MỤC LỤC
Nội dung
Trang
1. PHẦN MỞ ĐẦU
1.1. Lý do chọn đề tài
1.2. Mục đích nghiên cứu
1.3. Đối tượng nghiên cứu
1.4. Phương pháp nghiên cứu
2. PHẦN NỘI DUNG
2.1. Cơ sở lí luận
2.2. Thực trạng
2.2.1. Nguyên nhân
2.2.2. Đánh giá thực trạng
2.3. Một số giải pháp.
2.3.1. Đánh giá học sinh thường xuyên.
2.3.2. Luyện cho học sinh thuộc bảng cộng, trừ, nhân, chia.
2.3.3. Giúp học sinh sử dụng các thuật ngữ toán học để viết lời giải
chính xác, khoa học.
2.3.4. Hướng dẫn giải toán có lời văn.
2.3.5. Rèn luyện kĩ năng học tập:
8
9
12
2.3.6.Thiết kế dạng bài tập vừa sức, phù hợp với học sinh chưa đạt
chuẩn kiến thức, kĩ năng.
12
0
1.
PHẦN MỞ ĐẦU
1.1. Lý do chọn đề tài :
- Nhằm thực hiện đúng nội dung, tinh thần của cuộc vận động “Hai không”
mà đặc biệt là nội dung “không để HS ngồi nhầm lớp”, góp phần nâng cao chất
lượng giáo dục, giảm dần số HS yếu, đáp ứng nhu cầu giáo dục trong giai đoạn
hiện nay. Trong thực tế giảng dạy giáo viên gặp rất nhiều khó khăn, lúng túng
trong phụ đạo HS chưa hoàn thành các môn học, do thiếu kinh nghiệm và thực
hiện không đúng quy trình, hoặc quá nôn nóng muốn có ngay kết quả, nên
thường thất bại hoặc đạt kết quả không cao.
- Nhằm tập hợp kinh nghiệm, xây dựng quy trình phụ đạo, giúp giáo viên
có định hướng và giải pháp phụ đạo tốt hơn, có hiệu quả hơn. Nhằm chia sẽ các
kinh nghiệm giáo dục HS chưa hoàn thành các môn học với quý đồng nghiệp và
tổng hợp nhiều hơn các giải pháp có thể áp dụng vào giảng dạy, tháo gở khó
khăn trong công tác phụ đạo HS chưa hoàn thành các môn học trong giai đoạn
hiện nay.
Muốn học sinh Tiểu học học tốt được môn Toán thì mỗi người Giáo viên
không phải chỉ truyền đạt, giảng giải theo các tài liệu đã có sẵn trong Sách giáo
khoa, trong các sách hướng dẫn và thiết kế bài giảng một cách rập khuôn, máy
móc làm cho học sinh học tập một cách thụ động. Nếu chỉ dạy học như vậy thì
việc học tập của học sinh sẽ diễn ra thật đơn điệu, tẻ nhạt và kết quả học tập sẽ
không cao. Nó là một trong những nguyên nhân gây ra cản trở việc đào tạo các
em thành những con người năng động, tự tin, sáng tạo sẵn sàng thích ứng với
những đổi mới diễn ra hàng ngày. . Trong thực tế hiện nay đòi hỏi phải nâng
cao chất lượng học tập cho học sinh nhất là bậc tiểu học, bởi vì tiểu học là bậc
thức, trí tuệ, tư duy độc lập sáng tạo, có tư tưởng, tình cảm và thái độ đúng đắn
với sự kiện, hiện tượng thực tiễn, chống hiện tượng học sinh lưu ban, học sinh
bỏ học hay sợ học khi chưa hoàn thành môn học. Giúp các em trở nên ham học
hơn, nó sẽ là những công cụ cần thiết để các em học các môn học khác và tiếp
tục học lên các lớp trên.
1.3. Đối tượng nghiên cứu:
- Nghiên cứu các phương pháp dạy học Toán 3.
- Một số biện pháp phụ đạo học sinh chưa hoàn thành môn toán lớp 3.
- HS lớp 3B Trường Tiểu học Đông Vệ 2 chưa hoàn thành môn Toán.
1.4. Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp đàm thoại, trao đổi kinh nghiệm với đồng nghiệp với học
sinh lớp 3B.
