sắn lại là cây lương thực dễ trồng, thích hợp với nhiều
điều kiện kinh tế đặc biệt là có thể sinh trưởng và cho năng suất cao ở những
nơi đất nghèo dinh dưỡng, là cây trồng nông nghiệp có khả năng cạnh tranh
với nhiều cây công nghiệp khác.
Trên thế giới, sắn được trồng bởi những hộ nông dân sản xuất nhỏ để
làm lương thực – thực phẩm, thức ăn gia súc và để bán. Sắn chủ yếu được
trồng trên đất nghèo dinh dưỡng và kỹ thuật canh tác truyền thống. Mức tiêu
thụ sắn bình quân toàn thế giới khoảng 18 kg/người/năm. Sản lượng sắn
của thế giới được tiêu dùng trong nước khoảng 85% (lương thực 58%, thức
ăn gia súc 28%, chế biến công nghiệp 3%, hao hụt 11%), còn lại gần 15%
(gần 30 triệu tấn) được xuất khẩu dưới dạng sắn lát khô, sắn viên và tinh
bột (CIAT, 1993) [28].
Cây sắn tiếp tục giữ vai trò quan trọng trong nhiều nước châu Á, đặc
biệt là các nước Đông Nam Á nơi cây sắn có tổng diện tích đứng thứ 3 sau lúa
và ngô và tổng sản lượng đứng thứ ba lúa và mía. Chiều hướng sản xuất sắn
phụ thuộc vào khả năng cạnh tranh cây trồng. Giải pháp chính là tăng năng
suất sắn bằng cách áp dụng giống mới và các biện pháp kỹ thuật tiến bộ.
8
2.2.2 Tình hình sản xuất sắn tại Việt Nam.
Sắn là cây lương thực và thức ăn chăn nuôi quan trọng thứ ba sau ngô
9,757,681
2014
552,760
18,47
10,209,882
2015
567,988
18,91
10,740,000
2016
579,898
19,05
11,045,184
Năm
(Nguồn: FAOSTAT, 3/2018) [26]
Số liệu bảng 2.3 cho thấy sản xuất của Việt Nam tăng dần trong 5 năm
Cả nước
NS
(tấn/ha)
SL
(nghìn
tấn)
569,9
19,18
10,931,8
1,6
19,88
31,8
Trung du và miền núi phía Bắc
114,6
12,87
1,474,9
Bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung
Đồng Bằng sông Cửu Long
(Nguồn: MARD, sơ bộ 4/2018)[27]
Qua bảng 2.4 cho ta thấy: trong 7 vùng sinh thái nông nghiệp đều trồng sắn.
Trong đó vùng Đông Nam Bộ có diện tích sắn lớn nhất (187,8 nghìn ha), đứng
thứ 2 là vùng Bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung diện tích là 174,5 nghìn ha
kế đến là vùng Tây Nguyên có diện tích là 155,4 nghìn ha.
Về năng suất, vùng Đồng Bằng sông Cửu Long có năng suất cao nhất (239,2
tấn/ha), đứng thứ hai là vùng Đồng Bằng sông Hồng (198,8 tấn/ha), tiếp theo là
vùng Bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung (18,61 tấn/ha). Các tỉnh miền núi
phía bắc còn gặp nhiều khó khăn, điều kiện canh tác còn lạc hậu nên năng suất sắn
thấp nhất (12,87 tấn/ha). Do vùng này sắn được trồng chủ yếu ở khu vực có địa
hình đồi núi và khoảng 68% diện tích trồng sắn là đất đá và 12% có đất cát pha
10
tương ứng. Ở miền Nam sắn được trồng chủ yếu trên đất cát màu xám, các loại
đất này phẳng và nghèo chất dinh dưỡng, các khu vực ven biển miền Trung và
Đông Nam, chiếm khoảng 60% diện tích sắn toàn miền Nam.
Sắn và sản phẩm từ sắn là mặt hàng tăng trưởng nóng trong những năm
qua và phụ thuộc vào nhu cầu nhập khẩu của các nước, do vậy, nghề trồng
sắn dễ bị động nếu các thị trường giảm nhu cầu nhập khẩu. Hiện nay Trung
Quốc là thị trường nhập khẩu sắn và các sản phẩm từ sắn lớn nhất của Việt
Nam (chiếm 85%) tuy nhiên xuất khẩu sắn và sản phẩm sắn sang thị trường
Trung Quốc trong những năm gần đây ngày càng giảm. Do sự trì trệ của
ngành Ethanol tại Trung Quốc, các nhà máy sản xuất cồn tại đây đã đóng cửa
gần 70%, một số còn lại giảm công suất nên nhu cầu nhập khẩu sắn cũng sụt
giảm mạnh.
