Một số biện pháp nhằm phát huy tính chủ động, tích cực của học sinh khi học môn TNXH lớp 1 - Pdf 53

MỤC LỤC
1. PHẦN MỞ ĐẦU

1

1.1 Lí do chọn đề tài

1

1.2. Mục đích của đề tài

1

1.3. Đối tượng nghiên cứu

1

1.4. Phương pháp nghiên cứu

2

2. PHẦN NỘI DUNG

3

2.1. Cơ sở lí luận

3

2.2.Thực trạng của vấn đề


2.3.4. Lựa chọn các hình thức dạy học phù hợp

12

2.3.4.1. Hình thức dạy học trong lớp

13

2.3.4.2. Hình thức dạy học ngoài lớp

13

2.4.Kết quả

19

3. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

20

TÀI LIỆU THAM KHẢO

21


1. PHẦN MỞ ĐẦU
1.1. Lí do chọn đề tài:
Cùng với sự phát triển đi lên của xã hội, của khoa học, con người cũng cần
phải được trang bị lượng kiến thức đầy đủ, toàn diện. Muốn vậy, mục tiêu đầu
tiên của giáo dục phải đào tạo ra những con người, phát triển toàn diện. Chính vì

sinh trong tiết Tự nhiên và Xã hội .
1.3. Đối tượng nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Các biện pháp dạy học giúp học sinh học tốt môn
Tự nhiên và Xã hội lớp 1.
2


- Đối tượng áp dụng: học sinh lớp 1C - Trường Tiểu học Thị trấn Cẩm Thủy
1.4. Phương pháp nghiên cứu
Ngoài việc học hỏi đồng nghiệp tôi còn sử dụng các phương pháp sau:
- Phương pháp nghiên cứu lí luận.
- Phương pháp nghiên cứu SGK, tài liệu tham khảo.
- Phương pháp quan sát.
- Phương pháp thực nghiệm.

2. PHẦN NỘI DUNG
3


2.1.Cơ sở lí luận
Chúng ta ai cũng biết lớp 1 là lớp học đầu tiên của bậc Tiểu học, là lớp thừa
hưởng trực tiếp kết quả học tập của trẻ từ mẫu giáo lên. ở mẫu giáo, các em học
theo cách “Chơi để học - Vui chơi là hoạt động chủ đạo”. Nhưng vào lớp 1, hoạt
động học tập được chuyển dần sang chủ đạo, học tập trở thành hoạt động chính
của trẻ.
Môn học Tự nhiên và Xã hội là môn học khá mới mẻ với các em lớp 1. Vậy
dạy môn học này thế nào để giúp các em tiếp thu kiến thức một cách nhẹ nhàng,
không áp đặt. Học sinh tự tìm tòi phát hiện kiến thức làm phong phú cuộc sống
của bản thân phù hợp với lứa tuổi. Từ đó, các em biết vận dụng vào cuộc sống
hàng ngày một các hợp lý. Để làm được điều đó, mỗi khi lên lớp giáo viên cần


