Điều kiện bảo hộ tên thương mại theo pháp luật việt nam – một số vấn đề lý luận và thực tiễn - Pdf 53

Trường Đại học Luật Hà Nội

Khóa luận tốt nghiệp

Lời mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Cùng với sự phát triển của nền sản xuất hàng hoá, đặc biệt là sự phát
triển của nền kinh tế thị trường và thương mại quốc tế, tên thương mại (một
tài sản kinh doanh có giá trị đặc biệt) ngày càng đóng vai trò vô cùng quan
trọng đối với sự tồn tại, phát triển của chủ thể kinh doanh.
Tên thương mại là đối tượng sở hữu công nghiệp được pháp luật bảo
vệ. Do đó, trên khía cạnh pháp luật, việc sử dụng hợp pháp tên thương mại sẽ
giúp cho doanh nghiệp bảo vệ tên tuổi của mình trước những đối thủ cạnh
tranh không lành mạnh khác. Từ góc độ kinh tế, tên thương mại còn có những
vai trò sau:
Thứ nhất, tên thương mại được xem là một trong những thành tố góp
phần vào sự phát triển và thành đạt của doanh nghiệp. Tên thương mại là tên
gọi của tổ chức, cá nhân dùng trong hoạt động kinh doanh – đây là yếu tố đầu
tiên và quan trọng trong chiến lược xâm nhập thị trường, và trong nhiều
trường hợp quyết định sự thành bại của doanh nghiệp trên thị trường mới.
Thứ hai, tên thương mại góp phần tạo ấn tượng, uy tín với các đối tác,
khách hàng của doanh nghiệp. Sự tin cậy giúp khách hàng tìm ra chất lượng
ổn định của sản phẩm, dịch vụ mang tên thương mại quen thuộc. Một tên
thương mại được biết đến rộng rãi giúp cho khách hàng tiết kiệm thời gian,
công sức trong việc lựa chọn sản phẩm, dịch vụ theo mục đích của mình; đảm
bảo cho khách hàng có thể mua sản phẩm hoặc thuê dịch vụ tốt nhất trong
cùng một loại, một lĩnh vực.
Thứ ba, nếu khách hàng hài lòng với chất lượng sản phẩm, dịch vụ của
doanh nghiệp mang tên thương mại mà họ đã sử dụng thì doanh nghiệp đó sẽ
tạo niềm tin đối với khách hàng, nhờ đó khách hàng sẽ sử dụng sản phẩm,
dịch vụ lâu dài, liên tục; làm được điều đó giúp doanh nghiệp có thể đứng

trình nào nghiên cứu riêng về vấn đề điều kiện bảo hộ tên thương mại, vì vậy
đây là một đề tài rất đáng được quan tâm.
3. Mục đích nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu với 2 mục đích:
Thứ nhất là làm rõ những vấn đề lý luận, pháp lý về điều kiện bảo hộ tên
thương mại, đồng thời đưa ra những nhận xét, đánh giá các quy định của pháp
luật Việt Nam về điều kiện bảo hộ tên thương mại
Thứ hai là đánh giá thực tiễn áp dụng điều kiện bảo hộ tên thương mại,
từ đó đưa ra một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng điều kiện bảo
hộ tên thương mại ở Việt Nam.


Trường Đại học Luật Hà Nội

Khóa luận tốt nghiệp

4. Phạm vi nghiên cứu
Khóa luận tập trung nghiên cứu các quy định của luật Sở hữu trí tuệ Việt
Nam về điều kiện bảo hộ đối với tên thương mại, đồng thời nghiên cứu những
quy định của pháp luật về tên thương mại trong các văn bản pháp luật khác
như các văn bản pháp lý quốc tế, Luật doanh nghiệp, Luật thương mại. Mặt
khác tìm hiểu vấn đề về điều kiện bảo hộ tên thương mại trong thực tiễn áp
dụng như thế nào ở Việt Nam.
5. Phương pháp nghiên cứu
Khóa luận sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu như
phương pháp tổng hợp, phương pháp phân tích, phương pháp so sánh.
6. Kết cấu khóa luận
Khóa luận bao gồm 3 chương chính
Chương I. Khái quát chung về tên thương mại
Ở chương này, tác giả làm rõ các vấn đề chung về tên thương mại như