- Phương pháp quan sát.
- Phương pháp điều tra.
- Phương pháp thực hành luyện tập.
- Phương pháp tổng hợp.
2. PHẦN NỘI DUNG
2.1. Cơ sở lí luận:
Năm học 2017-2018 là năm học tiếp tục thực hiện Thông tư 22 sửa đổi, bổ
sung một số điều của quy định đánh giá học sinh tiểu học ban hành kèm theo
thông tư số 30/2014/ TT-BGDĐT ngày 28 tháng 8 năm 2014 của bộ trưởng bộ
giáo dục và đào tạo. Việc đánh giá học sinh về Năng lực ở các mức: Hoàn
thành tốt; Hoàn thành và chưa hoàn thành. Về phẩm chất: Tốt, Đạt và Cần cố
gắng, đã phần nào giúp học sinh tự học, tự điều chỉnh cách học; giao tiếp, hợp
tác; có hứng thú học tập và rèn luyện để tiến bộ. Đối với giáo viên, việc điều
chỉnh, đổi mới phương pháp, hình thức tổ chức hoạt động dạy học, ...kịp thời
phát hiện những cố gắng, tiến bộ của học sinh để động viên, khích lệ và phát hiện
những khó khăn chưa thể tự vượt qua của học sinh để hướng dẫn, giúp đỡ học
sinh, có giải pháp kịp thời nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động học
tập, rèn luyện của học sinh là vô cùng quan trọng.
tự khám phá kiến thức khi dạy học môn toán chưa cao.
- Học sinh chưa nắm chắc cách đặt tính và thực hiện phép tính cũng như
giải toán có lời văn.
- Trong tiết dạy - học toán giáo viên ít tổ chức trò chơi trong học tập nên
tiết học gò bó, căng thẳng
2.2.2. Đánh giá thực trạng
* Thực trạng từ phía học sinh:
- Qua quá trình tìm hiểu và từ thực tế dạy học của mình, tôi thấy những
học sinh được xếp vào học lực chưa hoàn thành môn Toán 3, phần lớn có nhiều
lỗ hổng về kiến thức, kĩ năng. Có khá nhiều lí do dẫn đến học sinh có kết quả
môn Toán hạn chế như: chưa nắm chắc kiến thức ở lớp dưới (chưa thuộc bảng
nhân, bảng chia ,cộng trừ nhẩm còn chậm...; khả năng tiếp thu kiến thức, năng
lực tư duy yếu; khả năng phân tích tổng hợp, so sánh còn hạn chế, lười học tập,
suy nghĩ; việc chú ý và tập trung vào bài giảng của giáo viên không bền; một
số em lại học vẹt, không có khả năng vận dụng kiến thức để thực hành tính, kĩ
năng giải toán; một số em cũng chưa được sự quan tâm của gia đình, người
thân, đi học thiếu sách vở, đồ dùng học tập do bố mẹ đi làm ăn xa hoặc hoàn
cảnh gia đình đặc biệt.
- Qua thực tế giảng dạy, tôi thấy rằng các đối tượng học sinh chưa hoàn
thành môn Toán lớp 3 thường không thực hiện được kĩ năng tính, nhất là gặp rất
nhiều khó khăn khi nhân (chia) với (cho) số có nhiều chữ số, hay lẫn dạng và
3
chưa phân được cách giải các dạng toán có lời văn mới được dạy trong chương
trình (Toán Rút về đơn vị (dạng 1: có một phép nhân và một phép chia; dạng 2:
có hai phép chia), Toán về Tìm một phần mấy của một số ….), việc nhận dạng
các hình hình học hay kĩ năng chuyển đổi các đơn vị đo lường còn chậm...
- Học sinh chưa chú ý tập trung còn hay mất trật tự, làm việc riêng trong
giờ học. Không luyện tập thực hành khi giáo viên giao bài về nhà.
Hoàn thành
Chưa Hoàn thành
SL
TL
SL
TL
SL
TL
10
27,1%
18
48,6%
9
24,3%
* Dự giờ đồng nghiệp 2 tiết:
Bài: Cộng các số có ba chữ số(có nhớ 1 lần)
học sinh nhằm hỗ trợ, điều chỉnh kịp thời, thúc đẩy sự tiến bộ của học sinh theo
mục tiêu giáo dục tiểu học.