2.3.1. Sử dụng đồ dùng và phương tiện dạy học có hiệu quả:
2.3.1.1.Đồ dùng dạy học:
Học sinh tiểu học tư duy vẫn chủ yếu là “Từ trực quan sinh động đến tư
duy trừu tượng. Từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn” (Lê-nin). Đặc biệt với đối
tượng học sinh lớp 1, vừa từ mẫu giáo lên, do vậy tư duy của các em là tư duy
cụ thể. Nên đồ dùng dạy học là phương tiện không thể thiếu trong mỗi tiết học.
Đồ dùng môn Tự nhiên và Xã hội bao gồm: tranh, ảnh, thẻ từ, bảng nhóm,
vật thật.
2.3.1.1.1. Đồ dùng là tranh ảnh:
Trong sách giáo khoa Tự nhiên và Xã hội, mỗi bài đều có tranh minh họa
với màu sắc đẹp và hấp dẫn. Bên cạnh đó, tôi và học sinh sưu tầm nhiều tranh
ảnh phục vụ cho bài dạy, tranh đảm báo tính thẩm mỹ, to, rõ ràng, màu sắc phù
hợp với trẻ.
Ví dụ : Khi dạy bài 23: “Cây hoa”
Hoạt động 2: Làm việc với SGK.
- Mục tiêu:
+ HS biết đặt câu hỏi và trả lời câu hỏi dựa trên các hình trong SGK.
+ Biết ích lợi của việc trồng hoa.
- Cách tiến hành:
+ Giáo viên chia nhóm 4 học sinh. Giúp đỡ kiểm tra hoạt động thảo luận
của HS.
+ HS quan sát tranh, một HS đọc câu hỏi một HS trả lời, những HS khác bổ
sung.
+ Kiểm tra kết quả của hoạt động.
- Sau khi học sinh kể tên các loại hoa có trong bài, tôi yêu cầu học sinh kể
tên các loại hoa khác mà em biết (dựa vào tranh ảnh mà các em chuẩn bị). Tiếp
theo giáo viên đưa ra tranh ảnh về một số loại hoa và yêu cầu học sinh nên tên.
Từ đó giúp học sinh mở rộng hiểu biết và biết được nhiều loại hoa qua tranh ảnh
sưu tầm.

- Mục tiêu của hoạt động này là:
+ Học sinh biết tên các bộ phận của cây rau.
+ Biết phân biệt loại rau này với loại rau khác.
- Tôi đã tiến hành như sau: Chia học thành các nhóm đôi, hướng dẫn học
sinh quan sát cây rau mang đến lớp và trả lời các câu hỏi:
+ Hãy chỉ và nói rễ, thân, lá của cây rau mang đến lớp? Trong đó, bộ phận
nào ăn được?
+ Em thích ăn rau nào?
Sau đó, tôi gọi học sinh trình bày. Từ việc quan sát cây rau, học sinh chủ
động, tích cực quan sát và trao đổi với bạn để đi đến thống nhất câu trả lời như:
các cây rau đều có rễ, thân, lá. HS nêu được các bộ phận của rau ăn được:
+ Các loại rau ăn lá: bắp cải, xà lách,...
+ Các loại rau ăn lá và thân: rau muống, rau cải,...
+ Các loại ra ăn rễ: củ cải, cà rốt,...
+ Các loại rau ăn thân: xu hào,...
+ Các loại rau ăn quả: cà chua, su su, đậu, bí. mướp, dưa chuột,...
6


+ Các loại rau ăn hoa: súp lơ, thiên lí, ...
2.3.1.2. Các thiết bị dạy học hiện đại:
1.3.1.2.1. Băng đĩa
Ngày nay khoa học phát triển, việc sử dụng băng đĩa không quá khó khăn,
nó giúp cho giáo viên cung cấp cho học sinh những tư liệu làm phong phú kiến
thức bài học, hơn nữa nó giúp cho học sinh có thêm hứng thú trong học tập, tạo
sự mới lạ trong giảng dạy.
Ví dụ : Khi dạy bài 11: “Gia đình”
Phần giới thiệu bài: Tôi cho cả lớp nghe bài hát “Cả nhà thương nhau”, sau
đó tôi dẫn dắt học sinh vào bài.
Sau khi cho học sinh tìm hiểu hoạt động 1 và hoạt động 2, đến hoạt động