biết được tên gọi đầy đủ của doanh nghiệp đó cũng như ít người phân biệt
được đâu là tên thương mại, đâu là tên doanh nghiệp, và đây chính là điểm
gây tranh cãi trong tương lai, vì liệu các cơ quan chức năng có cách hiểu
giống như vậy không? Nhiều người vẫn nhầm lẫn tên thương mại và tên
doanh nghiệp là giống nhau, vì cùng là tên gọi của chủ thể kinh doanh. Mặt
khác, tên thương mại cũng thường bị nhầm lẫn với nhãn hiệu trong trường
hợp tên thương mại được bảo hộ nhãn hiệu. Bởi thế, theo cách hiểu thông
thường, tên thương mại dễ trùng và nhầm lẫn với tên doanh nghiệp, tên nhãn
hiệu.
Theo cách hiểu trong thực tế, tên thương mại có thể hiểu là tên gọi (đó
có thể là tên chủ công ty, tên tự làm ra (tạo) hay tên viết tắt của công ty...)
nhằm phân biệt một doanh nghiệp và hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
đó với hoạt động kinh doanh của một doanh nghiệp khác.
Thứ hai, tên thương mại theo sách, từ điển
Theo tác giả tìm hiểu, “tên thương mại” là một thuật ngữ chưa được định
nghĩa trong từ điển tiếng Việt. Tuy nhiên, theo Danh sách thuật ngữ sở hữu trí
tuệ do Việt Quốc Luật cung cấp thì tên thương mại được gọi là “Tên gọi được
sử dụng để xác định và phân biệt các công ty, các đối tác và các doanh


Trường Đại học Luật Hà Nội

Khóa luận tốt nghiệp

nghiệp với những nhãn hiệu được sử dụng để xác định và phân biệt hàng hóa
hoặc dịch vụ.”
Trong nhiều văn bản của Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới (Wipo), tên
thương mại được gọi bằng thuật ngữ “trade name” hay “brand name” và được
hiểu là “a name other than its chartered name that a corporation uses to
identify itself”1 (tạm dịch là một cái tên khác với tên theo điều lệ mà một

Khóa luận tốt nghiệp

thông với hàm nghĩa rất rộng và không thống nhất, có thể bao hàm cả tên
doanh nghiệp, chỉ dẫn địa lý, nhãn hiệu hàng hóa, nhãn hàng hóa. Trên các
phương tiện thông tin đại chúng, “thương hiệu” thường được dùng với ý
nghĩa như “danh tiếng” hay “tên tuổi”. Một thuật ngữ đa nghĩa như vậy khó
có thể trở thành một thuật ngữ pháp lý chính thức, ít nhất là vì không thể sử
dụng trong hoạt động tranh tụng, một thuật ngữ mà khi đề cập đến, các bên
liên quan lại có các cách hiểu khác nhau.
Thứ ba, tên thương mại từ góc độ pháp lý
Tên thương mại được đề cập trong các văn bản hiện hành: Luật Doanh
nghiệp 2005, Luật Thương mại 2005, nhưng rõ nét nhất là Luật Sở hữu trí tuệ
2005.
Khoản 6 Điều 5 Luật Thương mại quy định: “Thương nhân gồm cá
nhân, pháp nhân, tổ hợp tác, hộ gia đình có đăng ký kinh doanh hoạt động
thương mại một cách độc lập, thường xuyên;” và “thương nhân phải có tên
thương mại”(Điều 24 Luật thương mại). Còn theo Điều 21, 22 Luật Doanh
nghiệp 2005 thì nội dung đăng ký kinh doanh phải gồm: tên thương nhân, tên
người đại diện có thẩm quyền; tên thương mại, biển hiệu; địa chỉ giao dịch
chính thức; ngành nghề kinh doanh, vốn điều lệ hoặc vốn đầu tư ban đầu; thời
hạn hoạt động, chi nhánh, cửa hàng, văn phòng đại diện nếu có. Như vậy, cả
Luật Doanh nghiệp và Luật Thương mại đều khẳng định chủ thể kinh doanh
phải có tên thương mại nhưng không định nghĩa thế nào là tên thương mại.
Luật Sở hữu trí tuệ 2005 đã đưa ra khái niệm khá đầy đủ về tên thương
mại và điều kiện bảo hộ tên thương mại như sau:
- Khoản 21 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ quy định: “Tên thương mại là tên
gọi của tổ chức, cá nhân dùng trong hoạt động kinh doanh để phân biệt chủ
thể kinh doanh mang tên gọi đó với chủ thể kinh doanh khác trong cùng lĩnh
vực và khu vực kinh doanh”.
Trong đó, “khu vực kinh doanh” là khu vực địa lý nơi chủ thể kinh doanh

