TRƯỜNG ĐH KỸ THUẬT CÔNG NGHỆ
KHOA MÔI TRƯỜNG VÀ CÔNG NGHỆ SINH HỌC
ĐỔ ÁN TỐT NGHIỆP
GVHD: TS. NGUYỄN THỊ HAI
Mục lục
CHƯƠNG 1: MỞ ĐẦU................................................................................................3
1.1 Đặt vấn đề:..........................................................................................................3
1.2 Mục đích thực hiện đề tài:..................................................................................4
1.3 Đối tượng nghiên cứu.........................................................................................4
1.4 Giới hạn đề tài....................................................................................................4
CHƯƠNG II: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ CẦN NGHIÊN CỨU:.....................5
2.1 Tổng quan tìm hiểu về bệnh lỡ cổ rễ :.................................................................5
2.2. Tổng quan tìm hiểu về nấm Rhizoctonia solani gây bệnh cho cây trồng:.........5
2.3 Tình hình bệnh LCR trong và ngoài nước:.........................................................8
2.4 Nghiên cứu phòng trừ bệnh lỡ cổ rễ trong và ngoài nước:...............................10
2.4.1 Đối với thế giới:.........................................................................................10
2.4.2 Tình hình phòng bệnh lỡ cổ rễ ở trong nước:............................................12
2.5 Tổng quan tình hình trồng ngô và đậu xanh và cách phòng chống bệnh LCR ở
nước ta hiện nay:.....................................................................................................13
2.5.1 Tình hình trồng bắp:...................................................................................13
2.5.2 Tình hình bệnh LCR ở cây bắp và cách phòng chống bệnh LCR đối với
bắp:......................................................................................................................14
2.5.3 Tình hình trồng đậu xanh và việc phòng chống bệnh LCR hiện nay:........15
2.5.3.1 Tình hình của bệnh LCR trên đậu xanh:.................................................16
2.5.3.2 Cách phòng bệnh LCR ở nước ta:...........................................................16
2.6 Tổng quan về nấm Trichoderma :.....................................................................17
2.6.1 Đặc điểm của nấm Trichoderma:...............................................................17
2.6.2 Tìm năng của Trichoderma trong phòng trừ sinh học:..............................18
2.6.3 Vai trò của nấm Trichoderma trong việc phòng trị bệnh cây.....................27
4.2.2. Đối với cây đậu xanh:...............................................................................42
4.3. Hiệu lực trừ bệnh lở cổ rễ cây ngô và cây đậu xanh của nấm đối kháng
Trichoderma konigii................................................................................................44
4.4. Thời gian kéo dài hiệu lực của nấm Trichoderma konigii...............................46
CHƯƠNG V: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ..........................................................50
5.1 Kết luận:............................................................................................................50
5.2 Kiến nghị:..........................................................................................................50
CHƯƠNG 1: MỞ ĐẦU
1.1 Đặt vấn đề:
SVTH: Nguyễn Thị Ngọc Trân
Lớp: 05DSH _ MSSV:105111077
2
TRƯỜNG ĐH KỸ THUẬT CÔNG NGHỆ
KHOA MÔI TRƯỜNG VÀ CÔNG NGHỆ SINH HỌC
ĐỔ ÁN TỐT NGHIỆP
GVHD: TS. NGUYỄN THỊ HAI
Ngô và đậu đỗ là các loại cây trồng chính của Việt Nam. Trong nhiều
năm trở lại đây, diện tích trồng ngô liên tục phát triển do nhu cầu trong nước
tăng mạnh cộng với những tiến bộ về công tác chọn tạo giống. Chúng ta đã tạo
được những giống ngô, đậu kháng sâu nên thiệt hại do sâu không đáng kể. Tuy
nhiên, nấm bệnh vẫn là vấn đề nan giải cho cây ngô trong điều kiện ẩm độ cao
như ở nước ta. Trong đó, phổ biến là bệnh do nấm Rhizoctonia solanii. Bệnh
phát sinh ngay từ giai đoạn cây con và kéo dài cho tới khi cây đóng bắp, thu
hoạch. Ở nước ta nói chung và Đông Nam bộ nói riêng, ngô thường được
ĐỔ ÁN TỐT NGHIỆP
GVHD: TS. NGUYỄN THỊ HAI
thiên địch trên đồng ruộng, không ảnh hưởng đến các sinh vật có ích trong đất,
nước, đến môi trường và các loài động vật khác. Tuy nhiên, hiệu quả phòng trị
bệnh của Trichoderma có nhiều biến động tùy thuộc vào từng dòng nấm. Vì
vậy, việc chọn lọc và đánh giá các dòng Trichoderma để sử dụng phù hợp cho
từng loại bệnh là rất cần thiết. Hai dòng nấm 3 và 4 đã được phân lập tại Viện
Nghiên cứu Hạt Nhân Đà Lạt từ loài nấm Trichoderma konnigii và được sản
xuất thành chế phẩm tam nông Trichoderma Sản phẩm được khuyến cáo sử
dụng cho các loại cây ăn trái, bắp cải, hoa kiểng… nhưng chưa có số liệu về
hiệu quả phòng trừ đối với bệnh lở cổ rễ cây ngô và đậu.