* Cách tiến hành:
- Giáo viên hướng dẫn học sinh quan sát: 1 học sinh đọc câu hỏi trong
SGK
+ Con mèo có lông màu gì?
(Chỉ nói tên các bộ phận bên ngoài của con mèo)
+ Học sinh quan sát theo nhóm đôi và mô tả con mèo với bạn (1 học sinh
hỏi - 1 học sinh trả lời).
+ Gọi một số học sinh lên chỉ tranh phóng to và trình bày.
+ Hỏi: Khi vuốt ve bộ lông mèo, em thấy thế nào ?
- Giáo viên kết luận: Mèo có đầu, mình, đuôi và bốn chân. Toàn thân được
phủ một lớp lông mềm và mượt.
Ví dụ 2: Khi dạy bài: “Thời tiết”
+ Học sinh ra ngoài trời, quan sát kỹ bầu trời và cảnh vật. Học sinh đã được
học các dạng của thời tiết nên tôi đặt câu hỏi:
Bầu trời như thế nào? (2 học sinh trả lời)
Trời có gió không? Vì sao con biết? (1 học sinh trả lời)
Hãy nói về thời tiết ngày hôm nay (2 học sinh trả lời)
Cũng trong bài này, học sinh được tham gia một hoạt động nữa là: Thu thập
và trình bày những câu ca dao, tục ngữ về thời tiết để khai thác sự hiểu biết của
các em (Tôi đã cho học sinh chuẩn bị trước khi đến lớp). Học sinh đọc cho nhau
nghe trong nhóm, sau đó đọc trước lớp những câu ca dao, tục ngữ mình thu thập
được:
- Chuồn chuồn bay thấp thì mưa
Bay cao thì nắng, bay vừa thì râm.
- Ráng mỡ gà ai có nhà phải chống.
- Đêm tháng năm chưa nằm đã sáng
Ngày tháng mười chưa cười đã tối
- Trăng quầng thì hạn, trăng tán thì mưa.
Giáo viên có thể giải thích thêm cho học sinh hiểu những câu tục ngữ các
em vừa nêu.

- Chi tiết: Bông hoa như thế nào (nêu màu sắc, hình dáng, hương thơm).
Để sử dụng phương pháp này đạt hiệu quả, nhằm phát huy tính tích cực học
tập của học sinh, giáo viên phải hướng dẫn học sinh vào đối tượng quan sát một
cách có mục đích.
* Mục đích quan sát: Quan sát phải có mục đích rõ ràng. Tuy nhiên, mục
tiêu quan sát phải đơn giản, phù hợp với đặc điểm nhận thức của học sinh. Trong
quá trình quan sát, giáo viên cần đặt những câu hỏi ngắn và rõ ràng để hướng
dẫn học sinh tập trung vào kiến thức cần tìm kiếm.
Ví dụ:
- Hãy quan sát cây hoa, nhìn kỹ từ gốc đến ngọn rồi chỉ và nêu tên các bộ
phận bên ngoài của cây hoa.
- Bông hoa có đặc điểm gì mà ai cũng thích nhìn và ngắm.
* Trong quá trình quan sát, học sinh phải được nói với các bạn, hỏi bạn,
thảo luận với bạn về kết quả quan sát rồi tự rút ra kết luận. Giáo viên luôn chú ý
giúp đỡ, uốn nắn động viên học sinh kịp thời khi các em thực hành quan sát.
9


- Khi quan sát cây hoa rồi bông hoa, các em được giới thiệu các bộ phận
của cây hoa với bạn, hỏi bạn (Ví dụ: Cây hoa có những bộ phận nào? Bạn hãy
chỉ và nêu tên các bộ phận đó?).
- Nếu học sinh khó khăn trong khi quan sát, giáo viên có thể giúp đỡ bằng
các câu hỏi gợi ý. (Ví dụ: Các bông hoa có màu sắc như thế nào? Hình dáng ra
sao? Mùi hương của nó có gì đặc biệt?)
- Có thể nói, phương pháp này sẽ giúp học sinh được hoạt động một cách
đa dạng, tích cực (được nhìn, được ngửi, được nghe …) từ đó thu nhập được
nhiều thông tin về bài học. Phương pháp quan sát luôn được sử dụng phối hợp
với các phương pháp khác, đặc biệt là:
2.3.3.2. Phương pháp hỏi đáp:
Đây là cách thức đối thoại giữa giáo viên và học sinh nhằm khơi gợi, dẫn