Phần phân biệt là tập hợp các chữ cái phát âm được, có thể có nghĩa hoặc
không có nghĩa.
Ví dụ: Với tên “Công ty TNHH xây dựng Thành Đô” thì phần mô tả là
“Công ty TNHH xây dựng”, phần phân biệt là “Thành Đô”;


Trường Đại học Luật Hà Nội

Khóa luận tốt nghiệp

Tuy nhiên, có những trường hợp tên thương mại không bao gồm đầy đủ
cả hai phần mà chỉ cần có chức năng phân biệt doanh nghiệp này với các
doanh nghiệp khác trong cùng lĩnh vực và khu vực kinh doanh.
Ví dụ :“Tổng công ty bưu chính viễn thông Việt Nam VNPT” là tên gọi
đầy đủ của doanh nghiệp (Tổng công ty - mô tả loại hình công ty; Bưu chính
viễn thông- lĩnh vực hoạt động; Việt Nam – tên gọi, VNPT – tên thương mại,
hay còn gọi là tên giao dịch của công ty).
Do đó, chức năng thông tin của tên thương mại cho biết loại hình doanh
nghiệp, lĩnh vực kinh doanh và tên giao dịch của doanh nghiệp.
2.2. Chức năng phân biệt
Tên thương mại còn có chức năng phân biệt. Thực chất, chức năng phân
biệt là hệ quả của chức năng thông tin, tuy nhiên chức năng phân biệt vẫn là
chức năng chính của tên thương mại. Thể hiện ở chỗ một tên thương mại
được bảo hộ hợp pháp khi chúng có khả năng phân biệt chủ thể kinh doanh
mang tên gọi đó với chủ thể kinh doanh khác trong cùng lĩnh vực và khu vực
kinh doanh. Cũng với ví dụ trên : “Công ty TNHH xây dựng Thành Đô” có
khả năng phân biệt với “Công ty TNHH xây dựng Tiến Tài”, vì đây là hai
công ty có cùng loại hình doanh nghiệp và cùng lĩnh vực kinh doanh nhưng
khách hàng vẫn có thể nhận biết bởi tên thương mại của hai công ty khác
nhau ( “Thành Đô” và “Tiến Tài”)

Việt Nam.
Thứ hai, về thành phần cấu tạo
Cấu tạo tên thương mại là tập hợp các chữ cái có thể kèm theo chữ số
phát âm được, có thể chứa một hoặc hai thành phần, đó là thành phần mô tả
và thành phần phân biệt.
Ví dụ: “Công ty tư vấn luật Sở hữu trí tuệ Lê & Lê” là một tên thương
mại trong đó thành phần mô tả về loại hình tổ chức và loại hình kinh doanh là
“Công ty tư vấn luật Sở hữu trí tuệ” và thành phần phân biệt là “Lê & Lê”
Nhãn hiệu hàng hóa có thể gồm những từ ngữ, hình ảnh, chữ cái (có thể
là chữ số), hình vẽ, hoặc sự kết hợp tất cả các yếu tố đó được thể hiện bằng
một hay nhiều màu sắc khác nhau. Những dấu hiệu này phải có khả năng
phân biệt. Một doanh nghiệp có thể sản xuất nhiều loại sản phẩm hoặc có thể


