Một số biện pháp rèn kỹ năng làm văn miêu tả cho học sinh lớp 4, lớp 5 - Pdf 53

PHỤ LỤC
Nội dung
1. PHẦN MỞ ĐẦU
1.1. Lý do chọn đề tài
1.2. Mục đích nghiên cứu
1.3. Đối tượng nghiên cứu
1.4. Phương pháp nghiên cứu
2. PHẦN NỘI DUNG
2.1. Cơ sở lí luận
2.2. Thực trạng của vấn đê
2.3. Các giải pháp
2.4. Hiệu quả
3. KẾT LUẬN , KIẾN NGHỊ
3.1. Kết luận
3.2. Kiến nghị
4. TÀI LIỆU THAM KHẢO
5. DANH MỤC CÁC ĐỀ TÀI SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐÃ ĐƯỢC HỘI ĐỒNG ĐÁNH GIÁ XẾP LOẠI CẤP PHÒNG
GD&ĐT

Trang
2
2
3
3
3
3
3
4
5
12

rung động trước cái hay, cái đẹp. Các em biết tự nhận xét về mình, biết loại trừ cái xấu
để vươn tới cái chân - thiện - mĩ. Chính vì vậy, khi giảng dạy người giáo viên phải biết
vận dụng quá trình nhận thức đó vào tiến trình bài giảng để phù hợp với tư tưởng, tâm
sinh lý học sinh để dần dần hình thành nhân cách cho các em.
Vì trong chương trình tiểu học, môn Tiếng Việt chiếm vị trí rất quan trọng. Tiếng
Việt tạo điều kiện và cơ sở cho học sinh học tốt các môn học khác, đặc biệt chương trình
mới đã chú trọng đến yêu cầu luyện tập thực hành về kĩ năng luyện nói, viết cho học
sinh. Nhưng dạy tập làm văn ở lớp 4, lớp 5 có những điểm khó, vì nó đòi hỏi năng lực
hướng dẫn và ứng xử linh hoạt của giáo viên trên lớp. Bởi vậy, làm thế nào để dạy tốt
phân môn tập làm văn là một vấn đề hết sức cần thiết đối với mỗi giáo viên nhằm nâng
cao chất lượng dạy và học.
Là một giáo viên được phân công dạy lớp 4, lớp 5, qua thời gian giảng dạy tôi
thấy học sinh của mình rất cố gắng học tập, đặc biệt là môn Tiếng Việt. Thực tế cho thấy
khi học phân môn Tập làm văn thì nhiều em còn lúng túng, kết quả chưa cao. Với suy
nghĩ: " Làm thế nào để học sinh viết được một bài văn hay và tự tin trong học tập ?” Để
tháo gỡ những khó khăn trên, tôi quyết định chọn đề tài: "Một số biện pháp rèn kĩ năng
làm văn miêu tả cho học sinh lớp Bốn, lớp Năm trường Tiểu học Thị trấn Cành
Nàng”.

2


1.2. Mục đích nghiên cứu:
Nghiên cứu đề tài, tôi không có nhiều tham vọng mà chỉ nhằm mục đích đóng góp
một phần công sức của mình vào công tác giáo dục của nhà trường. Với việc nghiên cứu
đề tài, tôi mong muốn sẽ có được bài học kinh nghiệm để có thể áp dụng vào thực tiễn
giảng dạy môn Tập làm văn trong trường Tiểu học Thị trấn Cành Nàng nói riêng, trong
ngành giáo dục huyện nhà nói chung. Điều này càng có ý nghĩa nếu đề tài thành công,
đồng thời là chất lượng học tập của các em học sinh cũng sẽ được nâng lên một cách
đáng kể.

người, thiên nhiên qua các bài văn, đoạn văn điển hình. Khi phân tích đề tập làm văn,
học sinh lại có dịp hướng tới cái chân, cái thiện, cái mĩ được định hướng trong các đề
bài. Những cơ hội đó làm cho tình cảm yêu mến, gắn bó với thiên nhiên, với người và
việc xung quanh được nảy nở, tâm hồn của học sinh thêm phong phú. Đó cũng là những
nhân tố quan trọng góp phần hình thành nhân cách tốt đẹp cho các em.
3