Câu hỏi 1 có tác dụng gợi mở để học sinh suy nghĩ trả lời câu hỏi tiếp theo.
Sau đó học sinh phải sử dụng các kiến thức vừa tìm hiểu được ở hoạt động 1 và
cả 2 câu hỏi vừa rồi thì mới trả lời câu hỏi sau:
3. Để có được nhà cửa gọn gàng, sạch sẽ, em phải làm gì giúp đỡ bố mẹ?
Học sinh dễ dàng nhận thấy: Để có nhà cửa gọn gàng, sạch sẽ, ngoài giờ
học, cần chăm chỉ làm việc hơn để giúp đỡ bố mẹ.
Ví dụ: Khi dạy bài “Ăn uống hàng ngày”
* Hoạt động 4: Thảo luận cả lớp để biết phải ăn uống như thế nào để có sức
khỏe tốt?
Đây là câu hỏi khó học sinh sẽ lúng túng, không diễn đạt được điều mình
hiểu để trả lời. Tôi đã đưa ra 3 câu hỏi phụ:
+ Khi nào chúng ta cần ăn và uống?
(Chúng ta cần ăn khi đói và uống khi khát)
+ Hàng ngày, cần phải ăn mấy bữa? Vào lúc nào?
(Cần ăn ba bữa chính là sáng, trưa và tối)
+ Tại sao chúng ta không nên ăn bánh kẹo trước bữa ăn chính?
(Không nên ăn bánh kẹo trước bữa ăn chính vì như vậy sẽ làm ta ăn
không ngon miệng ở bữa chính)
Cuối cùng tôi hỏi:
+ Vậy phải ăn uống như thế nào để có sức khỏe tốt?
Các em trả lời ngay: Cần phải ăn khi đói và uống khi khát, nên ăn ba bữa
sáng, trưa và tối. Không nên ăn bánh kẹo trước bữa ăn chính để bữa ăn chính
ăn được nhiều và ngon miệng).
Chúng ta vẫn quen cách học: Người đặt câu hỏi là giáo viên, người trả lời
câu hỏi là học sinh. Điều này có thể thực hiện theo chiều ngược lại. Để học sinh
tự giác, tích cực hơn trong học tập, tôi khuyến khích các em nêu câu hỏi thắc
mắc để cả lớp và giáo viên cùng giải đáp.
Hỏi đáp và quan sát là những phương pháp đặc trưng của môn Tự nhiên và
Xã hội. Mỗi phương pháp đều có mặt mạnh riêng nên cần khai thác hợp lý và sử
dụng phối hợp linh hoạt với các phương pháp khác để giờ học hấp dẫn, lý thú để

- Nêu tên trò chơi: “Tôi là rau gì?”
- Hướng dẫn cách chơi: Một học sinh lên chơi tự giới thiệu các đặc điểm
cây rau. Một học sinh xung phong đoán. Nếu học sinh đoán sai, đổi học sinh
khác.
- Cho học sinh chơi thử:
+ Học sinh A:

Cũng gọi là bắp
Lá sắp vòng quanh
Lá ngoài thì xanh
Lá trong thì trắng
Là rau gì?

+ Học sinh B đoán: Rau cải bắp.
- Học sinh chơi thật: 7 đến 10 học sinh
12


- Nhận xét kết quả trò chơi - Giáo viên khen học sinh trả lời đúng.
Ví dụ: Khi dạy bài 21 “Ôn tập xã hội”
Tôi đã tổ chức cho học sinh chơi trò chơi “Hái hoa dân chủ”
Mục đích: Giúp học sinh hệ thống hóa các kiến thức đã học về xã hội, kể
với bạn bè gia đình, lớp học và cuộc sống xung quanh, yêu quý gia đình, lớp học
và nơi các em sống …
Giáo viên chuẩn bị 2 bộ tấm bìa ghi số từ 1 đến 32 để chia cho từng học
sinh, một bộ giáo viên dùng để lựa chọn học sinh lên chơi.
Một số câu hỏi gợi ý như sau:
+ Kể về các thành viên trong gia đình em?
+ Nói về những người bạn yêu quý?
+ Kể về ngôi nhà của bạn?