Trường Đại học Luật Hà Nội

Khóa luận tốt nghiệp

kinh doanh nhiều dịch vụ, như thế một doanh nghiệp có thể có nhiều nhãn
hiệu.
Ví dụ: Công ty Dược và Vật tư y tế Phú Yên (Pymepharco) có các
nhãn hiệu sau: COLDFLU, GINVITON, EVEROSE, …
Thứ ba, về điều kiện bảo hộ
Luật Sở hữu trí tuệ 2005 đề cập đến vấn đề điều kiện bảo hộ tên thương
mại và nhãn hiệu như sau:
Tên thương mại được bảo hộ nếu “có khả năng phân biệt chủ thể kinh
doanh mang tên thương mại đó với chủ thể kinh doanh khác trong cùng lĩnh
vực và khu vực kinh doanh” (Điều 76). Khả năng phân biệt nếu đáp ứng các
điều kiện sau đây: “Chứa thành phần tên riêng, trừ trường hợp đã được biết
đến rộng rãi do sử dụng; Không trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn

nhãn hiệu nổi tiếng) và thẩm định.
Thứ năm, về phạm vi bảo hộ và thời hạn bảo hộ
Phạm vi bảo hộ của tên thương mại: trong một địa bàn, cùng một lĩnh
vực; Phạm vi bảo hộ của nhãn hiệu : trên toàn quốc. Như vậy, phạm vi bảo hộ
của tên thương mại, xét theo một khía cạnh là có thể hẹp hơn phạm vi bảo hộ
của nhãn hiệu (phạm vi bảo hộ nhãn hiệu là trên phạm vi toàn quốc, phạm vi
bảo hộ của tên thương mại lại chỉ giới hạn trên phạm vi địa phương) nhưng
trong một số trường hợp sẽ là tương đương như nhãn hiệu. Cụ thể, tên thương
mại sẽ chỉ được bảo hộ trong một khu vực kinh doanh và định nghĩa về khu
vực kinh doanh đã được xác định là “khu vực địa lý nơi chủ thể kinh doanh có
bạn hàng, khách hàng hoặc có danh tiếng”.
Thời hạn bảo hộ của tên thương mại: không hạn chế, đến khi nào doanh
nghiệp còn sử dụng tên thương mại ấy ; Thời hạn bảo hộ của nhãn hiệu: 10
năm (có thể gia hạn nhiều lần, mỗi lần gia hạn 10 năm)
3.2 . Phân biệt tên thương mại với chỉ dẫn địa lý
Sự khác biệt giữa tên thương mại và chỉ dẫn địa lý tương đối rõ ràng.
Thứ nhất, về khái niệm
Tên thương mại là “tên gọi của tổ chức, cá nhân dùng trong hoạt động
kinh doanh để phân biệt chủ thể kinh doanh mang tên gọi đó với chủ thể kinh
doanh khác trong cùng lĩnh vực và khu vực kinh doanh” (khoản 21 Điều 4
Luật Sở hữu trí tuệ). Còn chỉ dẫn địa lý là “dấu hiệu dùng để chỉ sản phẩm có


Trường Đại học Luật Hà Nội

Khóa luận tốt nghiệp

nguồn gốc từ khu vực, địa phương, vùng lãnh thổ hay quốc gia cụ thể” (khoản
22 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ). Danh tiếng của sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý
được xác định bằng mức độ tín nhiệm của người tiêu dùng đối với sản phẩm

