Một vài biện pháp rèn kĩ năng giải toán có lời văn cho học sinh lớp 1 - Pdf 53

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA
PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THÀNH PHỐ THANH HÓA

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

MỘT SỐ BIỆN PHÁP RÈN KỸ NĂNG GIẢI TOÁN
CÓ LỜI VĂN CHO HỌC SINH LỚP MỘT

Người thực hiện: Nguyễn Thị Huyền
Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị công tác: Trường Tiểu học Ba Đình
SKKN thuộc lĩnh vực (môn): Toán

THANH HOÁ NĂM 2018


MỤC LỤC
TT
1
1.1
1.2
1.3
1.4
2
2.1
2.2
2.3
2.4
3
3.1
3.2




1.MỞ ĐẦU
1.1. Lý do chọn đề tài:
Nếu chúng ta cho rằng Tiếng Việt là chìa khóa mở tâm hồn cho con người
thì toán học sẽ là chìa khóa đưa loài người đến với vũ trụ. Đúng vậy, môn Toán
có vị trí quan trọng trong nhà trường đặc biệt với bậc Tiểu học. Thông qua môn
Toán trang bị cho học những kiến thức cơ bản về toán học rèn cho học sinh kỹ
năng tính toán, kỹ năng giải toán. Đồng thời qua dạy toán giáo viên hình thành
cho học sinh phương pháp học tập; khả năng phân tích tổng hợp, óc quan sát, trí
tưởng tượng tạo điều kiện phát triển óc sáng tạo, tư duy.
Đối với môn Toán lớp 1, môn học có vị trí nền tảng, là điểm xuất phát của
cả một bộ môn khoa học. Môn Toán mở đường cho các em đi vào thế giới kỳ
diệu của Toán học, giúp các em biết vận dụng những kiến thức đã học vào cuộc
sống hàng ngày một cách thực tế. Môn Toán lớp 1 là cái gốc của chương trình
môn Toán trong chương trình Toán Tiểu học.
Dạy học môn Toán ở lớp 1 nhằm giúp học sinh:
- Bước đầu có một số kiến thức cơ bản, đơn giản, thiết thực về phép đếm,
về các số tự nhiên trong phạm vi 100, về độ dài và đo độ dài trong phạm vi 20,
về tuần lễ và ngày trong tuần, về giờ đúng trên mặt đồng hồ; về một số hình học
(Đoạn thẳng, điểm, hình vuông, hình tam giác, hình tròn); về bài toán có lời văn.
- Hình thành và rèn luyện các kĩ năng thực hành đọc, viết, đếm, so sánh
các số trong phạm vi 100; cộng trừ và không nhớ trong phạm vi 100; đo và ước
lượng độ dài đoạn thẳng (với các số đo là số tự nhiên trong phạm vi 20 cm).
Nhận biết hình vuông, hình tam giác, hình tròn, đoạn thẳng, điểm, vẽ điểm, đoạn
thẳng). Giải một số dạng bài toán đơn về cộng trừ bước đầu biết biểu đạt bằng
lời, bằng kí hiệu một số nội dung đơn giản của bài học và bài thực hành, tập so
sánh, phân tích, tổng hợp, trừu tượng hoá, khái quát hoá trong phạm vi của
những nội dung có nhiều quan hệ với đời sống thực tế của học sinh.

- Phương pháp điều tra.
- Tiến hành khảo sát và so sánh chất lượng học sinh.