(nghìn tấn)
2012
3,8
14,68
55,8
2013
3,7
15,05
55,7
2014
3,7
14,75
54,6
2015
3,4
tinh bột cao. Nếu sắn trồng trên đất nghèo dinh dưỡng sức sinh trưởng yếu,
năng suất củ, năng suất sinh học và tỷ lệ tinh bột trong củ thấp, bón phân quá
nhiều dẫn đến thân lá phát triển nhiều, năng suất sinh vật học, năng suất củ
tươi giảm, chỉ số thu hoạch thấp. Cũng theo tác giả Howeler (1997) [15] nếu
12
cung cấp P, K vượt mức giới hạn cho phép sẽ ức chế đến sự hấp thụ dinh
dưỡng khác như Fe và Zn hoặc Ca, Mg làm cho sắn sinh trưởng phát triển
kém và năng suất củ giảm. Việc cung cấp dư thừa đạm dẫn đến cây sắn phát
triển nhất mạnh về thân lá, ẩm độ không khí của bộ lá cao, không bào lá lớn,
lá non hơn dẫn đến cây sắn dễ bị sâu bệnh phá hoại. Bón phân dư thừa sẽ làm
tăng giá thành sản xuất và đôi khi làm giảm năng suất dẫn đến hiệu quả kinh
tế thấp. Chính vì vậy duy trì việc cung cấp dinh dưỡng cân đối cho cây sắn là
rất cần thiết để đạt năng suất cao.
Tuỳ theo điều kiện đất đai, giống, thời gian thu hoạch mà trung bình một
tấn sắn củ tươi thu hoạch sẽ lấy đi của đất 4,1 kg K; 2,3 kg N; 0,6 kg Ca; 0,5
kg P và 0,3 kg Mg.
Theo tác giả Howeler (1999 ) [16] Để đạt năng suất 15 tấn củ tươi/ha,
cây sắn lấy đi lượng dinh dưỡng trung bình là 74kg N, 16kg P2O5, 87kg K2O,
27kg Ca, 12kg Mg. Tác giả Kanapaty (1974) [17] cho rằng để đạt được mức
năng suất củ tươi 20 tấn/ha thì cây sắn đã hấp thụ một lượng dinh dưỡng là
87kg N + 37kgP2O5 +177kg K2O + 35,1kg MgO.
Còn theo tác giả Anneke (2005) [18] cho rằng để đạt mức năng suất củ
tươi 20 tấn/ha thì cây sắn đã hấp thu một lượng dinh dưỡng là 87kg N, 37kg
P2O5, 177kg K2O, 35,1kg MgO.
Tác giả Duangpatra (1987) [19] cho biết đạm là nguyên tố quan trọng
nhất đối với sự sinh trưởng và phát triển của cây. Cây hấp thu lượng lớn N từ
đất nên bón đạm làm tăng số lá trên thân, số đốt, tăng năng suất củ, tuy nhiên
được cây hấp phụ nhiều nhất. Theo các kết quả nghiên cứu tại Clombia bón
K2O làm tăng năng suất sắn từ 23.0 lên 43.7 tấn/ha và có sự tương quan thuận
giữa năng suất và hàm lượng K2O chứa trong lá. Kết quả nghiên cứu của
Quinol và Amora (1987) [23] cho thấy trên đất độc canh sắn, nếu hàng năm
đều bón phân đầy đủ thì năng suất sắn sẽ không bị giảm.
Theo kết quả cyar Annke M.Fermont và cộng sự, (2005) [24], ở Kenya,
Uganda cho thấy mức phân bón 100 kgN + 22 kgP2O5 + 80 kgK2O)/ha là phù
hợp để cho năng suất từ 14,4 - 25,7 tấn/ha.