các phương pháp dạy: hỏi đáp - quan sát - thảo luận … song vẫn chưa giúp cho
học sinh phát huy được tính tự giác, tích cực. Do vậy, việc đổi mới phương pháp
dạy học phải gắn liền với việc đổi mới các hình thức tổ chức dạy học trên cơ sở
“Học đi đôi với hành”. Qua đó giúp các em tích cực tự phát hiện, giải quyết các
vấn đề của bài học. Để học sinh tự phát hiện, giải quyết vấn đề của bài học, phát
huy của học sinh nên khi dạy học trong lớp tiết Tự nhiên và Xã hội, tôi đã sử
dụng một số hình thức sau:
2.3.4.1.1. Hình thức dạy học theo nhóm:
“Học thày không tày học bạn”: Cha ông chúng ta đã đúc rút ra được kinh
nghiệm quý báu của sự học tập lẫn nhau. Việc học tập của học sinh sẽ đạt kết
quả cao hơn khi các em được trao đổi, đối chiếu, tranh luận những hiểu biết của
mình với bạn, qua đó biết được những hiểu biết của bạn.
Ngoài ra, qua việc tổ chức nhóm, học sinh có thể hợp tác, giúp đỡ lẫn nhau,
kiểm tra nhau.
Khi tham gia hình thức này, đòi hỏi học sinh phải cố gắng rất lớn bởi lẽ các
em không muốn thua kém bạn bè “Thua thày một vạn không bằng kém bạn
một li”. Đây chính là động lực giúp các em mạnh dạn trước đám đông và rèn kỹ
năng nói trước lớp.
Muốn cho việc học theo nhóm của học sinh đạt hiệu quả, tôi đã chú ý:
* Chia nhóm:
Việc chia nhóm học sinh tùy thuộc vào nội dung bài học, tôi thường có cách
chia nhóm như sau:
- Nhóm cố định: Lớp tôi có 32 học sinh, tôi chia thành 8 nhóm 4, cứ 2
bàn là một nhóm.
Khi phân nhóm, tôi thường chú ý đến từng đối tượng học sinh: những em
chậm chạp, nhút nhát, rụt rè được ngồi cùng những em nhanh nhẹn, hoạt bát để
tạo cho các sự hỗ trợ lẫn nhau.
Trong mỗi nhóm 4 sẽ phân thành 2 nhóm nhỏ.
Mỗi nhóm học sinh tôi đều quy định số cho từng em (1), (2), (3), (4)
(Những em số (1), (2) thường là những em học tốt). Khi tiến hành học nhóm

nào, giáo viên đưa thêm một số câu hỏi phụ:
- Tại sao con cá lại đang mở miệng?
- Vì sao nắp mang của con cá luôn mở ra rồi khép lại?
Đây là những câu hỏi khó. Do vậy tôi yêu cầu nhóm trí tuệ thảo luận. Và
8bạn số (1) của 8 nhóm tập trung lại, thảo luận, bàn bạc, bổ sung, đối chiếu kiến
thức dưới sự tổ chức, hướng dẫn của giáo viên.
Sau đó giáo viên đi đến thống nhất:
Cá thở bằng mang (cá há miệng để cho nước chảy vào, khi cá ngậm miệng
nước chảy qua các lá mang cá, ôxy tan trong nước đưa vào máu cá. Cá sử dụng
ôxy để thở).
Cuối cùng, các bạn ở nhóm trí tuệ sẽ về nhóm cố định của mình và trao đổi
lại với các bạn trong nhóm.

15


2.3.4.1.2. Hình thức dạy học cá nhân:
Đây là hình thức dạy học quan trọng vì hình thức này thúc đẩy phát huy
tính tự giác, tích cực của học sinh. Học sinh tự giác khám phá kiến thức. Với
hình thức dạy học này, giáo viên đã quan tâm đến các đối tượng học sinh trong
lớp. Để tất cả các em trong lớp đều tham gia quá trình học tập một cách chủ
động, tích cực, tôi đã thực hiện dạy học cá nhân bằng các hình thức như phiếu
học tập, hái hoa dân chủ, vẽ tranh …
* Sử dụng phiếu học tập:
Như chúng ta đã biết, việc sử dụng phiếu học tập phát huy được khả năng
nhận thức của mỗi học sinh. Phiếu học tập là phương tiện được thể hiện cá biệt
hóa quá trình dạy học.
Ví dụ: Khi dạy bài “Con gà”
Tôi đã biên soạn phiếu học tập như sau:
PHIẾU HỌC TẬP