2


2. NỘI DUNG
2.1. Cơ sở lý luận:
Đối với trẻ là học sinh lớp Một, môn Toán có chương trình từ đơn giản
đến phức tạp từ ghi phép tính tương ứng với mô hình đến lập bài toán và giải bài
toán có lời văn. Để hướng dẫn cho học sinh đọc-hiểu bài toán có lời văn không
dễ dàng, vả lại việc viết lên một câu lời giải phù hợp với câu hỏi của bài toán
cũng là vấn đề không đơn giản vì các em nhanh nhớ nhưng rất chóng quên.Vì
vậy, chúng ta cần phải thu hút trẻ bằng các hoạt động mới, mang màu sắc, tích
chất đặc biệt, khác lạ so với bình thường, khi đó sẽ kích thích trẻ cảm nhận, tri
giác tích cực và chính xác.Trong giai đoạn lớp 1, trẻ ghi nhớ máy móc phát triển
tương đối tốt và chiếm ưu thế hơn so với ghi nhớ có ý nghĩa. Nhiều học sinh
chưa biết tổ chức việc ghi nhớ có ý nghĩa, chưa biết dựa vào các điểm tựa để ghi
nhớ, chưa biết cách khái quát hóa hay xây dựng dàn bài để ghi nhớ tài liệu.
Nắm được điều này, các nhà giáo dục phải giúp các em biết cách khái quát
hóa và đơn giản mọi vấn đề, giúp các em xác định đâu là nội dung quan trọng
cần ghi nhớ, các từ ngữ dùng để diễn đạt nội dung cần ghi nhớ phải đơn giản dễ
hiểu, dễ nắm bắt, dễ thuộc và đặc biệt phải hình thành ở các em tâm lý hứng thú
và vui vẻ khi ghi nhớ kiến thức. Hoạt động học của các em còn xen kẽ với hoạt
động vui chới. Trong mỗi tiết học người giáo cần lựa chọn các hình thức dạy học
để hình thành kiến thức một cách nhẹ nhàng chủ động với trò. Học sinh lớp một
còn dựa vào khuôn mẫu của cô hay ký hiệu của cô trong khi học. tri giác các em
mang tính đại thể, ít đi vào chi tiết và mang tính không ổn định, tri giác thường
gắn với hình ảnh trực quan [2].
Với học sinh lớp Một, việc hình thành kiến thức phép tính trong bài giải

Kết quả khảo sát cụ thể như sau
Lớp
SS
Nội dung
Trình bày
HS

1A3
43
1A4
43
* Giáo viên:

Viết
phép
tính
đúng
32
33

Viết
lời Viết đáp Trình
bày Trình
giải đúng số đúng
đầy đủ nội đúng
dung
đẹp
20
21


lại nhiều lần nhưng vẫn chưa hiểu bài toán. Nhiều khi với một bài toán có lời
văn các em có thể đặt và tính đúng phép tính của bài nhưng không thể trả lời
hoặc lý giải là tại sao các em lại có được phép tính như vậy. Thực tế hiện nay
cho thấy, các em thực sự lúng túng khi giải bài toán có lời văn. Một số em chưa
biết tóm tắt bài toán, chưa biết phân tích đề toán để tìm ra đường lối giải, chưa
biết tổng hợp để trình bày bài giải, diễn đạt vụng về, thiếu lôgic. Ngôn ngữ toán
học còn rất hạn chế, kỹ năng tính toán, trình bày thiếu chính xác, thiếu khoa học,
chưa có biện pháp, phương pháp học toán, học toán và giải toán một cách máy
móc nặng về dập khuôn, bắt chước. Từ ngôn ngữ thông thường trong các đề toán
đưa ra cho học sinh đọc - hiểu - biết hướng giải đưa ra phép tính kèm câu trả lời
và đáp số của bài toán. Giải toán có lời văn góp phần củng cố kiến thức toán, rèn
luyện kỹ năng diễn đạt, tích cực góp phần phát triển tư duy cho học sinh tiểu
học. Vì vậy học sinh không làm đúng cũng là điều dễ hiểu. Vậy làm thế nào để
học sinh nắm được cách giải một cách chắc chắn chính xác?
a/ Ưu điểm
- Học sinh ham học, có hứng thú học tập môn Toán nói chung và “Giải bài toán
có lời văn” nói riêng.
- Học sinh bước đầu biết vận dụng bài toán có lời văn vào thực tế.
b/ Hạn chế:
- Một số học sinh chưa biết cách đặt câu lời giải phù hợp.
- Trình bày bài làm còn chưa sạch đẹp.
- Viết phép tính đúng nhưng không có tên đơn vị.
- Một số ít học sinh không hiểu nội dung bài toán có lời văn dẫn đến không làm
được bài.
2.2.3. Những sai lầm và khó khăn thường gặp của giáo viên và học
sinh khi dạy và học mạch kiến thức : “Giải toán có lời văn” ở lớp Một.
Về mặt nhận thức giáo viên còn coi việc dạy cho học sinh “Giải toán có
lời văn” cho học sinh lớp Một là đơn giản, dễ dàng nên chưa tìm tòi nghiên cứu
để có phương pháp giảng dạy có hiệu quả. Vốn từ, vốn kiến thức, kinh nghiệm
thực tế của học sinh lớp Một còn rất hạn chế nên khi giảng dạy cho học sinh lớp