* Đánh giá thường xuyên về học tập:
- Giáo viên dùng lời nói chỉ ra cho học sinh biết được chỗ đúng, chưa đúng
và cách sửa chữa; viết nhận xét vào vở hoặc sản phẩm học tập của học sinh khi
cần thiết, có biện pháp cụ thể giúp đỡ kịp thời.
- Học sinh tự nhận xét và tham gia nhận xét sản phẩm học tập của bạn,
nhóm bạn trong quá trình thực hiện các nhiệm vụ học tập để học và làm tốt hơn.
- Khuyến khích cha mẹ học sinh trao đổi với giáo viên về các nhận xét,
đánh giá học sinh bằng các hình thức phù hợp và phối hợp với giáo viên động
viên, giúp đỡ học sinh học tập, rèn luyện.
2.3.2. Luyện cho học sinh thuộc bảng cộng, trừ, nhân, chia.
- Được phân công giảng dạy lớp 3, theo tôi nghĩ, học sinh học tốt môn toán
thì không thể không luyện cho học sinh học thuộc bảng nhân, chia. Bởi lẽ học
sinh có thuộc bảng nhân, chia mới vận dụng giải các bài tập có liên quan. Đặc
biệt là các phép chia có số bị chia 3, 4 chữ số và giải toán hợp.
5
- Để luyện cho học sinh thuộc và khắc sâu các bảng nhân, chia tôi làm như
sau:
+ Khi dạy tôi hướng dẫn học sinh lập được bảng nhân, chia và tôi chốt lại
cho học sinh nắm sâu hơn và dễ nhớ hơn như sau:
Ví dụ: Bảng nhân.
* Các thừa số thứ nhất trong bảng nhân đều bằng nhau.
* Các thừa số thứ hai trong bảng nhân đều khác nhau theo thứ tự là 1, 2, 3,
4, 5, 6, 7, 8, 9, 10. Mỗi thừa số này liền nhau hơn kém nhau 1 đơn vị. ( trong
bảng nhân các thừa số thứ hai nhỏ nhất là 1, lớn nhất là 10 không có thừa số
0).
* Các tích cũng khác nhau và mỗi tích liền nhau hơn kém nhau bằng thừa
6 �8 = ............
42 : 7 = .............
64 : 8 = ............
54 : 6 = ...........
36 : 4 = .................
.Bài 2: Đặt tính rồi tính
6
a,
c,
589 + 72
b, 157 - 78
268 �7
d,
384 : 7
Để thực hiện tốt kĩ năng tính ở chương trình Toán 3, học sinh cần
phải làm được các bài tập trên, bởi nếu không thuộc bảng nhân, chia,
không trừ nhẩm được hay chưa có kĩ năng nhân (chia) thì hậu quả
kéo theo là các em sẽ không thể nhân (chia)
* Để tạo hứng thú trong học tập và khắc sâu kiến thức, tôi còn cho học sinh
chơi trò chơi.
- Để giờ học thêm sinh động và đạt hiệu quả, trò chơi được sử dụng
trong tiết học toán như một hình thức “ Học mà chơi, chơi mà học”.
Thông qua trò chơi học sinh được củng cố lại những kiến thức vừa học
một cách tự nhiên, rất hào hứng sôi nổi không khí lớp học tránh được sự gò bó,
căng thẳng.
Ví dụ: Đối với bài tập 4: đúng ghi Đ, sai ghi S ( Bài: Trừ các số có 3 chữ
= 426
555
-
44
=
995
555
- 44
= 995
160
= 177
- Tôi tổ chức cho 2 nhóm mỗi nhóm 3 em lên chơi trò chơi “Ai nhanh hơn”
- Khi học sinh hoàn thành giáo viên cùng học sinh cả lớp nhận xét vì sao
điền đúng, vì sao điền sai (lúc này học sinh sẽ nêu lại cách thực hiện đúng. Trên
cơ sở bài cho sẵn học sinh chỉ việc nhẩm theo hàng, theo cột mà học sinh đã
được học để tìm ra kết quả đúng nhất, nhanh nhất bằng khả năng nhẩm của
mình).