Để củng cố những hiểu biết về cây hoa, tôi đã đưa ra những phương án học
sinh lựa chọn như: Con hãy cho biết câu nào đúng, câu nào sai? Theo cách ghi:
1 - đ - s vào thẻ từ
1) Cây hoa có: rễ, thân, lá, hoa
2) Rau cải là cây hoa
3) Cây hoa đồng tiền có thân cứng
4) Lá của cây hoa hồng có gai
5) Thân cây hoa hồng có gai
6) Cây hoa để trang trí, làm cảnh, làm nước hoa
Học sinh ghi số đáp án đúng - sai vào thẻ từ.
Như chúng ta đã biết, ngày nay, thực hiện đổi mới phương pháp dạy học,
giáo viên chỉ là những người tổ chức dẫn dắt và kết luận, giúp học sinh tự chiếm
lĩnh kiến thức một cách chủ động, tích cực. Ngoài hai hình thức trên, hình thức
mà giáo viên vẫn sử dụng đó là:
2.3.4.1.3. Hình thức dạy học theo lớp:
Hình thức dạy học theo lớp tuy không chiếm nhiều thời gian nhưng hình
thức này được giáo viên sử dụng đan xen trong hình thức học nhóm và hình thức
học cá nhân. Đó là lúc giáo viên bổ sung, mở rộng, giải thích minh họa hoặc
tổng kết kiến thức.
Qua việc sử dụng hình thức dạy học theo lớp, giáo viên không những khẳng
định kiến thức, tạo sự tự tin cho học sinh mà còn khắc sâu, mở rộng thêm kiến
thức cho các em. Khi sử dụng hình thức này, giáo viên cần nói với giọng vừa
phải nhưng chắc chắn, có sức thu hút học sinh.
2.3.4.2. Hình thức dạy học ngoài lớp
2.3.4.2.1. Tiết học ngoài trời
Trong chương trình môn Tự nhiên và Xã hội có một số bài giáo viên nên sử
dụng hình thức học ngoài thiên nhiên, qua việc quan sát thực tế, học sinh sẽ dễ
dàng rút ra bài học, học sinh sẽ hiểu rõ, hiểu sâu kiến thức hơn.
Khi dạy về mạch nội dung “Hiện tượng thời tiết” gồm 5 bài:
Bài 30: Trời nắng, trời mưa.

Sau khi học sinh thực hành quan sát, giáo viên cho học sinh trả lời câu hỏi
+ Những đám mây trên bầu trời cho chúng ta biết được điều gì? (Trời đang
nắng, trời râm mát hay trời sắp mưa …)
Như vậy qua việc học ngoài thiên nhiên các em được tận mắt chứng kiến
những sự vật, hiện tượng giúp họ sinh nhớ lâu kiến thức, hơn nữa còn phát triển
năng lực quan sát, miêu tả, so sánh, sự nhạy cảm của các giác quan cho các em.
Học sinh được thư giãn, học mà chơi, chơi mà học. Tuy nhiên, khi học ngoài sân
trường, giáo viên cũng cần hướng dẫn học sinh tập nhanh theo nhóm, không đùa
nghịch, chú ý quan sát theo sự hướng dẫn của giáo viên.
Ngoài việc tổ chức cho học sinh học tập ngoài thiên nhiên, tôi còn tổ chức
cho các em đi tham quan học tập.

18


2.3.4.2.2. Tham quan học tập
Tham quan học tập là hình thức tổ chức cho học sinh trực tiếp tiếp xúc với
các phong cảnh tự nhiên, di tích lịch sử … Qua đó trực tiếp quan sát các sự vật,
hiện tượng thực tế để củng cố, mở rộng kiến thức. Qua hình thức tham quan sẽ
góp phần bồi dưỡng năng lực quan sát, nghiên cứu, nâng cao hình thức học tập,
mở rộng tầm hiểu biết, trí tò mò.
Trong chương trình Tự nhiên và Xã hội lớp 1, khi dạy nội dung địa phương
có bài 18, bài 19 “Cuộc sống xung quanh”, tôi lên kế hoạch và thống nhất trong
tổ cho học sinh đi tham quan phong cảnh, hoạt động sinh sống của nhân dân khu
vực xung quanh trường. Mục đích giúp học sinh tập quan sát thực tế các hoạt
động đang diễn ra xung quanh mình.
Ví dụ: Khi dạy bài 18 “Cuộc sống xung quanh”
Tôi đã tiến hành cho học sinh đi tham quan khu vực quanh trường theo
trình tự như sau:
* Bước 1: Giao nhiệm vụ