cú phộp tớnh: 1 + 2 = 3. Dy "Gii bi toỏn cú li vn" lp Mt.
* Cỏc bi toỏn gii toỏn cú li vn trong chng trỡnh lp Mt ch yu l cỏc
dng toỏn n n gin nh Thờm, bt
* Bài toán đơn về thêm
- Học sinh tìm hiểu bài toán.
- Giáo viên cho học sinh xem tranh (nếu có) rồi đọc bài toán và
trả lời câu hỏi của bài toán.
Bài toán cho biết gì? Bài toán hỏi gì?
- Viết câu lời giải. (Dựa vào câu hỏi của bài toán)
- Viết phép tính. (Tên đơn vị viết vào dấu ngoặc đơn)
- Viết đáp số.

6


*Hớng dẫn học sinh kiểm tra kết quả của bài toán qua tranh
vẽ, hoặc mẫu vật thật. Liên hệ với thực tế cuộc sống. Sau đó
viết phép tính và kết quả đúng.
* Bi toỏn n v bt
Cỏc bc tin hnh tng t nh bi toỏn n v thờm. Cỏc em ó nm c
cỏc bc gii bi toỏn. Hc sinh khỏ gii ó gii c thnh tho bi toỏn n v
thờm. Vỡ vy khi gii bi toỏn n v bt giỏo viờn yờu cu hc sinh c k bi
toỏn, hiu ni dung bi toỏn v nm c cỏc bc gii ca bi toỏn.
* Hng dn hc sinh tỡm hiu bi toỏn.
?Bi toỏn cho bit gỡ? Bi toỏn hi gỡ?
* Hng dn hc sinh tỡm cỏch gii ca bi toỏn.
* Hng dn hc sinh trỡnh by bi gii: Khuyn khớch hc sinh tỡm nhiu cõu
li gii khỏc nhau. La chn cõu li gii phự hp nht.
- Vit cõu li gii. (Da vo cõu hi ca bi toỏn)
- Vit phộp tớnh. (Tờn n v vit vo du ngoc n)

thể vận dụng vào đặt lời giải cho bài toán giải toán có lời văn.
Trường hợp 2:Viết lời giải chưa đúng:
Lời giải học sinh thường mắc lỗi sai là
- Lớp em có tất cả số bạn là:
- Lớp em có số Nam là:
- Lớp em có số bạn nữ là:
- Lớp em có tất cả là:
- Lớp em có là
Với học sinh lớp Một, để viết lời gải đúng tương ứng phép tính là vô cùng
khó khăn, nó trừu tượng với con trẻ. Trong trường hợp này các em thường
hay viết cả câu hỏi của bài toán hoặc xác định lời giải chưa đúng hoặc ghi
sai nội dung câu lời giải mà đề bài yêu cầu.
Trường hợp 3: Viết tên đơn vị sai:
Ở trường hợp này học sinh thường mắc lỗi sai là:
- 38 – 18 = 20 (bạn nữ)
- 38 – 18 = 20 (nam)
- 38 – 18 = 20 (lớp)
- 38 – 18 = 20 (học sinh)
- 38 – 18 = 20 (người)
Với học sinh lớpMột, việc các em xác định tên đơn vị tương ứng với phép
tính là rất khó có khi các em nhầm lẫn giữa đơn vị này và đơn vị khác chỉ cần
nhắc qua trong bài toán.
Trường hợp 4:Viết lời giải và viết tên đơn vị sai:
VD: Bài giải
Lớp em có số bạn nữ là:
38 – 18 = 20 (bạn nữ) Hay
Lớp em có số Nam là:
38 – 18 = 20 (nam)……
Ở nhóm này thường sảy ra hai trường hợp:
- Trường hợp 1: Học sinh Viết sai cả lời giải và cả phép tính