Khóa luận tốt nghiệp

dẫn điạ lý thì phải đăng ký. Quyền đăng ký chỉ dẫn địa lý của Việt Nam thuộc
về nhà nước. Nhà nước cho phép tổ chức, cá nhân sản xuất sản phẩm mang
chỉ dẫn địa lý, tổ chức tập thể đại diện cho các tổ chức, cá nhân đó hoặc cơ
quan quản lý hành chính địa phương nơi có chỉ dẫn địa lý thực hiện quyền
đăng ký chỉ dẫn địa lý. Người thực hiện quyền đăng ký chỉ dẫn địa lý không
trở thành chủ sở hữu chỉ dẫn địa lý đó.
Thứ tư, về phạm vi bảo hộ và thời hạn bảo hộ
Nếu tên thương mại chỉ bảo hộ ở phạm vi địa phương (lĩnh vực và khu
vực kinh doanh) thì phạm vi bảo hộ của chỉ dẫn địa lý được xác định tại
Quyết định đăng bạ, được bảo hộ trên phạm vi cả nước. Về thời hạn bảo hộ
chỉ dẫn địa lý cũng khác với tên thương mại, đó là Giấy chứng nhận đăng kí
chỉ dẫn địa lý có hiệu lực vô thời hạn kể từ ngày cấp.
3.3 . Mối quan hệ giữa tên thương mại và tên doanh nghiệp
Theo Điều 4 Luật Doanh nghiệp 2005 thì:“Doanh nghiệp là tổ chức
kinh tế có tên riêng...”. Điều này cho thấy tên doanh nghiệp là một thành tố
quan trọng cấu thành doanh nghiệp. Tên có ý nghĩa rất lớn đối với đời sống
của doanh nghiệp, nó gắn liền với sự tồn tại, hưng thịnh hay suy vong của
doanh nghiệp. Hiểu được tầm quan trọng của tên doanh nghiệp, nhiều doanh
nghiệp đã có những chiến lược xây dựng và bảo vệ đối với tên gọi của doanh
nghiệp mình; bên cạnh đó, pháp luật doanh nghiệp cũng tạo dựng một hành
lang pháp lý nhằm bảo hộ quyền lợi hợp pháp của các doanh nghiệp đối với
tên gọi của doanh nghiệp.
Hiện nay, theo quy định của Luật Doanh nghiệp, doanh nghiệp được
đăng ký ba tên: tên bằng tiếng Việt; tên bằng tiếng nước ngoài (thường gọi là
tên giao dịch hay tên đối ngoại); và tên viết tắt.
Ngoài những tên gọi theo Luật Doanh nghiệp, doanh nghiệp còn có một
loại tên khác: tên thương mại theo Luật Sở hữu trí tuệ. Tên thương mại được
Luật Sở hữu trí tuệ định nghĩa là tên gọi của tổ chức, cá nhân dùng trong hoạt

thường là tên doanh nghiệp, và khi đó sẽ phải đáp ứng các yêu cầu về tên
doanh nghiệp của Luật Doanh nghiệp và các văn bản hướng dẫn thi hành. Để
phân biệt tên thương mại và tên doanh nghiệp cần nhắc tới một số điểm sau:
Thứ nhất, về luật quy định
Tên doanh nghiệp và tên thương mại, dù có nhiều điểm giống nhau trong
cách đặt tên, nhưng được bảo vệ theo hai góc độ khác nhau: tên doanh nghiệp


Trường Đại học Luật Hà Nội

Khóa luận tốt nghiệp

được Luật Doanh nghiệp bảo vệ như một thành phần cấu thành tư cách pháp
lý của doanh nghiệp, còn tên thương mại được Luật Sở hữu trí tuệ bảo hộ với
tư cách là đối tượng sở hữu trí tuệ.
Thứ hai, về thành phần cấu tạo
Khác với tên thương mại, Luật Doanh nghiệp quy định tên doanh nghiệp
phải có ít nhất 2 thành tố là loại hình doanh nghiệp và tên riêng, được ghi rõ
trong Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh.
Ví dụ: “Ngân hàng Thương mại Cổ phần Công thương Việt Nam”
Thứ ba, về căn cứ xác lập quyền
Theo Điều 21, 22 Luật Doanh nghiệp 2005 thì tên thương mại được xác
định chính thức ngay trong giấy đăng ký kinh doanh của chủ thể kinh doanh,
nhưng không có nghĩa là quyền đối với tên thương mại được phát sinh ngay
tại thời điểm thủ tục đăng ký kinh doanh hoàn thành. Hay nói cách khác, đó
chỉ là thời điểm khẳng định của chủ thể sẽ sử dụng tên thương mại đó. Còn
theo quy định của Luật Sở hữu trí tuệ thì quyền đối với tên thương mại chỉ
phát sinh khi nó được đưa vào sử dụng thực sự trên thực tế. Như vậy cơ sở
xác lập quyền đối với tên doanh nghiệp và tên thương mại là khác nhau:
quyền đối với tên doanh nghiệp phát sinh khi doanh nghiệp được cấp giấy