Trong văn miêu tả, người viết không đưa ra những nhận xét chung chung, hời hợt
hoặc những lời đánh giá trừu tượng về đối tượng mà văn miêu tả giúp người đọc “nhìn”
thấy sự vật, hiện tượng, cảnh vật, thiên nhiên,… một cách sinh động, cụ thể qua việc sử
dụng ngôn ngữ. Hình ảnh trong miêu tả không phải là hình ảnh chụp lại, sao chép lại
nhưng nó giúp người đọc thấy rõ đối tượng như đang xem tận mắt. Miêu tả còn là sự kết
tinh của những nhận xét tinh tế, những rung động sâu sắc mà người viết đã ghi lại được
khi quan sát, tìm hiểu đối tượng. Mỗi bài văn miêu tả đều thể hiện rõ tình cảm của người
viết. Tình cảm đó có thể là sự yêu thương hay căm ghét; cũng có thể là sự gắn bó thân
thiết hay hời hợt nông cạn. Trong văn miêu tả, đối tượng rất phong phú, đa dạng. Đó có
thể là con người (ông bà, cha mẹ, thầy cô,…); hay đó là phong cảnh thiên nhiên, con vật,
đồ vật,… nên chúng có những đặc điểm khác nhau. Chính vì thế, việc giúp các em thấy
rõ những nét riêng đó của mỗi đối tượng là rất quan trọng, tạo điều kiện cho các em viết
được những bài văn miêu tả vừa đúng thể loại, vừa mang những nét riêng của đối tượng
và thể hiện cá tính của người viết.
Muốn có bài tập làm văn đạt kết quả cao, đòi hỏi mỗi em phải chịu khó tập viết,
tập nói, tập dùng từ, đặt câu, viết đoạn… nhiều lần. Mà không ngại tập đi tập lại, không
ngại sửa đi sửa lại đoạn văn, câu văn đã viết. Và chính bản thân người giáo viên cũng
kiên trì hướng dẫn học sinh luyện tập và giúp các em sửa chữa các sai sót. Một câu châm
ngôn đã nói: “Tài năng một phần mười là bẩm sinh, chín phần mười là do lao động kiên
trì làm nên”.
2.2. Thực trạng:
Qua thực tế việc dạy học ở trường Tiểu học Thị trấn, đặc biệt là lớp 4, lớp 5 tôi

20
14
56
4
16
Điểm
9-10
7-8
5-6

Ví dụ: Đề bài: Quan sát một con vật nuôi trong nhà mà em thích và ghi lại những
quan sát của em.
Tôi sẽ gợi ý cho học sinh bằng những câu hỏi như sau:
- Tên con vật, ai nuôi, đã được bao lâu, vẻ đẹp của con vật khiến em yêu thích?
Hình dáng của con vật, màu sắc của lông, một đặc điểm nổi bật nhất của con vật
(đặc điểm về giống loài, về tính tình và thói quen, về hoạt động, về hình dáng, ...).
Một số bộ phận của con vật:
+ Đầu: hinh dáng, màu lông, hoạt động, đặc điểm riêng.
+ Mặt: mắt, tai, mũi, miệng có đặc điểm gì (mỗi bộ phận cần quan sát hình dáng,
Hình dáng, màu sắc, hoạt động, đặc điểm riêng khác,...)?
+ Chân: mấy chân (hoặc mấy vây), hình dáng, màu sắc, hoạt động, đặc điểm riêng
khác?
5


-

Một số hoạt động của con vật: ăn, chạy nhảy hoặc chơi, bơi,...
Sau khi quan sát con mèo và với các câu hỏi gợi ý trên tất cả 34/35 học sinh lớp có
bài làm và kết quả thu được tương đối tốt. Cụ thể: có
11 bài đạt điểm 9- 10,
15 bài đạt điểm 7- 8, còn
8 bài đạt điểm 5- 6 không có bài dưới điểm 5. Tiêu biểu nhất là bài của em Bùi Anh


* Giải pháp thứ hai: Hướng dẫn học sinh lựa chọn từ ngữ (màu sắc, hình dáng, âm
thanh, cảm xúc), dùng các biện pháp tu từ (so sánh, nhân hóa,...) trong bài văn
miêu tả.
Một bài văn miêu tả hay là bài văn giàu chất gợi cảm trên cơ sở biết sử dụng các
tính từ, từ tượng thanh, từ tượng hình, từ láy và các hình thức tu từ như so sánh, nhân