Xuất phát từ nhu cầu trên, đề tài Đánh giá hiệu quả phòng trừ bệnh
lở cổ rễ trên cây ngô và đậu xanh của nấm Trichoderma konnigii được
tiến hành. Trong khuôn khổ thời gian có hạn, đề tài chỉ muốn cung cấp cho sản
xuất một số thông tin, góp một phần đẩy mạnh việc ứng dụng các thành tựu
của công nghệ sinh học, bảo vệ môi trường sống và nâng cao chất lượng cho
cuộc sống của cộng đồng.
1.2 Mục đích thực hiện đề tài:
Đánh giá mức độ ảnh hưởng của bệnh lỡ cổ rễ do nấm Rhizoctonia
solani trên cây bắp và cây đậu xanh.
Đánh giá hiệu quả phòng trừ bệnh của chế phẩm sinh học nấm
Trichodema konigii đối với bệnh lỡ cổ rễ do nấm Rhizoctonia solani .
1.3 Đối tượng nghiên cứu.
Đối tượng khảo nghiệm: bệnh lỡ cổ rễ do nấm Rhizoctonia solani gây
ra.
Đối tượng cân nghiên cứu đánh giá : nấm Trichoderma konigii
1.4 Giới hạn đề tài
trên ruộng sản xuất. Trong điều kiện thời tiết ẩm
ướt, ruộng thoát nước kém, một số nấm Pythium có
thể phát triển và gây hại các bộ phận phía trên
của cây như lá, hoa và quả.
Nấm Rhizoctia solani thường gây nên trong điều kiện
nhiệt độ trung bình là 25 – 29oC..
Tuy nhiên trong khn khổ đề tài xin nhấn mạnh đến bệnh LCR do nấm
Rhizoctonia solani gây ra…
2.2. Tổng quan tìm hiểu về nấm Rhizoctonia solani gây bệnh cho cây
trồng:
* Đặc điểm và triệu chứng gây hại:
Hình dạng của sợi nấm Rhizoctonia spp. rất đặc
trưng, đường kính sợi nấm từ 8-12,µm, khi sợi nấm còn
non thường không có màu nhưng khi già thì có màu
nâu đậm. Sợi nấm con mọc từ sợi
nấm bố mẹ
thường tạo thành góc 45-90 độ so với sợi nấm bố
mẹ và tại vò trí phân nhánh thường có một vách
ngăn và hơi thắt lại. Một số chủng nấm có khả
năng hình thành hạch nấm màu nâu, dẹt, không đònh
SVTH: Nguyễn Thị Ngọc Trân
Lớp: 05DSH _ MSSV:105111077
5
cây non, teo thắt thân, khô vằn và thối nhũn.
Vết bệnh ở cây non thường có màu nâu, thối
nhũng và teo thắt lại ở phần thân sát mặt đất và
dẫn tới hiện tượng cây bò đổ rạp trên đất được gọi
là lở cổ rễ cây con. Trên những cây già hơn vết
bệnh hóa gỗ rắn chắc và thắt lại tại phần thân
SVTH: Nguyễn Thị Ngọc Trân
Lớp: 05DSH _ MSSV:105111077
6
TRƯỜNG ĐH KỸ THUẬT CƠNG NGHỆ
KHOA MƠI TRƯỜNG VÀ CƠNG NGHỆ SINH HỌC
ĐỔ ÁN TỐT NGHIỆP
GVHD: TS. NGUYỄN THỊ HAI
tiếp giáp với mặt đất được gọi là hiện tượng teo
thắt thân.