GV tuyên bố đội thắng cuộc. Đội thắng cuộc được các bạn cổ vũ, động viên
32
16
24
12
8
36
28
Giáo viên phát cho mỗi em một bảng. Giáo viên hoặc lớp trưởng lần lượt
đọc mỗi lần 1 phép tính trong bảng nhân 4 nhưng không nêu kết quả. Học sinh
nghe và tự tìm kết quả đánh dấu vào ô có kết quả đúng. Nếu học sinh nào điền
đúng, đủ 3 ô hàng ngang hoặc hàng dọc thì em đó thắng. Giáo viên quan sát lại
khen thưởng học sinh thắng cuộc, khuyến khích học sinh làm chưa tốt.
Tiếp tục như những cách làm trên cho đến khi cả lớp đều thuộc từ bảng
nhân, chia 2 đến 9. Qua thời gian không lâu lớp tôi có 15, 16 học sinh thuộc tất
cả bảng nhân chia từ 2 đến 9. Chỉ còn một HS do tư duy của em có phần chậm
hơn so với những bạn cùng lứa tuối nên em thuộc chưa trôi chảy, thường thì
giáo viên hoặc các bạn khác phải nhắc một vài phép tính khi em được kiểm tra
2.3.3. Giúp học sinh sử dụng các thuật ngữ toán học để viết lời giải chính
xác khoa học .
Với một số bài toán có liên quan đến đại lượng như : độ dài, thời gian …
Học sinh thường viết như sau :
Ví dụ 1 : Số mét hai cuộn vải dài là :
Ví dụ 2 : Chiếc tem thư có số đồng là:
- Đọc kĩ đề toán: Đối với đối tượng học sinh yếu đọc ít nhất 3 lần có như
thế mới giúp các em nắm được ba yếu tố cơ bản: Những “ dữ kiện” là những cái
đã cho, đã biết trong đầu bài, “những ẩn số” là những cái chưa biết và cần phải
tìm, cuối cùng là những “điều kiện” là quan hệ giữa các dữ kiện và ẩn số. Tránh
thói quen xấu là vừa đọc đề xong đã vội làm ngay.
- Tóm tắt đề toán: Sau khi đọc kĩ đề, các em biết lượt bớt một số câu chữ,
làm cho bài toán gọn lại. Nhờ đó đã làm rõ mối quan hệ cái đã cho và cái phải
tìm. Trong thực tế có rất nhiều cách tóm tắt một bài toán, nếu các em càng nắm
được nhiều cách tóm tắt thì các em sẽ càng giải toán giỏi hơn. Thế nhưng đối
với các em học sinh tiếp thu chậm tôi chỉ hướng dẫn các em chọn cách tóm tắt
nào dễ hiểu và rõ nhất là được, chẳng hạn như cách tóm tắt bằng chữ.
35 lít mật ong: 7 can
10 lít mật ong: . . . can?
- Phân tích bài toán: Tóm tắt xong các em cần phải phân tích đề bài để
tìm ra cách giải. Đối với học sinh tiếp thu chậm ở bước này tôi cần sử dụng
phương pháp phân tích, tổng hợp. Phân tích bài toán theo sơ đồ dưới dạng các
câu hỏi như sau:
+ Bài toán trên cho biết gì? (35l mật ong đựng vào 7 can)
+ Bài toán hỏi gì? (10l mật ong đựng trong bao nhiêu can?)
+ Muốn biết 10lít mật ong đựng đều trong mấy can, ta phải làm gì? (tìm xem
1 can đựng được bao nhiêu lít mật ong).
+ Muốn tìm được 1 can đựng bao nhiêu lít mật ong ta làm thế nào?(Làm
phép tính chia( Ta lấy 35l mật ong chia cho 7 can thì được 5 lít))
Số lít mật ong đựng trong 1 can là:
35 : 7 = 5 ( l )
Vậy ta phải tìm 10l mật ong đựng trong bao nhiêu can bằng cách nào ? (Lấy
10lít chia cho số lít ở mỗi can vừa tìm được thì ra kết quả.)
Số can đựng 10lít mật ong là:
10 : 5 = 2 (can)
Nếu đến bước này có học sinh nào không hiểu tôi sẽ minh họa bằng sơ đồ
+ Thử lại các kết quả vừa tính từ bước đầu tiên.