Thời gian

Không khí lớp học

Ý thức học tập

Hiệu quả giờ học

Đầu năm

Lớp học trầm, tẻ Một số học sinh Hiệu quả giờ học
nhạt.
không thích học, không cao.
ngồi im hoặc làm Khoảng 55% học
việc riêng.
sinh nắm bài tại
lớp.

Cuối Học
kỳ 1

Giờ học nhẹ nhàng, Còn một số học sinh Khoảng 85% học
không khí sôi nổi.
chưa tập trung vào sinh nắm bài tại
học.
lớp.

Cuối nam
học


tính chủ động, tích cực của học sinh khi học môn Tự nhiên và Xã hội ở lớp
1” có hiệu quả trong mỗi tiết học đó là:
- Giờ học nhẹ nhàng, thoải mái.
- Học sinh tích cực tham gia vào các hoạt động học tập.
- Học sinh hiểu sâu, nhớ lâu và nắm chắc được kiến thức.
- Học sinh thích học môn Tự nhiên và Xã hội.
3.2. Kiến nghị
Để dạy môn TNXH ở tiểu học nói chung và lớp 1 nói riêng đạt kết quả tốt,
tôi xin kiến nghị với cấp trên một số việc như sau:
Trang bị thêm đồ dùng dạy học hiện đại để giáo viên sử dụng hàng ngày.
Trên đây là những biện pháp mà tôi đã áp dụng có hiệu quả cho mình trong quá
trình dạy môn Tự nhiên và Xã hội lớp 1. Rất mong ý kiến đóng góp của hội đồng
xét duyệt các cấp để tôi có thêm kinh nghiệm khi dạy môn Tự nhiên và Xã hội.
Tôi xin chân thành cảm ơn !
Xác nhận của Thủ trưởng đơn vị

Thị trấn, ngày 26 tháng 3 năm 2018
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của
mình viết, không sao chép nội dung
của người khác.
Người viết

Nguyễn Thị Thúy
21


TÀI LIỆU THAM KHẢO
TT

Tác giả


2006

3

Bộ Giáo dục và
đào tạo

Tài liệu bồi dưỡng giáo viên
dạy các môn học lớp 1 (Tập
1)

Giáo dục

2002

4

Bộ Giáo dục và
đào tạo

Tài liệu BDTX dành cho
giáo viên Tiểu học chu kỳ
2003-2007

Giáo dục

2005

5

quốc gia

Tâm lý giáo dục Tiểu học

Đại học
quốc gia

Đổi mới việc dạy học môn
Tự nhiên và Xã hội ở Tiểu
học

Giáo dục

1999

Giáo trình phương pháp dạy
môn Tự nhiên và Xã hội ở
Tiểu học

Giáo dục

1998

8
9

Bùi Phương Nga
Trịnh Quốc Thái

10 Nguyễn Thượng

năng viết văn miêu tả cho học
sinh lớp 4

Phòng
GD&ĐT

B

2009- 2010

2.

Một số kinh nghiệm để làm
tốt công tác chủ nhiệm lớp

Phòng
GD&ĐT

B

2011- 2012

3.

Một số king nghiệm dạy từ
trái nghĩa cho các đối tượng
học sinh lớp 5 trường TH
Cẩm Châu

Phòng

……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………….
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
ĐÁNH GIÁ, XẾP LOẠI SKKN CỦA HĐKH CẤP HUYỆN
24


……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………

……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
ĐÁNH GIÁ, XẾP LOẠI SKKN CỦA HĐKH CẤP TỈNH
25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status