Khi chúng gây bệnh trên lúa và bắp thì có những vết
chết loang lổ như hình vân mây trên phiến lá và bẹ
lá được gọi là bệnh khô vằn. Bệnh thường xuất
hiện khi cây đã lớn và đang đóng bắp.
Nấm này còn gây bệnh trên cây cải bắp và
xà lách gọi là bệnh thối ướt, vết bệnh lúc đầu là
vết lá chết màu nâu vàng ở các lá ngoài với các
sợi nấm màu trắng xám, sau đó vết bệnh lan rất
nhanh và gây thối toàn bắp. Khi trời ẩm trên vết
ĐỔ ÁN TỐT NGHIỆP
GVHD: TS. NGUYỄN THỊ HAI
của cây). Trong một số trường hợp, sợi nấm xâm
nhiễm qua mô chết hay qua các vết thương cơ giới
trên cây. Kết quả của quá trình xâm nhiễm làm cho
mô cây bệnh chuyển màu nâu hoặc thối và cây bò
đổi rạp xuống. Trong điều kiện thích hợp, triệu chứng
bệnh có thể xuất hiện từ 3 đến 7 ngày sau khi diễn ra
quá trình xâm nhiễm.
Rhizoctonia spp. có thể gây hại trên cây rau
quanh năm, nhưng phổ biến nhất là trong vụ Xuân. Tại
Việt Nam, nấm thường xuất hiện trên bắp cải, ngô
và các loại cây rau giống. Thời tiết nóng ẩm rất
thích hợp cho nấm phát triển.
Rễ và thân có thể bò nhiễm bệnh ở bất kỳ
lúc nào trong giao đoạn ẩm độ kéo dài. Bệnh thường
phát sinh và gây hại nặng nhất ở thời ký cây con.
Triệu chứng điển hình là những đốm chết hoại
màu nâu đỏ xuất hiện ở gốc thân, cổ rễ và
những rễ già. Những đốm này có thể phát triển
thành những đốm thối màu nâu đỏ, hơi lõm xuống
và đôi khi bò thắt nhỏ lại. Dưới những điều kiện
thuận lợi, chúng có thể phát triển rộng ra và ăn
sâu xuống. Trong điều kiện khô và gió, mô bệnh ở
thân và rễ trở nên khô, tóp lại, làm cho cây bò
héo và chết.
Lá của cây đậu tương cũng có thể bò nhiễm,
những đốm bệnh trên lá lúc đầu có dạng thấm
nước sau chuyển sang màu nâu xám đến nâu tối
USD/năm. Ngun nhân chính là do chi phí phòng trừ loại bệnh này rất cao,
sự quản lý chưa đúng phù hợp, sự hiểu biết và kỹ năng nhận biết bệnh của tiểu
điền còn hạn chế.Chính phủ đã hỗ trợ hướng dẫn kỹ thuật, cung cấp vốn (ở
mức thấp) và ngun liệu giúp nơng dân phòng trừ bệnh. Một nghiên cứu đánh
giá nữa ở Sri Lanka theo Catania (2001) có khoảng 116.000 ha trong đó diện
tích của tiểu điền cao su chiếm khỏang 65%, khỏang 5% diện tích bị nhiễm
bệnh LCR làm giảm tỷ lệ cây đứng và sản lượng của vườn cây, phòng trừ bệnh
rất tốn kém. Do nhiều lý do đã khiến mức độ bệnh ngày càng tăng gây ảnh
hưởng nghiêm trọng đến sản xuất.
- Ở Malaysia (theo nguồn Agriviet.com.,2008) thì bệnh lại xuất hiện
vào những vùng đất tái canh tác theo nghiên cứu vào năm 2000-2005 có
khoảng 80.000 ha được tái canh trước đó trồng bắp sau đó là trồng cây cải.
Hầu hết vùng tái canh thuộc tiểu điền và rất mẫn cảm với bệnh LCR. Sự xuất
hiện và phân bố của bệnh rễ nói chung chưa thể hiện rõ do yếu tố địa lý hay
SVTH: Nguyễn Thị Ngọc Trân
Lớp: 05DSH _ MSSV:105111077
9
TRƯỜNG ĐH KỸ THUẬT CÔNG NGHỆ
KHOA MÔI TRƯỜNG VÀ CÔNG NGHỆ SINH HỌC
ĐỔ ÁN TỐT NGHIỆP
GVHD: TS. NGUYỄN THỊ HAI
thổ nhưỡng. Tuy nhiên mức độ ảnh hưởng phụ thuộc nhiều vào việc vệ sinh
đồng ruộng và thu gom tất cả rễ nhiễm bệnh ra ngoài.