+ Thử lại kết quả đáp số xem đã phù hợp với yêu cầu của đề chưa.
Những biện pháp trên được áp dụng ở lớp tôi về giải bài toán có liên quan
đến rút về đơn vị và mang lại kết quả tương đối cao và trong lớp bây giờ có
khoảng ba phần tư học sinh giải thành thạo.
* Một số lỗi học sinh thường mắc phải khi viết lời giải:
+ Nội dung lời giải sai lệch với phép tính tương ứng.
Ví dụ: - Bài toán hỏi số hộp bút thì các em trả lời số bút trong hộp.
- Bài toán hỏi số quả cam còn lại thì các em trả lời số cam có hoặc số
cam bán. câu văn sai, lúng túng do sắp xếp các từ ngữ sai trật tự.
Ví dụ: - Số ki-lô-gam con vịt nặng gấp số lần con ngỗng là …
+ Diễn đạt thừa (hoặc thiếu hoặc chưa chuẩn xác) dẫn đến câu sai ngữ
nghĩa.
Ví dụ: Số đường công nhân phải sửa là…
* Một số giải pháp hướng dẫn học sinh viết đúng câu lời giải
+ Dựa vào câu hỏi để viết lời giải:
* Đối với các lời giải có nội dung sai với phép tính tương ứng.
Ví dụ bài toán: Người ta xếp 800 cái bánh vào các hộp, mỗi hộp 4 cái. Hỏi xếp
được bao nhiêu hộp bánh.
- Có học sinh làm lời giải như sau:
Mỗi hộp có số cái bánh là:
10
800 : 4 = 200 ( hộp)
- Trong trường hợp trên tôi nhận thấy học sinh vì bản chất chưa hiểu đề.
Trong quá trình giúp học sinh chữa bài tôi đã hướng dẫn các em bám vào câu
hỏi là: “ Hỏi xếp được bao nhiêu hộp bánh?” thì chỉ cần sửa lại câu hỏi một
chút là ra lời giải: “Số hộp bánh xếp được là :”
- Bằng cách bám vào câu hỏi để viết lời giải đòi hỏi học sinh phải đọc kỹ đề
Số ki lô gam khoai tây thu hoạch ở cả hai thửa ruộng là :
127 + 381 = 508 ( kg )
Đáp số : 508 kg khoai tây
+ Phân tích đề để tìm lời giải :
Đối với bài toán học sinh chưa biết dựa vào ngữ cảnh cụ thể để viết lời giải.
Do đó lời giải chưa chặt chẽ.
* Ví dụ : Bài 4 tiết luyện tập trang 76 sách giáo khoa toán 3: Theo kế hoạch,
một tổ sản xuất phải dệt 450 chiếc áo len. Người ta đã làm được 1/5 kế hoạch
đó. Hỏi tổ đó còn phải dệt bao nhiêu chiếc áo len nữa ?
11
Với bài toán này, hầu hết học sinh không viết được lời giải chặt chẽ, học
sinh thường viết :
Bài giải
Số chiếc áo len dệt được là :
450 : 5 = 90 ( áo )
Số áo len phải dệt là :
450 – 90 = 360 ( áo )
- Ta thấy rõ ràng là cả hai lời giải chưa làm rõ được nội dung bài toán mà lời
giải chuẩn là phải thể hiện nội dung của đề bài .
- Với trường hợp này lúc hướng dẫn học sinh làm bài hoặc chữa bài tôi
thường giúp học sinh phân tích đề .
* Dùng thước gạch chân một số từ quan trọng trong đề toán như : “ đã làm”,
“còn phải dệt” giúp học sinh hiểu được ý muốn diễn đạt .