Bước 2: Bước đầu hướng dẫn cách tóm tắt đề toán.
Hướng dẫn tóm tắt bài toán bằng lời, bằng sơ đồ đoạn thẳng hoặc bằng
hình vẽ. Đây là chỗ tựa để HS tìm ra trình tự lời giải và phép tính đúng.
Dựa vào tóm tắt để nêu lại đề toán. Đây là cách rất tốt để giúp học sinh
ngầm phân tích đề toán. Nếu học sinh gặp khó khăn trong khi đọc đề toán thì
giáo viên nên cho các em nhìn tranh và trả lời câu hỏi.
Ví dụ: Bài 3 trang 118, giáo viên có thể hỏi:
- Em thấy dưới ao có mấy con vịt? (Dưới ao có 5 con vịt)
- Trên bờ có mấy con vịt? (Trên bờ có 4 con vịt)
- Đàn vịt có tất cả mấy con? (Có tất cả 9 con)
Trong trường hợp không có tranh ở sách giáo khoa thì giáo viên có thể
dùng hình ảnh trên màn hình máy tính hoặc gắn mẫu vật (gà, vịt, ...) lên bảng từ
để thay cho tranh; hoặc dùng tóm tắt bằng lời hoặc sơ đồ đoạn thẳng để hỗ trợ
học sinh đọc đề toán.
Thông thường có 3 cách tóm tắt đề toán:
- Tóm tắt bằng lời:
9


Ví dụ 1: Bạn Lan có 3 quyển vở, bạn Vy có 2 quyển vở. Hỏi cả hai bạn có bao
nhiêu quyển vở?
Tóm tắt
Lan: 3 quyển
Vy: 2 quyển
Cả hai bạn có: ... quyển?
- Tóm tắt bằng sơ đồ đoạn thẳng: Ví dụ 2: Bài 2 trang 123
A
B
C
5 cm

10


- Đối với kết quả của phép tính có tên đơn vị là xăng- ti- met thì có thể trả lời,
nêu lời giải là: Độ dài hoặc chiều dài.
Ví dụ: Đoạn thẳng AB dài 4 cm, đoạn thẳng BC dài 3 cm. Hỏi đoạn thẳng AC
dài mấy cm? (kèm theo hình vẽ).
Sau khi giúp học sinh tìm hiểu đề toán để xác định rõ cái đã cho và cái phải
tìm. Chẳng hạn: Nhà An có 5 con gà, mẹ mua thêm 4 con gà. Hỏi nhà An có tất
cả mấy con gà?
- Bài toán cho gì? (Nhà An có 5 con gà).
- Còn cho gì nữa? (Mẹ mua thêm 4 con gà).
- Bài toán hỏi gì? (Nhà An có tất cả mấy con gà?).
Giáo viên nêu tiếp: "Muốn biết nhà An có tất cả mấy con gà em làm tính gì?
(tính cộng) Mấy cộng mấy? (5 + 4) ; 5 + 4 bằng mấy? (5 + 4 = 9); hoặc: "Muốn
biết nhà An có tất cả mấy con gà em tính thế nào? (5 + 4 = 9); hoặc: "Nhà An có
tất cả mấy con gà ?" (9) Em tính thế nào để được 9 ? (5 + 4 = 9). Tới đây giáo
viên gợi ý để học sinh nêu tiếp "9 này là 9 con gà", nên ta viết "con gà" vào
trong dấu ngoặc đơn: 5 + 4 = 9 (con gà).
Sau khi học sinh đã xác định được phép tính, nhiều khi việc hướng dẫn học
sinh đặt câu lời giải còn khó hơn việc chọn phép tính và tính ra đáp số. Với học
sinh lớp Một, lần đầu tiên được làm quen với cách giải loại toán này nên các em
rất lúng túng. Có thể dùng một trong các cách sau:
Cách 1: Dựa vào câu hỏi của bài toán rồi bỏ bớt từ đầu (Hỏi) và cuối (mấy
con gà?) để có câu lời giải:"Nhà An có tất cả:" hoặc thêm từ "là" để có câu lời
giải:
Nhà An có tất cả là:
5 + 4 = 9 (con gà)
Cách 2: Đưa từ "con gà" ở cuối câu hỏi lên đầu thay thế cho từ "Hỏi" và
thêm từ Số (ở đầu câu), là ở cuối câu để có:

Luyện trình bày bài giải chính xác, rõ ràng, sạch sẽ đầy đủ 3 phần :
+Câu lời giải.
+Phép tính.
+Đáp số.
- Ở phần phép tính đơn vị bông hoa trong dấu ngoặc đơn, cần khắc sâu cho
học sinh bài toán hỏi cái gì thì ghi tên đơn vị cái đó.
- Phần đáp số : Cần lưu ý ghi kết quả tìm được.
Có thể coi việc trình bày bài giải là trình bày một sản phẩm của tư duy. Với
tôi học sinh làm bài đúng chưa đủ chưa đạt yêu cầu với sự phát triển hiện nay.
Đặc biệt việc trình bày khoa học đúng đẹp là vô cùng quan trọng. Thực tế hiện
nay các em học sinh lớp Một trình bày bài giải còn rất hạn chế, kể cả học sinh
khá giỏi. Cần rèn cho học sinh nề nếp và thói quen trình bày bài giải một cách
chính xác, khoa học, sạch đẹp dù trong giấy nháp, bảng lớp, bảng con hay vở,
giấy kiểm tra. Cần trình bày bài giải một bài toán có lời văn như sau:
Bài giải
Nhà An có tất cả số con gà là:
5 + 4 = 9 ( con gà )
Đáp số : 9 con gà

12


Tuy trình bày toán không có một khuôn mẫu nào không áp đặt cách trình
bày nhưng người giáo viên hướng cho các em óc quan sát và so sánh giữa những
bài đúng và những bài đúng và trình bày đẹp để các em học tập và biết yêu cái
hay cái đẹp trong giải toán.
Với bài toán giải toán có lời văn cũng có yếu tố thẫm mỹ giúp các em biết
yêu cái hay cái đẹp trong toán học đó là yếu tố quan trọng trong giải toán có lời
văn.
Kiểm tra lại bài giải :


Đề bài: An có 8 quả bóng, An thả 3
bóng?
Hoạt động của thầy
HĐ1:Bài tập 2
Bước 1: Đọc và Tìm hiểu đề toán
- HD học sinh đọc và tìm hiểu đề
bài.
- Hãy đọc đề bài trong nhóm đôi
của mình và cho cô biết đây là
bài toán gì? Thuộc dạng toán
nào?
- Từ nào cho em biết đây là thuộc
dạng bớt đi?
- HD học sinh nêu suy nghĩ bài
toán.
- Bài toán cho biết gì?
- Bài toán hỏi gì?
GV: Các con vừa tìm hiểu đề bài
toán rất tốt, cô cùng các con chuyển
sang phần tốm tắt bài toán.
Bước 2: Hướng dẫn cách tóm tắt
đề toán.

quả bóng bay đi. Hỏi An còn lại mấy quả
Hoạt động của trò
-Học sinh đọc đề bài
- Đây lài bài toán giải toán có lời văn,
bài toán, bài toán thuộc dạng bớt.


giải.
-

- Hãy nêu lời giải khác?

Bài giải
An còn lại số quả bóng là:
8 – 3 = 5( quả bóng)
Đáp số: 5 quả bóng

- Số quả bóng An còn lại là.
- Trong bài toán giải có 1 câu hỏi - Còn lại số quả bóng của An là.
nhưng có nhiều câu trả lời và đó
cũng chính là các câu lời giải
nhưng các em chỉ chọn 1 lời giải
chính xác nhất với phép tính
tương ứng bài giải.
Bước 4: Trình bày bài giải
- Nhận xét bài làm của bạn
+ Bài làm đúng ,sai
+ Cách trình bày đúng, đẹp
- kiểm tra bài làm của bạn.
- nhận xét cách trình bày bạn
- Giáo viên chấm và nhận xét
tuyên dương những bài làm
đúng,trình bày đẹp. Rút kinh
nghiệm những bài toán còn chưa
đủ nội dung và sai sót.
HĐ nối tiếp: - GV cùng HS hệ
thống lại bài.

tôi nhiều đồng nghiệp dự giờ và có nhận xét rất khả quan. Kinh nghiệm này đã
được đưa vào trong sinh hoạt chuyên môn sâu của tổ Một để áp dụng rộng rãi
trong toàn khối để nâng cao chất lượng cho học sinh lớp Một về môn Toán nói
chung và Kỹ năng giải toán có lời văn nói riêng. Còn phía học sinh lớp 1A3 lớp
áp dụng kinh nghiệm này trong suốt quá trình dạy học tôi tiến hành khảo sát như
sau:
Đề bài khảo sát giữa kỳ hai lớp 1A3 và 1A4
Bài 1: Bạn Hà có 12 quyển vở, bạn Lan có 14 quyển vở. Hỏi cả bạn có tất cả
bao nhiêu quyển vở?
Bài 2: Bà nuôi 26 con vịt bà bán đi 11 con. Hỏi bà còn mấy con vịt?
 Sau khi kiểm tra hai lớp và kết quả cụ thể như sau:
Lớ
p