- Tại Thái Lan thì nghiên cứu về bệnh lõ cổ rể do Hatpacha Riakat
(2000-2002) nói rằng tổng diện tích cao su khoảng 2 triệu ha, trong đó 95 %
TRƯỜNG ĐH KỸ THUẬT CÔNG NGHỆ
KHOA MÔI TRƯỜNG VÀ CÔNG NGHỆ SINH HỌC
ĐỔ ÁN TỐT NGHIỆP
GVHD: TS. NGUYỄN THỊ HAI
thời kỳ sinh trưởng của cây nhưng chủ yếu là vào thời ký cây con gây thiệt hại
lớn cho nguồn nông sản nước ta (theo Võ Thị Thu Oanh ,2000).
2.4 Nghiên cứu phòng trừ bệnh lỡ cổ rễ trong và ngoài nước:
2.4.1 Đối với thế giới:
Những nghiên cứu tại Philippin (2002-2005) (nguồn Agriviet.com.
2008) cho thấy rằng chính phủ tại đây đã tiêu tốn rất nhiều cho việc phòng trừ
bệnh LCR, bệnh làm cho sản lượng cao su ở đây giảm sút nặng nề. Tuy nhiên
việc phòng trừ nó lại rất lỏng lẻo bởi vì chỉ khuyế khích sử dụng thuốc hóa học
bởi lẽ kết quả phòng trừ chúng rất nhanh nhưng bênh cạnh đó chế độ luân canh
liến tục và việc chăm sóc giống tại đây nghiêm ngăt vì thế mà bệnh đã có phần
thuyên giảm mặc dù luôn luôn tái phát. Những thuốc hóa học thường được phổ
biến dùng là: Alvince50, phun Bayfidan 250EC, Folicur 250EW…
- Còn tại Thailan, Dasseco Meka (2006) cho biết chính phủ tại đây lại
khuyến khích nhân dân sử dụng các chế phẩm sinh học để giúp bảo vệ mối
trường và an toàn thực phẩm cho người dân đồng thời có thể triệt bệnh lâu dài,
tận gốc. theo thống kê vào năm 2006 thì việc sử dụng chế phẩm sinh học
Trichoderma spp. là 85.7%
- Đối với Ada Viterbo và Ilan Chet ở Viện khoa học Weizmann, Ixraen
(2009) tại các nước Châu Phi phân tích rằng Trichoderma là loại nấm có mặt
trong hầu hết các loại đất nông nghiệp. Chúng có khả năng kiềm chế các loại
nấm khác phát triển, và trở thành đồng minh quan trọng, giúp cây trồng chống
lại các loại nấm gây bệnh. Nấm Trichoderma đã được sử dụng để kiểm soát
Một trong số giải pháp tình thế mà Quỹ Nông nghiệp Hondurat (HARF) hiện
đang đưa ra đó là việc tạo ra một giống chuối mới lai tạo chịu được sâu
bệnh..Giải pháp tăng cường gen được coi là "ứng cử viên" sáng giá cho dự án
này, lý do nhờ sự can thiệp con người, nhất là công sức gieo trồng người ta sẽ
tạo ra được những giống chuối mới chịu được sâu bệnh. Tuy nhiên kĩ thuật
truyền gen cũng có những mặt hạn chế khác đó là việc gây lan truyền những
gen đã tăng cường sang các loại cây trồng khác hay nói vắn tắt là có thể gây
độc hại cho các loại cây trồng xung quanh. Chính vì thế giải pháp dùng chế
phẩm sinh học đang là một vấn đề thiết yếu và an toàn nhất trong thời diểm
hiện nay. Theo nguồn Agriviet.com.(2008).