Ví dụ: Tả tiếng chi khướu hót có thể dùng các từ mô phỏng âm thanh thánh thót
như tiếng sáo diều khi gần, khi xa. Tả tiếng cười của người đàn ông lớn tuổi có thể dùng
từ khà khà,... tả tiếng cười của trẻ con có thể dùng từ khúc khích, tiếng mưa rơi nên dùng
từ rào rào (nếu mưa to và mạnh), mưa lộp độp (nếu mưa chậm nhưng nặng hạt),...
Sau khi hướng dẫn học sinh cách lựa chọn từ ngữ và sử dụng các biện pháp tu từ
(so sánh, nhân hóa,...) trong bài văn miêu tả tôi đã cho học thực hành thông qua đề kiểm
tra sau:
Em hãy viết một đoạn văn 5- 7 câu tả về một vài bộ phận của cây trong đó có sử
dụng phép so sanh, nhân hóa.
Nhìn chung tất cả 25 học sinh lớp 5B đều đã sử dụng phép so sánh, nhân hóa để
viết đoạn văn theo đúng yêu cầu của đề bài một cách có hiệu quả và bài làm được đánh
giá tốt nhất là bài làm của em Trần Phương Thảo, nội dung như sau:

7


* Giải pháp thứ ba: Hướng dẫn học sinh tích lũy vốn từ ngữ khi học các phân môn
khác:
* Giúp các em tích lũy vốn từ ngữ miêu tả qua các bài tập đọc: Những bài tập đọc
là các bài văn miêu tả. Hướng dẫn học sinh phát hiện cái hay, sự sáng tạo của các nhà
văn khi dùng chúng.
Ví dụ, dạy bài “Quang cảnh làng mạc ngày mùa” (Tiếng Việt 5, tập 1), tôi đã phân
tích cách dùng từ ngữ để diễn tả màu sắc của tác giả. Tác giả đã sử dụng rất nhiều từ chỉ
màu vàng nhưng mỗi từ được dùng để miêu tả những đối tượng khác nhau. Các từ ngữ
tác giả chọn trong bài văn miêu tả rất chính xác, phù hợp với đối tượng miêu tả. Hướng
dẫn học sinh nhận xét cách dùng từ của tác giả để từ đó các em thấy được giá trị của
cách dùng từ khi viết bài, không dùng từ một cách tùy tiện.
Ví dụ: Màu lúa chín dưới đồng vàng xuộm lại. Nắng nhạt ngã màu vàng hoe.

8

Từ đó, tôi đã giúp các em có vốn từ ngữ về miêu tả đặc điểm tính cách
của người, giúp các em vận dụng vào viết văn. Em Trần Linh lớp tôi đã viết được
đoạn văn như sau:
Bạn Phương là một người vui vẻ, sống chan hòa với mọi người. Phương sẵn sàng
giúp đỡ bạn bè lúc khó khăn. Ở nhà, đối với ông bà, cha mẹ Phương là người cháu rất
hiếu thảo, đối với em Phương là người chị dịu dàng, luôn nhường nhịn các em...
Việc học và mở rộng vốn từ láy, từ tượng thanh, từ tượng hình cũng có ý nghĩa tích
cực đối với việc tích luỹ vốn từ ngữ miêu tả của học sinh (róc rách, rì rầm, thánh thót,
ngân nga…; ngoằn ngoèo, chót vót, thăm thẳm, mênh mông, ngọt ngào…). Những từ
ngữ này giúp rất nhiều cho học sinh khi tả các con vật, cây cối, tả người, tả cảnh……
Đọc tác phẩm văn học truyện ngắn, thơ… cũng là dịp để học sinh tích luỹ vốn từ
ngữ miêu tả. Với biện pháp này, tôi thường xuyên nhắc nhở học sinh đọc ở nhà, xem các
bài đọc thêm, tham khảo những bài văn hay.
9