thương mại. Doanh nghiệp tham gia hoạt động trên mạng Internet thì đăng ký
một tên miền là việc đầu tiên cần làm, tên miền riêng khẳng định vị trí, giúp
khách hàng dễ tìm đến website của doanh nghiệp, vừa bảo vệ tên tuổi của
doanh nghiệp trên Interrnet.

Nguồn: />
Thứ hai, về thành phần cấu tạo


Trường Đại học Luật Hà Nội

Khóa luận tốt nghiệp

Cấu tạo tên miền cũng khác tên thương mại: tên miền gồm hai thành
phần, phần đầu có thể có nghĩa hoặc không có nghĩa, phần đuôi bao gồm tên
miền các cấp. Tên miền được chia thành 2 cấp độ cao nhất: tên miền quốc tế
và tên miền quốc gia.
• Tên miền quốc tế là những tên miền có phần đuôi là com, net, org (đến
cuối năm nay sẽ chính thức có thêm tên miền biz và info).
• Tên miền quốc gia có phần đuôi là ký hiệu của mỗi quốc gia. Ký hiệu
này được quy định bởi Tổ chức quản lý tên miền quốc tế - Internet
Corporation for Assigned Names and Numbers (ICANN). Việt Nam có phần
đuôi là VN, Australia là AU, Pháp là FR, ... Hiện có hơn 200 tên miền quốc
gia khác nhau. Dưới mỗi tên miền quốc gia có tên miền cấp 2 và cấp 3 (thí dụ
COM.VN, EDU.VN, ...).
Khi doanh nghiệp tham gia Internet, tên miền đóng vai trò cực kỳ quan
trọng, nó càng quan trọng khi được sử dụng lâu. Người ta có thể đến và giao
dịch thông qua website của doanh nghiệp đó thông qua tên miền, khách hàng
hay đối tác có thể trao đổi email với doanh nghiệp cũng qua tên miền. Có thể
nói hệ thống thông tin liên quan đến Internet của doanh nghiệp phụ thuộc vào

Ngoài ra, theo quy định của Việt Nam, tên miền là tài nguyên quốc gia,
doanh nghiệp chỉ có quyền sử dụng tên miền đó. Quyền sử dụng này có thời
hạn phụ thuộc vào phí gia hạn mà doanh nghiệp nộp. Về nguyên tắc, doanh
nghiệp không tự động có quyền giữ tên miền vô thời hạn. Nhưng trên thực tế,
nếu doanh nghiệp đó trả tiền đầy đủ và không vi phạm các quy định về quyền
sở hữu trí tuệ của người khác, tên miền về cơ bản thuộc về họ.
Một điểm khác biệt nữa ở đây là tên thương mại thuộc đối tượng sở hữu
công nghiệp được Luật Sở hữu trí tuệ bảo vệ, còn tên miền do Trung tâm
VNNIC trực thuộc Bộ thông tin và truyền thông quản lý . Vậy tên miền phải
được Luật Sở hữu trí tuệ bảo hộ thì mới được bảo vệ? Theo quan điểm của
VNNIC, tên miền chỉ là tên định danh địa chỉ Internet (IP) cho các máy chủ
trên mạng và tên miền không được xem là đối tượng được bảo hộ theo Luật
Sở hữu trí tuệ. Quan điểm này chưa hẳn đúng.
Điều 130, Luật Sở hữu trí tuệ quy định hành vi cạnh tranh không lành
mạnh: “Đăng ký, chiếm giữ quyền sử dụng hoặc sử dụng tên miền trùng hoặc
tương tự gây nhầm lẫn với nhãn hiệu, tên thương mại được bảo hộ của người
khác hoặc chỉ dẫn địa lý mà mình không có quyền sử dụng nhằm mục đích