2.4.2 Tình hình phòng bệnh lỡ cổ rễ ở trong nước:
Tại các tỉnh hoặc thành phố trong cả nước khi gieo trồng các loại cây
dù là cây kiểng hoặc cây hoa màu thì đều gặp tình trạng bệnh lỡ cổ rễ xuất
hiện chính vì lẽ đó mà theo những chuyên gia trong Cục Bảo Vệ Thực Vật
( Sở Khoa Học Và Đời Sống, tỉnh Vĩnh Long,2006) thường định hướng cho
SVTH: Nguyễn Thị Ngọc Trân
Lớp: 05DSH _ MSSV:105111077
12
TRƯỜNG ĐH KỸ THUẬT CÔNG NGHỆ
KHOA MÔI TRƯỜNG VÀ CÔNG NGHỆ SINH HỌC
ĐỔ ÁN TỐT NGHIỆP
GVHD: TS. NGUYỄN THỊ HAI
người dân bằng nhiều biện pháp bảo vệ tốt cho cây trồng khỏi mắc bệnh theo
TRƯỜNG ĐH KỸ THUẬT CÔNG NGHỆ
KHOA MÔI TRƯỜNG VÀ CÔNG NGHỆ SINH HỌC
ĐỔ ÁN TỐT NGHIỆP
GVHD: TS. NGUYỄN THỊ HAI
Ngô đã đưa vào Việt Nam vào khoảng 300 năm trước ( Ngô Hữu Thịnh
1997). Ngô là cây lương thực quan trong đứng thứ hai sau lúa. Nó cũng là một
cây trồng hết sức có ý nghĩa cho sự phát triển chăn nuôi. Ở nước ta, bắp được
trồng gân như khắp cả nước.
Ở Việt nam có 8 vùng sản xuất ngô chính:
Ngô cung cấp nhiều năng lượng và hàm lượng protide, lipide cao hơn
nhiều so với gạo và khoai lang. Vì bắp có giá trị dinh dưỡng cao nên làm
lương thực cho người. Tất cả các nước trồng bắp nói trên đều đều ăn ngô ở
mức độ khác nhau. Các nước Trung Mỹ , Nam Á và Châu Phi lấy ngô làm
lương thực chính. Các nước Nam Phi sử dụng 95% làm lương thực cho người,
Tây Trung Phi là 80%, Bắc Phi là 42%, Nam Mỹ là 12%, các nước thị trường
đang phát triển là 14%...
Cả thế giới sử dụng khoảng 111224062 tấn ngô làm lương thực hằng
năm (1999). Một số nước có sử dụng lớn như Trungquốc (22975805 tấn) ,
Mexice (12495139 tấn).. Tính trên bình quân đầu người, ở một số nước dùng
ngô làm lương thực chính
với số lượng lớn (1999) như Lesotho
(116,2kg/năm), Nam Phi (98.8kg/ng/năm).
Ngô là một trong những cây trồng có khả năng cơ giới hóa cao. Hiện
nay, ở các nước đang tiên tiến cứ 30 phút lao động có thể sản xuất ra 100kg hạt
nguồn: Bảo vệ Thực vật, 2002, Số 1, tr.32). Vì thế mà người dân được khuyến
khích dùng các chế phẩm có nguồn gốc là nấm đối kháng Trichoderma spp.
Bên cạnh đó còn những biện pháp sau:
+ Trồng đúng mật độ và bón phân cân đối.
SVTH: Nguyễn Thị Ngọc Trân
Lớp: 05DSH _ MSSV:105111077
15
TRƯỜNG ĐH KỸ THUẬT CÔNG NGHỆ
KHOA MÔI TRƯỜNG VÀ CÔNG NGHỆ SINH HỌC
ĐỔ ÁN TỐT NGHIỆP
GVHD: TS. NGUYỄN THỊ HAI
+ Vệ sinh đồng ruộng và phòng trừ cỏ dại.
+ Xử lý hạt giống bằng Falinlixan hay Rovral (2-3kg hạt)
+ Phun thuốc Validacin, Anvril 5% hay tilt ( nồng độ 1/500),
Moncerin(08kg/hạt), …
2.5.3 Tình hình trồng đậu xanh và việc phòng chống bệnh LCR hiện
nay:
Do có thời gian sinh trưởng ngắn 60-70 ngày nên đậu xanh được sử
dụng nhiều trong các mô hình luân canh, xen canh ở miền Nam. Hiện nay
năng suất đậu xanh trung bình còn thấp, khoảng 0,5 - 0,7 tấn/ha, do các
nguyên nhân sau:
1. Nhiều giống hiện trồng mặc dù năng suất khá nhưng do tính ổn định
chưa cao, sức biến động khá lớn giữa các miền, các vùng.
2. Khả năng kháng sâu bệnh của các giống đang trồng rất thấp.
Biểu hiện đặc trưng nhất của triệu chứng bệnh là rễ và gốc thân sát mặt
đất bị thâm đen, thối mục, gây bệnh héo chết cây đỗ gục xuống ruộng .