Tiết luyện từ ở lớp 4, lớp 5 có loại bài dùng từ đặt câu, viết thành một đoạn văn
ngắn theo chủ đề đã xác định nhằm luyện cho học sinh cuối bậc Tiểu học kĩ năng sử
dụng từ ngữ ở mức độ cao, trực tiếp phục vụ cho việc làm văn. Ở những bài tập này, tôi
gợi ý hướng làm bài cho các em bằng một số câu hỏi nhằm viết một đoạn văn mạch lạc,
đúng chủ đề cho trước (hoặc vấn đề do học sinh tự chọn theo yêu cầu của đề bài).
Tôi đưa ra một chủ đề, yêu cầu học sinh tìm những từ ngữ thuộc chủ đề đó và viết
một đoạn văn miêu tả có sử dụng các từ mà các em vừa tìm được.
Ví dụ: Đưa ra chủ đề “mùa xuân”, các em học sinh tìm được là: hoa đào, mưa phùn,
chim én, đâm chồi, ấm áp,…
Tôi đưa ra một số từ ngữ, yêu cầu học sinh sắp xếp các từ ngữ đó theo chủ đề và
đặt tên cho các chủ đề phù hợp với các từ mà các em vừa sắp xếp được.
Ví dụ: Cho các từ sau:
Cao lớn, trung thực, lười nhác, giả dối, nhỏ bé, chăm chỉ, sần sùi, trắng trẻo, mịn
màng, lực lưỡng, mảnh khảnh, đen đủi, mập mạp, còm nhom, gian giảo, nhút nhát, bạo


Ví dụ: Đề bài “Tả cụ già mà em kính yêu”.
+ Có em mở bài đi thẳng luôn vào đề: “Trong gia đình em, có một người mà em
rất mực yêu quý, đó là bà nội của em (chỉ bằng một câu, nhưng đủ ý).
Hoặc: Trong gia đình, em yêu nhất là bà nội.
+ Có em mở bài hơi dài nhưng sinh động, gây ấn tượng ngay từ phút đàu: “ Bà ơi
bà, cháu yêu bà lắm!”
Tôi vừa hát vừa chải mái tóc trắng như cước của bà. Bà là nội của tôi, ở với bố mẹ
tôi từ khi tôi còn ở tận ngoài miền Trung chuyển vào Nam sống cho đến bây giờ.
Hoặc: “Bà ơi, cháu đau đầu quá bà ạ!” Vừa về đến nhà, tôi vội cất cặp và chạy
xuống bếp. Bà tôi đang lúi húi nhặt rau. Nghe thấy vậy, bà dừng tay ngay. Bà lau tay rồi
sờ trên trán tôi:
- Thôi chết, cháu tôi ốm rồi! Thế đi học cháu có đội nón không?
Tôi mếu máo: “Thưa bà, cháu quên đội”.
Với những tình thương ấy đã làm cho tôi càng yêu kính bà nhiều hơn.
+ Có em mở bài rất chân thành và xúc động:
“Mùa xuân xinh đẹp lại về rồi. Năm mới, cháu lại thêm một tuổi mới. Nhưng
xuân này, cháu đã vĩnh viễn mất bà, bà ơi. Bà có biết không? Nhiều đêm cháu không
ngủ được vì nhớ bà, lòng luôn mong mỏi bà về với cháu dù chỉ trong giấc mơ. Những kỉ
niệm xưa vẫn còn sống mãi trong tâm trí cháu, bà ơi!”.
Nhờ khuyến khích học sinh diễn đạt phần mở bài bằng những cách làm khác nhau
mà vẫn đảm bảo được nội dung chính.
*Viết đoạn thân bài: Với phần này học sinh cần đi sâu vào miêu tả đối tượng, từ bao
quát đến chi tiết với những đặc điểm nổi bật qua sự cảm nhận của bản thân sao cho
người đọc có thể hình dung ra đúng đối tượng cần miêu tả. Mặt khác, cần hướng dẫn các
em miêu tả theo một trình tự hợp lý. Mỗi ý chính trong dàn bài được phát triển thành
một đoạn văn. Mỗi đoạn văn phải có câu mở đầu và câu kết đoạn. Ơ phần này tôi dặc
biệt chú ý đến cách dùng từ của các em. Yêu cầu các em sử dụng các biện pháp nghệ
thuật như so sánh, nhân hóa, dùng phép liên tưởng,…
*Viết phần kết bài:

dùng từ đặt câu... đã giảm hẳn gần như không còn hoặc còn rất ít.
Nhiều học sinh biết cách sử dụng những biện pháp tu từ, so sánh... vào bài của
mình làm cho bài văn trở nên sinh động, giàu hình ảnh. Bên cạnh đó các em còn biết làm
văn có cảm xúc hơn, câu văn chau chuốt hơn...
Dưới đây là bảng tổng hợp kết quả quan sát được trước và sau khi áp dụng ở lớp
4B cuối kì I và cuối năm học 2016 - 2017 đối chiếu so sánh ở lớp 4A (không được áp dụng
phương pháp trên).