Trường Đại học Luật Hà Nội

Khóa luận tốt nghiệp

chiếm giữ tên miền, lợi dụng hoặc làm thiệt hại đến uy tín, danh tiếng của
nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý tương ứng”.
Hành vi cạnh tranh không lành mạnh còn thể hiện rõ khi chủ sở hữu tên
miền không có quyền lợi nào liên quan đến tên miền đăng ký. Do đó, các nhà
đăng ký tên miền không nên máy móc đợi tên miền là đối tượng sở hữu trí tuệ
mới xét đến khía cạnh bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ. Việc ai đó lấy tên thương
mại đã được bảo hộ nhãn hiệu để đăng ký tên miền đều là hành vi vi phạm

Kỳ về Điều 211 Đạo luật Omnibus Appropriations năm 19984 như sau:
Tranh chấp này liên quan đến một khiếu nại của EC rằng Điều 211 Đạo
luật Omnibus Appropriations năm 1998 của Hoa Kỳ trái với một số quy định
của Hiệp định Trips, cùng với các điều tương ứng của Công ước Paris về bảo
hộ sở hữu công nghiệp. Điều 211 quy định Đạo luật này của Hoa Kỳ nhằm
cấm các giao dịch “liên quan đến nhãn hiệu, tên thương mại hoặc tên kinh
doanh trùng hoặc hầu như tương tự với một nhãn hiệu, tên thương mại hoặc
tên kinh doanh được sử dụng gắn liền với một doanh nghiệp hoặc tài sản đã
bị Chính phủ Cuba tịch thu, trừ trường hợp có sự đồng ý của chủ sở hữu ban
đầu, hoặc người thừa kế nhãn hiệu, tên thương mại hoặc tên kinh doanh đó”.
Điều 211 quy định rằng tòa án bất kỳ của Hoa Kỳ cũng không được phép
“công nhận, thi hành hoặc phê chuẩn theo cách khác đòi quyền bất kỳ của
một công dân được chỉ định” trên cơ sở quyền theo luật chung (luật án lệ)
hoặc theo Điều 515305 phần 31, Bộ quy chế Hoa Kỳ. Theo đó, Quy chế về
kiểm sát các tài sản của Cuba đã được ban hành.
Vấn đề là trong vụ tranh chấp này đặt ra các câu hỏi về việc giải thích
các Điều ước quốc tế, là các tên thương mại có được bao hàm bởi Hiệp định
TRIPS hay không. Điều 8 Công ước Paris quy định rằng tên thương mại
“phải được bảo hộ ở tất cả các nước thuộc Liên hiệp mà không phải thực
hiện nghĩa vụ nộp đơn đăng ký, bất kể tên thương mại đó có tạo thành một
phần của nhãn hiệu hay không”. Hội đồng giải quyết tranh chấp đã phán
quyết rằng tên thương mại không thuộc các loại đối tượng sở hữu trí tuệ mà
Hiệp định TRIPS áp dụng. Hội đồng giải quyết khiếu nại không nhất trí với
Hội đồng giải quyết tranh chấp về vấn đề này. Hội đồng lưu ý rằng Điều 8
3

WTO, the Panel Report, United States – Section 211 Omnibus Appropriation Acts of 1988 (US – Havana
Club), WT/DS 176/R, circulated on 6 August 2001, các đoạn 336, 337, 341
4
Curriculum on intellectual property – Professor Michael Blakeney

nhập, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 54/ NĐ-CP ngày 10/3/2000 về bảo
hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh, chỉ dẫn địa lý, tên
thương mại và bảo hộ quyền chống cạnh tranh không lành mạnh liên quan tới
sở hữu công nghiệp. Nghị định này là văn bản quy phạm pháp luật đầu tiên
quy định tương đối đầy đủ và chi tiết về bảo hộ tên thương mại với tư cách là
đối tượng quyền sở hữu công nghiệp, cũng là văn bản quan trọng quy định về
điều kiện bảo hộ tên thương mại.
Sau đó, Nhà nước đã ban hành một số văn bản khác quy định rõ ràng
hơn, cụ thể hơn về tên thương mại như: Bộ luật Dân sự 2005, Luật Thương
mại 2005, Luật Doanh nghiệp 2005, đặc biệt, sự ra đời của Luật Sở hữu trí tuệ
2005 tạo sự phát triển lớn trong bảo hộ tên thương mại, chế độ pháp lý đối với
tên thương mại ở Việt Nam đã hoàn thiện một cách đáng kể, phù hợp hơn với
thực tiễn, tương ứng với thông lệ nhiều nước.