Ban đầu vết bệnh chỉ là một chấm nhỏ màu đen ở gốc thân, cổ rễ sau
đó lan rộng ra gốc thân và bọc quanh cổ rễ. bộ phận bị bệnh thì thối mục, màu
đen ủng nước hoặc hơi khô, cổ rễ bị héo tóp, bộ phận lá thân bị heo rũ nhưng
vẫn giữ được màu xanh ở lá. 5-6 ngày bị héo rũ và chết hàng loạt trên đồng
ruộng, để lại từng chòm vạt trống khuyết cây.
Khi gặp ẩm độ cao, nơi vết bệnh xuất hiện những hạch nấm màu nâu
đen trên các đám trơ nấm màu trắng .
Nguyên nhân bệnh là do cá loại nấm như Fusarium solani, Rhizoctonia
solani …
2.5.3.2 Cách phòng bệnh LCR ở nước ta:
Theo thạc sĩ Võ Thị Thu Oanh (2000) thì biện pháp phòng tốt nhất đối
với cây họ đậu là :
+ Thực hiện luân canh với cây họ hòa hảo như lúa nước nhằm hạn chế
bệnh tồn tại trong đất từ 2 đến 3 năm .
+ Áp dụng đúng các kỹ thuật canh tác từ khi gieo hạt đến lúc thu hoạch,
cày bừa kỹ, để ải khô, bón vôi để tiêu hủy tàn dư cây bệnh
+ Chọn giống tốt có sức nảy cao, gieo hạt đúng thời vụ tránh bị mưa
going, gieo hạt quá sâu. Sau khi mưa cần phá váng, xới xáo kịp thời, vun
luống cao tránh để ứ đọng nước, chú ý bón lót vôi và bón thúc sớm bằng phân
lân và phân kali.
+ Mật độ trồng không quá dày.
+ Nên xử lí hạt giống trước khi gieo bằng các loại thuốc Rovral 50WP,
Viben C 50WP, Ridomil MZ 72…có thể xử lý ướt.
SVTH: Nguyễn Thị Ngọc Trân
Lớp: 05DSH _ MSSV:105111077
17
Lớp
:
Deuteromycetes
Bộ
:
Moniliales
Họ
:
Moniliaceae
Giống :
SVTH: Nguyễn Thị Ngọc Trân
Lớp: 05DSH _ MSSV:105111077
Trichoderma spp
18
TRƯỜNG ĐH KỸ THUẬT CÔNG NGHỆ
KHOA MÔI TRƯỜNG VÀ CÔNG NGHỆ SINH HỌC
SVTH: Nguyễn Thị Ngọc Trân
Lớp: 05DSH _ MSSV:105111077
19
TRƯỜNG ĐH KỸ THUẬT CÔNG NGHỆ
KHOA MÔI TRƯỜNG VÀ CÔNG NGHỆ SINH HỌC
ĐỔ ÁN TỐT NGHIỆP
GVHD: TS. NGUYỄN THỊ HAI
còn có trong đất (Hubbard và các công tác viên,1983). Trichoderma có khả
năng khuếch tán tính độc của nấm trong phòng thí nghiệm kể các chất hữu cơ
trong đất cũng như khả năng kéo dài phòng trừ sinh học của Trichoderma.
Ngoài ra, khả năng thứ 2 của nấm Trochoderma là kháng nấm. T.
hamatum có nhiều trong đất ở vùng Colombia có khả năng năn chặn nấm
R.solani (Chet và Baker,1980-1981) và T. hamatum có nhiều khi phân lập từ
đất tại mexico có khả năng ngăn chặn nhiều loại nấm đất (Lumsden,1977).
Dưới nhiệt độ phóng xạ gamma không thể tiêu diệt được nấm này ( Naelson và
các công tác Vein,1983), đậy là vai trò của Trichoderma trong phòng trừ sinh
học.
Khả năng ngăn cản các loài nấm trong đất của đất, đặc biệt là R.solani ,
Pythium spp. có liên quan đến nấm Trichoderma, đã thành công và được công
bố rộng rãi là vấn đề được nghiên cứu trong nhiều năm nay. Các tài liệu Baker
(1974,1980) của Barret và các cộng tác viên (1974) , của Cook và Baker
(1983) đều công bố khả năng này của Trichoderma.