SS
HS

Nội dung

Trình bày

Viết phép Viết
lời Viết đáp số Trình bày Trình bày
tính đúng
giải đúng
đúng
đầy đủ nội đúng YC
dung
đẹp
1A3

có lòng nhiệt tình, tinh thần trách nhiệm của người thầy với nghề nghiệp là
mang lại kết quả cao trong giảng dạy, là chiếc chìa khoá vàng tri thức để mở ra
cho các em cánh cửa khoa học vì một ngày mai tươi sáng. Đó là vinh dự và trách
nhiệm của người giáo viên.Trong khuôn khổ hạn hẹp của sáng kiến kinh nghiệm
mà bản thân tôi chiêm nghiệm, trăn trở bằng một tình yêu nghề nghiệp, hy vọng
nó sẽ cùng các bạn đồng nghiệp gần xa trao đổi để hoàn thành xứ mệnh vẻ vang
mà Đảng và nhà nước trao cho nghề thầy giáo.

3. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
3.1. Kết luận
16


Qua việc nghiên cứu và áp dụng phương pháp dạy toán có lời văn cho học
sinh lớp 1 cho thấy giải toán có lời văn ở lớp 1 không khó ở việc viết phép tính
và đáp số mà chỉ mắc ở câu lời giải của bài toán. Sau quá trình nghiên cứu và áp
dụng kinh nghiệm sáng kiến thì học sinh biết viết câu lời giải đã đạt kết quả rất
cao, dẫn tới việc học sinh đạt tỉ lệ cao về hoàn thiện bài toán có lời văn.Vì vậy
theo chủ quan của bản thân tôi thì kinh nghiệm sáng kiến này có thể áp dụng và
phổ biến nhằm nâng cao chất lượng cho học sinh về việc giải toán có lời văn.
Phương pháp dạy giải toán có lời văn cho học sinh lớp 1 giúp học sinh
hoàn thiện một bài giải đủ 3 bước: câu lời giải + phép tính + đáp số là vấn đề
đang được các thầy cô trực tiếp dạy lớp Một rất quan tâm. Vấn đề đặt ra là giúp
học sinh lớp Một viết câu lời giải của bài toán sao cho sát với yêu cầu mà câu
hỏi của bài toán đưa ra.Chính vì vậy nên tôi mạnh dạn đưa ra một số biện pháp
rèn kỹ năng trong dạy học giải toán có lời văn cho học sinh mà bản thân tôi đã
vận dụng vào trong quá trình dạy và đạt kết quả tương đối khả quan.
Trên đây là quá trình nghiên cứu, áp dụng kinh nghiệm sáng kiến vào đổi
mới phương pháp dạy học nói chung và phương pháp dạy giải toán có lời văn
cho học sinh lớp Một nói riêng. Tôi hy vọng sẽ tiếp tục nghiên cứu thành công


Tôi xin cam đoan đây là SKKN do tôi
viết không sao chép nội dung của
người khác
Người thực hiện

Nguyễn Thị Huyền

TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Sách giáo viên lớp 1- Nhà xuất bản giáo dục ( Đỗ Đình Hoan)
18


2. Những đặc điểm tâm lý của trẻ vào lớp 1 cha mẹ cần biết - Theo Viện tâm
lý.
3. Chuyên đề giải toán cho học sinh lớp 1- Tài liệu từ Intenet.

DANH MỤC

19


CÁC ĐỀ TÀI SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐÃ ĐƯỢC HỘI
ĐỒNG ĐÁNH GIÁ XẾP LOẠI CẤP PHÒNG CẤP SỞ TỪ LOẠI
C TRỞ LÊN
Họ và tên: Nguyễn Thị Huyền
Chức vụ và đơn vị công tác: Giáo viên - Trường Tiểu học Ba Đình
thành phố Thanh Hóa.
STT


loại
B
2005 – 2006

B

2009-2010

phòng GD&ĐT B
thành phố
Thanh Hóa.

2014-2015

4

Kinh nghiệm tổ chức trò
chơi Toán học cho học
sinh lớp 2

phòng GD&ĐT B
thành phố
Thanh Hóa.

2014-2015

5

Ứng dụng công nghệ
thông tin trong dạy học


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status