- Sau khi hướng dẫn, đa số học sinh viết được lời giải chuẩn xác hơn :
Bài giải
Tổ sản xuất đó đã dệt đựơc số chiếc áo len là :
450 : 5 = 90 ( chiếc áo )
Tổ sản xuất đó còn phải dệt số chiếc áo len là :
3 nói riêng, ngoài yêu cầu cần đạt về kiến thức kĩ năng, còn yêu cầu học sinh phải
hoàn thiện các bài tập cụ thể trong mỗi tiết học. Mặc dù chương trình đã giảm tải
để giảm áp lực cho học sinh, để phù hợp với thời lượng một tiết học. Tuy nhiên,
với học sinh gặp khó khăn trong môn Toán lớp 3, số lượng bài bài đó vẫn còn rất
nặng, và nhiều bài, các em còn chưa thể giải quyết ngay được sau khi giáo viên
giảng xong bài mới. Để giải quyết những vướng mắc này, giáo viên cần chủ
động, nghiên cứu từng bài tập, thiết kế, bổ sung thêm sao cho học sinh tiếp thu
chậm hoàn thành được bài tập.
Ví dụ: Ở tiết Luyện tập chung (trang 90), học sinh phải thực hiện 5 bài
tập, trong đó có bài tập sau:
Bài 5: Tính giá trị biểu thức
a) 25 �2 + 30
b) 75 + 15 �2
c) 70+ 30 : 3
Với bài tập này, những học sinh có tư duy tốt, các em sẽ làm rất nhanh dạng này
(học sinh phải áp dụng những tính chất đã học (Thực hiện phép tính nhân hoặc
chia trước sau đó mới thực hiện cộng sau)).Nhưng với học sinh tiếp thu chậm,
các em thường thực hiện lần lượt từ trái qua phải. Vì vậy giáo viên có thể giúp
học sinh bằng cách cho các em nhắc lại các quy tắc tính giá trị biểu, hay có thể
xây dựng trên phiếu của bài tập này nhưng dễ hơn để các em hoàn thành được bài
tập trên sự định hướng ban đầu của giáo viên như sau:
Bài 5: Tính giá trị biểu thức (Điền vào chỗ chấm )
a) 25 �2 + 30
b) 75 + 15 �2
c) 70+ 30 : 3
làm của mình, của bạn, kết phối hợp giảng giải, sửa sai ngay cho những bạn tiếp
thu chậm hơn.
Hay "Nhóm bạn yêu thích môn toán" trong đó khuyến khích học sinh tiếp
thu chậm hơn tham gia để hòa nhập và học hỏi thêm các bạn. Với học sinh lớp 3
việc làm này có hiệu quả thiết thực. Bên cạnh đó ngoài việc kiểm tra giúp đỡ
bạn trong tiết học tôi còn phân công học sinh học tốt giúp đỡ bạn tiếp thu chậm
trong các giờ học thêm vào buổi hai.
Làm được điều này, giáo viên sẽ cảm thấy nhẹ nhàng hơn, vừa khích lệ
được tinh thần giúp đỡ lẫn nhau của các em học sinh, học sinh tiếp thu chận hơn
cũng cảm thấy bớt ngại ngùng hơn khi hỏi bài của bạn hơn là hỏi thầy
- Giáo viên lên lịch kiểm tra sự tiến bộ của từng nhóm. Từ đó khen ngợi
những đôi bạn tiến bộ, những nhóm có phương pháp học thích hợp làm tấm
gương trước lớp để các đôi bạn, nhóm khác noi theo, giúp đỡ các nhóm gặp khó
khăn trong quá trình hợp tác. Đồng thời động viên, tuyên dương kịp thời.
Có kế hoạch cụ thể, thực hiện kiểm tra, đánh giá kết quả phụ đạo, giúp đỡ
học sinh chưa đạt chuẩn kiến thức, kĩ năng. Việc kiểm tra chất lượng học sinh
yếu diễn ra thường xuyên. Có thể là những bài kiểm tra kiến thức thông thường,
cũng có thể kiểm tra qua việc thực hành hàng ngày của học sinh chưa hoàn
thành trong các tiết học Toán. Nhà trường trường cũng đánh giá sự tiến bộ của
các em thông qua các bài kiểm tra định kì. Kết quả kiểm tra cũng là sự phản
hồi, đánh giá sự cố gắng của giáo viên trong công tác phụ đạo, giúp đỡ học sinh
tiếp thu chậm, góp phần hạn chế tối đa học sinh chưa hoàn thành môn Toán.
2.3.8. Kịp thời khuyến khích, khen thưởng sự cố gắng, tiến bộ của học
sinh chậm tiếp thu sau mỗi tuần.