2.6.2.2 Tính kháng của Trichoderma trong đất:
Đây là mật vấn nóng và hấp dẫn được nhiều chuyên gia nghiên cứu
trong những năm gần đây. Phòng trừ sinh học bằng cách thêm một số lượng
cao . Khi cấy T.harzianum dạng viên hưu cơ vào môi trường nhiều dinh dưỡng
, làm tăng quần thể Pytium, hậu quả là bệnh phát triển trong vườn dây leo
(Moody và Gindrat, 1977). Bệnh chết rạp xảy ra khi thêm Trichoderma dạng
viên vào trước khi gieo hạt dưa leo.
2.6.2.3 Bào tử nấm Trichoderma trong đất:
Với các bào tử phân sinh trần, phương pháp xử lý bằng khử trùng xông
hơi hay bay hơi trên đất làm tăng số lượng bào tử trong đất . thí nghiệm phòng
trừ bệnh Fusarium trên cây hoa cúc đã được ghi nhận gần đây thêm vào đất
dung dịch T. viride kháng thuốc Benomyl. Sử dụng nồng độ 10 4 bào tử/ cm2
dòng nấm này trộn vào đất sau khi dược khử trùng bằng hơi nước (82 0C trong
2 giờ), số bào tử của dòng nấm này tăng rất nhanh, nấm gây bệnh cây, không
xâm nhập lại vào đất.
Các nghiên cứu gần đây (Beagle,1984; Papaviza và Lewis,1983) chỉ ra
rằng sản phẩm của phương pháp lên men như dạng bột, bùn than hoặc dạng
viên khi cấy vào trong đất không những tăng nhanh số lượng mà còn ngăn
cản bệnh hiệu quả hơn là dùng bào tử trần. dạng viên của sản phẩm lên men
của T.hamatum, T.haraiam, T.virde, có khả năng làm giảm sự sống sót và sinh
trưởng của Rhizoctonia solani trong đất. Cách sử dụng phương pháp lên nấm
chắc chắn có ảnh hưởng lớn đến thời gian sống sót của bào tử và nhân sinh
khối trong trong đất và tiềm năng phòng trừ sinh học. Dù vậy phương pháp lên
men sẽ được sử dụng và cải tiến nhiều trong tương lai cho việc sử dụng nấm
kháng trong phòng trừ sinh học.
SVTH: Nguyễn Thị Ngọc Trân
Lớp: 05DSH _ MSSV:105111077
21
TRƯỜNG ĐH KỸ THUẬT CÔNG NGHỆ
KHOA MÔI TRƯỜNG VÀ CÔNG NGHỆ SINH HỌC
Trichoderma từ thành phần nuôi trồng không liên quan đến loại đất.
Thiết lập quần thể tại vùng rễ cây: Trichoderma được phân lập tại vùng
rễ cây chính vì thế chúng có thể dùng vào việc phòng trừ sinh học đối với bệnh
SVTH: Nguyễn Thị Ngọc Trân
Lớp: 05DSH _ MSSV:105111077
22
TRƯỜNG ĐH KỸ THUẬT CÔNG NGHỆ
KHOA MÔI TRƯỜNG VÀ CÔNG NGHỆ SINH HỌC
ĐỔ ÁN TỐT NGHIỆP
GVHD: TS. NGUYỄN THỊ HAI
ở vùng rễ cây. Hiệu quả của Trichoderma không chỉ xử lý hạt phát triển nhanh
xung quanh hệ rễ tạo các bào tử xâm nhiễm cây trồng. Nếu Trichoderma được
cây vào trong đất để ngăn bệnh cho cây trồng thì bắt buộc phải cấy theo bề mặt
rễ cây. Trichoderma có khả năng trong việc phòng chống bệnh thốii rễ cây, hạt
và bệnh cây chết non. Quan sát bào tử trên vùng rễ cây gồ: rễ, vỏ hạt bị thối và
lá mầm, số lượng bào tử trên mỗi gram đất luôn luôn ít . Chao, Harama và
Nelson (1983) cho biết Trichoderma ít thiết lập quần thể hay ít di chuyển vào
vùng rễ cây . Ngược lại, số lượng bào tử tìm thấy nhiều trên lá mầm , đậu bị
thối, vỏ hạt giống kể cả mẫu bệnh xung quanh rễ.