14
Nghiên cứu khác tại Châu Á đã chỉ ra rằng việc áp dụng phân khoáng
giúp tăng cường kiểm soát xói mòn giúp cho quá trình phủ xanh đất được
nhanh hơn bởi các tán cây. Việc bón phân cân đối N, P, K có thể làm tăng
năng suất lên 48% so với không bón phân. Mức bón phân dao động trong
khoảng: (100kgN + 50kg P2O5 + 100kg K2O)/ha; (60kgN + 60kg P2O5 +
120kg K2O)/ha ; (80kgN + 40kg P2O5 + 80kg K2O)/ha. Nghĩa là tỷ lệ bón
NPK là 2:1:2 và 2:2:4 để cho năng suất và tỷ lệ tinh bột cao, đồng thời có thể
duy trì được độ phì của đất. Công thức phân bón của tiến sĩ Lian thực hiện
trên đất than bùn ở Malaysia cho thấy công thức phân bón N, P, K thích hợp
cho sắn là 150 - 250kgN + 30kg P2O5 + 80 - 160kg K2O/ha.
Theo Anneke M.Fermont và cộng sự (2005) [25] ở Châu Phi cụ thể là ở
Kenya, Uganda mức bón [100kg N + 22kg P2O5 +80kg K2O]/ha là phù hợp để
cho năng suất từ 14,4 - 15,7 tấn/ha.
2.3.2. Một số kết quả nghiên cứu về phân bón cho sắn ở Việt Nam.
Sắn được trồng ở nhiều vùng miền trên cả nước, hầu hết các vùng trồng
sắn của nước ta đều là vùng đất bạc màu, đất nghèo dinh dưỡng và có độc tố
như chua, mặn, phèn. Sắn cũng được trồng trên đất dốc ở miền Bắc cho đến
đất cát xám ven biển miền Trung và đất phù sa nhiễm phèn vùng đồng bằng
bón cho đất trồng sắn trên đất phiến thạch sét và đất bazan nâu đỏ ở Đắc Lắc
cho thấy sắn đạt năng suất củ và hiệu quả kinh tế cao là 70kgN+ 50kg P2O5 +
100kg K2O /ha.
Trên đát xám ở miền Đông Nam Bộ công thức bón N, P, K thích hợp
cho sắn đạt năng suất củ và hiệu quả kinh tế cao là : (80kgN + 40kgP2O5 +
80kgK2O)/ha và (160kg N+80kg P2O5+160kg K2O)/ha. Người ta khuyến cáo
bón phân NPK với theo tỷ lệ 2:1:2 nếu phân nền là vôi, hay 3:1:3 nếu phân
nền là lân nung chảy hoặc super lân sẽ cho kết quả tốt.
Theo nghiên cứu của Nguyễn Thế Đặng, Thái Phiên và cộng sự (1994)
[10] cho thấy bón phân khoáng hợp lý cho sắn có tác dụng tốt đến việc cải thiện
đặc tính lý, hóa của đất cũng như nâng cao năng suất và hiệu quả kinh tế.
16
Một số công trình nghiên cứu tại miền Bắc Việt Nam trên đất đỏ vàng
của trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên và một số địa điểm khác trên
ruộng của nông dân cho rõ thấy phản ứng của cây sắn với N và K.
Trong các nguyên tố đa lượng K là yếu tố ảnh hưởng tới năng suất sắn.
Thí nghiệm bón N, P, K hàng năm trên đất đỏ vàng của trường Đại Học Nông
Lâm Thái Nguyên chỉ ra rằng nếu bón N, K mà thiếu P thì năng suất vẫn
cao,nhưng khi bón N, P mà không bón K thì năng suất giảm.
Hàng năm cây sắn đã lấy đi một lượng dinh dưỡng khá lớn so với các
cây trồng khác, sắn trồng với mật độ thưa và diện tích che phủ thấp làm tăng
quá trình rửa trôi, xói mòn đất dẫn đến sự cạn kiệt và mất cân đối nguồn dinh
dưỡng của cây trồng, do vậy cần phải áp dụng các biện pháp kỹ thuật bón
phân để duy trì sản suất bền vững.
Nhiều nghiên cứu của các tác giả khác nhau cho thấy bón phân hữu cơ
làm giảm dung trọng đất, tăng độ xốp, điều hòa được chế dộ nhiệt và ẩm độ
trong đất, dung tích hấp thụ của đất được cải thiện, nhờ đó khả năng trao đổi