Trường Đại học Luật Hà Nội

Khóa luận tốt nghiệp

2. Điều kiện bảo hộ tên thương mại theo quy định pháp luật Việt Nam
So với các văn bản luật trước đây (Nghị định 63/CP, Nghị định
54/2000/NĐ – CP..), Luật Thương mại, Luật Doanh nghiệp, thì Luật Sở hữu
trí tuệ đã có những quy định cụ thể, đầy đủ nhất về tên thương mại và điều
kiện bảo hộ tên thương mại. Một tên thương mại được bảo hộ khi đáp ứng
được hai điều kiện: trước hết phải là tên gọi của tổ chức, cá nhân dùng trong
hoạt động kinh doanh và phải có khả năng phân biệt.
2.1. Điều kiện thứ nhất: tên thương mại trước hết phải là tên gọi của tổ
chức, cá nhân trong hoạt động kinh doanh
Có một điểm rất dễ nhận thấy là khi quy định về tên thương mại, các văn
bản luật như Nghị định 54/2000/NĐ-CP (Điều 14), Luật sở hữu trí tuệ (khoản

hoạt động kinh doanh, không có tên giao dịch thương mại, vì thế nó không
thuộc đối tượng bảo vệ dưới danh nghĩa tên thương mại. Vậy, tên thương mại
phải được dùng trong “hoạt động kinh doanh” và được bảo hộ nếu sử dụng
hợp pháp.
2.2. Điều kiện thứ hai: khả năng phân biệt của tên thương mại.
Khả năng phân biệt là điều kiện bắt buộc luôn được đặt ra khi xem xét
một tên gọi có khả năng được bảo hộ là tên thương mại hay không. Yêu cầu
về khả năng phân biệt xuất phát từ chính chức năng của tên thương mại, đấy
là phân biệt chủ thể kinh doanh mang tên thương mại đó với các chủ thể kinh
doanh khác trong cũng lĩnh vực và khu vực kinh doanh.
Theo Điều 14 Nghị định 54/2000/ NĐ-CP quy định: tên thương mại
được bảo hộ là tên gọi của tổ chức, cá nhân dùng trong hoạt động sản xuất
kinh doanh đáp ứng đủ hai điều kiện sau: Một là: tên thương mại phải là tập
hợp các chữ cái, có thể kèm theo chữ số phát âm được; Hai là: có khả năng
phân biệt chủ thể kinh doanh trong cùng lĩnh vực. Trong khi đó, Điều 76 Luật
Sở hữu trí tuệ quy định về điều kiện chung đối với tên thương mại được bảo
hộ là “.. có khả năng phân biệt chủ thể kinh doanh mang tên thương mại đó
với chủ thể kinh doanh khác trong cùng lĩnh vực và khu vực kinh doanh.”.
Theo quy định này, Luật Sở hữu trí tuệ đã quy định phạm vi bảo hộ đối với
các doanh nghiệp không chỉ cùng lĩnh vực kinh doanh mà còn cả “khu vực


Trường Đại học Luật Hà Nội

Khóa luận tốt nghiệp

kinh doanh”, tuy nhiên khái niệm “khu vực kinh doanh” cho đến nay vẫn đang
gây nhiều tranh cãi khi áp dụng vào thực tiễn. Mặt khác, Nghị định 54/2000/
NĐ – CP không quy định rõ thế nào là tên thương mại “có khả năng phân
biệt” như Luật Sở hữu trí tuệ. Như vậy, so với Nghị định 54/2000/ NĐ-CP thì


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status