2.6.2.5 Khả năng đối kháng của nấm Trichoderma:
Nấm đối kháng là những thành viên quan trọng trong hệ vi sinh vật
( Pomch và công tác viên, 1920). Chúng thường tiết ra các men kháng sinh gây
độc đối với các nâm gây bệnh hoặc nấm kháng cạnh tranh điều kiện sống với
các nấm gây bệnh. Sự phân biệt của chúng dựa vào điều kiện địa lý, tình trạng
đất , dinh dưỡng và các điều kiện về sinh trưởng và phát triển và thảm thực vật
TRƯỜNG ĐH KỸ THUẬT CÔNG NGHỆ
KHOA MÔI TRƯỜNG VÀ CÔNG NGHỆ SINH HỌC
ĐỔ ÁN TỐT NGHIỆP
GVHD: TS. NGUYỄN THỊ HAI
(2) sau sự bao quanh, sợi nấm trichoderma thắt chặt đấn các sợi nấm
gây bệnh,
(3) cuối cùng sợi nấm Trichoderma đâm xuyên qua các sợi nấm gây
bệnh làm cho chất nguyên sinh trong nấm gây bệnh bị phân hủy dẫn đến nấm
bệnh bị chết. Sau này khi quan sát dưới kính hiể vi thì hiện tượng trên được
mô tả như sau: tại những điểm nấm Trichodrma tiếp xúc với nấm gây bệnh đã
làm cho nấm gây bệnh teo lại và bị chết ( Dubey,1995). Ngược lại ở những chỗ
nấm không tiếm xúc với nâm gây bệnh thì nấm vẫn chết mặc dù không tiếp
xúc với Trichoderma. Từ đó Agrowcal và các cộng sự (1979,1996) đã khẳng
định rằng Trichoderma có khả năng tiết ra chất gây độc làm chết các loại nấm
gây bệnh.
2.6.2.6 Các hệ enzyme trao đổi của Trichoderma
Trichoderma có thể sinh rất nhiều loại enzyme ngoại bào như chitinase,
glucanase, xylase, lipase, pectinase, cellulase, protease, … để phân hủy xác
thực vật và tế bào nấm bệnh trong đời sống hoại sinh và ký sinh của chúng.
Sau đây là một số hệ enzyme điển hình ở Trichoderma.
Hệ enzyme cellulase:
Cellulose là chất trùng hợp với tiểu đơn vị là D-glucose nối nhau bởi
liên kết beta-1,4-glycosidic, cellulose được sử dụng như một nguồn năng
lượng carbon ở rất nhiều vi sinh vật tiết ra cellulase.
Hệ enzyme cellulase ở Trichoderma spp được phân thành ba lớp:
Beta-1,4-D-glucanase (cellobiohydrolase) giải phóng đơn vị cellobiosyl
từ chuỗi cellulose.
Chitin là chất rắn vô định hình, không tan trong nước và hầu hết các
acid, alcol, dung môi hữu cơ khác. Tuy nhiên, chitin có thể bị thủy giải bởi
acid vô cơ mạnh (HCl đậm đặc) hoặc bằng enzyme vi sinh vật.
Enzyme chitinase l thủy giải chitin, chitinase xúc tác cắt liên kết C1 và
C4 của 2 đơn vị: beta-1,4-N-acetylglucosamine (GlcNac). Hệ enzyme
chitinase được phân thành 3 lớp (Sahai và Manocha, 1992):
Chitobiosidase: enzyme này giải phóng đơn vị diacetylchitobiose.
Endochitinase: phân cắt liên kết bền trong cấu trúc chitin ở vị trí bất kì,
phóng thích các loại đường đa như chitotetraose, chitotriose, diacet lchitobi- ose; endochitinase được cho là có vai trò quan trọng trong quá trình kí sinh
nấm.
Beta-1,4-N-acetylglucosaminedase: phân cắt chitotetraose, chitotriose,
diacetylchitobiose thành GlcNac monomer.
Glucosamine là sản phẩm phân giải cuối cùng, glucosamine là một
đường khử có nhóm amin tự do nên vừa có đặc tính của hexo monosaccharide
vừa mang đặc tính của nhóm amino.
Người ta đã tinh chế được rất nhiều enzyme chitinase, trong đó phổ biến
nhất là endochitinase có kích thước 42 kDa, sau đó là N-acetyl-b-DSVTH: Nguyễn Thị Ngọc Trân
Lớp: 05DSH _ MSSV:105111077
25