Lớp
4B
TS:
25
Lớp
4A
TS:
26

Trước khi áp dụng (Cuối HKI) Sau khi áp dụng (Cuối năm học)

Điểm
SL
TL

9-10
7-8
5- 6

3
3
7
15
1
TL
7,7
23,1
57,7
11,5
11,5
27
57,7
3,8
Và tiếp tục tôi áp dụng phương pháp này với lớp 5B.
Dưới đây là bảng tổng hợp kết quả quan sát khi được áp dụng ở lớp 5B cuối kì I
và GHKII năm học 2017 - 2018 đối chiếu so sánh ở lớp 5A (không được áp dụng phương
pháp trên).

Lớp
5B Điểm
SL
TS:
25
TL
Lớp
5A Điểm
TS:
SL
26

3,8

9-10
7-8
5-6

nhiệm vụ:
Tổ chức các chuyên đề bổ trợ thêm kiến thức, phương pháp dạy cho giáo viên.
Tích cực tổ chức các hoạt động ngoại khóa về văn học cho giáo viên và học sinh
với các chủ đề về: " Tài trí học trò" " Tìm hiểu về nhà văn, nhà thơ, các tác phẩm văn
học"... để khơi dậy lòng say mê học Tiếng Việt, kích thích sự tò mò, thói quen tìm tòi
sáng tạo và thấy được cái hay cái đẹp của tác phẩm văn học mà các em được tìm hiểu.
Đối với giáo viên:
Giáo viên không ngừng học hỏi, tìm tòi để nâng cao hiểu biết cũng như tìm ra
cách truyền đạt tốt nhất đến học sinh.
13


Giáo viên phải hớng học sinh đi vào các bài tập quan sát để tìm
những nét riêng, nét độc đáo của đối tợng, định hớng, và lựa chọn
từ ngữ để từ đó thổi hồn mình vào đối tợng làm cho nó trở nên
sống động, đẹp đẽ và gần gủi hơn.
Chun b tt bi ging, khụng l thuc quỏ nhiu vo sỏch hng dn ging dy.
Ngi giỏo viờn phi luụn cú lũng yờu ngh, yờu ngi, cú ý thc trỏch nhim v tinh
thn cu tin, khụng ngng hc hi v mnh dn ỏp dng nhng vn mi vo thc
tin ging dy.
Qua thc t ging dy trờn lp cng vi nhng kinh nghim ca bn thõn v s
nghiờn cu, hc hi ti liu, ng nghip, tụi nhn thy phn trỡnh by trờn cũn cú
nhng hn ch. Vỡ vy tụi rt mong nhn c s gúp ý ca Hi ng khoa hc ti
ca tụi hon thin hn.
Tụi xin chõn thnh cm n !
XC NHN CA TH TRNG
N V

Cnh Nng, ngy 02 thỏng 4 nm 2018
Tụi xin cam oan õy l SKKN


CÁC ĐỀ TÀI SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐÃ ĐƯỢC HỘI ĐỒNG ĐÁNH GIÁ
XẾP LOẠI CẤP PHÒNG GD&ĐT, CẤP SỞ GD&ĐT VÀ CÁC CẤP CAO HƠN
XẾP LOẠI TỪ C TRỞ LÊN

TT
1.

Tên đề tài SKKN
Một số kinh nghiệm dạy kiến
thức hình tam giác cho học
sinh lớp 5.

Kết quả
Cấp đánh
đánh giá
giá xếp loại
xếp loại
(Phòng, Sở,
(A, B,
Tỉnh...)
hoặc C)
Huyện

C

Năm học
đánh giá xếp
loại
Năm học :


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status