Như thường lệ, lâu nay chúng ta thường khen thưởng những học sinh tiếp
thu tốt chứ ít thấy khen thưởng cho những học sinh yếu kém nhưng có sự tiến
bộ. Hai năm học gần đây, ngoài việc tuyên dương những học sinh học tốt, cuối
mỗi tuần học, tôi đều nêu gương những học sinh tiếp thu chậm nhưng có tiến bộ
trong học tập cũng như các hoạt động khác. Năm nay, thông tư 22 ra đời, không
huynh có thể cùng con ôn bài, xem lại bài hôm nay học gì, giảng cho con (hoặc
nhờ một người khác có kiến thức) nếu con em mình chưa hiểu bài ở lớp.
2.4. Hiệu quả:
Sau một thời gian áp dụng biện pháp trên tại lớp 3B tôi chủ nhiệm, tôi thấy
học sinh chưa hoàn thành của lớp tôi phụ trách đã có những bước tiến bộ rõ rệt.
Các em cơ bản đã nắm được cách trình bày lời giải của bài toán theo đúng
nghĩa của câu lời giải. Từ đó tôi say sưa với bài giảng hơn, không khí lớp học
nhẹ nhàng, học sinh hăng hái phát biểu xây dựng bài, ham thích làm bài tập ở
nhà. Biết tự giác học tập và biết tìm sự hỗ trợ của bạn bè, thầy cô khi thực hiện
bài khó.
* Kết quả môn Toán sau khi KTĐK cuối kì 1 đạt được như sau:
Hoàn thành Tốt
SL
20
TL
54,1 %
Hoàn thành
SL
16
TL
43,2%
Chưa Hoàn thành
SL
1
TL
* Tóm lại: Môn toán là một môn học hết sức quan trọng ở bậc tiểu học nói
riêng và toàn cấp nói chung. Nó góp phần phát triển năng lực trí tuệ, năng lực
nhận thức, độc lập tư duy sáng tạo. Đặc biệt là trong công cuộc đổi mới “Công
nghiệp hóa – hiện đại hóa” của đất nước ta hiện nay càng đòi hỏi những lớp
người lao động mới phải có bản lĩnh, có năng lực, dám nghĩ dám làm. Vì vậy
tính toán là nhu cầu rất cần thiết đối với cuộc sống hàng ngày. Phụ đạo tốt sẽ
góp phần nâng cao chất lượng giáo dục, giúp các em trở thành con ngoan, trò
giỏi, giúp ích cho đất nước. Việc làm này không chỉ một hai tuần mà thành công
mà đòi hỏi cả một quá trình lâu dài. Người giáo viên phải luôn kiên trì không
nóng vội, luôn tìm những phương pháp giảng dạy tốt, sáng tạo đối với từng đối
tượng học sinh mới có kết quả . Tôi đã vận dụng phương pháp phụ đạo này cho
học sinh lớp tôi và đạt được những thành công như mong muốn. Các giáo viên
trong tổ cũng đã áp dụng phương pháp này và bước đầu đạt được kết quả đáng
kể.
3.2. Kiến nghị.
* Đối với các cấp quản lí.
- Đầu tư thêm phòng học (ít nhất mỗi lớp một phòng), trang thiết bị dạy và
học để hỗ trợ cho giáo viên và học sinh.
- Mở thêm các chuyên đề triển khai một số sáng kiến kinh nghiệm hay để
cho giáo viên được học hỏi rút kinh nghiệm.
* Đối với nhà trường.
- Cần bố trí thêm thời gian để giáo viên phụ đạo thêm cho những em còn
tiếp thu chậm.
- Mở thêm các câu lạc bộ Toán, Tiếng Việt để học sinh có thể học hỏi lẫn
nhau và học hỏi thêm từ thấy cô.
Trên đây là SKKN mà tôi đã tích luỹ và thực hiện trong quá trình giảng
dạy lớp 3 tại Trường Tiểu học Đông Vệ 2. Tôi xin mạnh dạn trình bày và mong
sự đóng góp ý kiến của Hội đồng khoa học các cấp để tôi rút kinh nghiệm và
ngày một hoàn thiện hơn.
Xác nhận của Hiệu trưởng