Một số biện pháp giúp học sinh lớp 3 giải toán có lời văn - Pdf 53

1. Mở đầu
1.1. Lí do chọn đề tài.
Môn Toán có vị trí rất quan trọng phù hợp với cuộc sống thực tiễn đó cũng
là công cụ cần thiết cho các môn học khác để giúp học sinh nhận thức thế giới
xung quanh để hoạt động có hiệu quả trong thực tiễn.
Vì vậy mục tiêu của môn Toán đặc biệt nhấn mạnh đến việc hình thành và
phát triển cho học sinh những tri thức và kỹ năng, cơ sở thiết thực với cuộc sống
cộng đồng. Góp phần hình thành cho học sinh phương pháp độc lập suy nghĩ và
học tập, lòng tự tin, tính hồn nhiên, sự năng động và linh hoạt, cách ứng xử đúng
mực đối với thiên nhiên, con người và xã hội. Giúp tăng cường sức khoẻ, rèn
luyện thân thể, ý chí và ước mơ; đem sức mình góp phần làm cho cuộc sống của
bản thân, gia đình, đất nước trở nên giàu mạnh, hạnh phúc. Đây là những tri
thức, kĩ năng đáp ứng cho học tập thường xuyên, học tập tiến lên của mọi người
lao động trong thời đại của khoa học - công nghệ, vừa đáp ứng cho ứng dụng
thiết thực trong cuộc sống cộng đồng. Với mục tiêu đó, môn Toán cùng với các
môn học khác đã góp phần to lớn cho mục tiêu giáo dục Tiểu học.
Môn Toán giúp học sinh có những tri thức cơ sở ban đầu về số học, số tự
nhiên, số thập phân, các đại lượng cơ bản và một số yếu tố hình học đơn giản.
Giúp học sinh hình thành kỹ năng thực hành, đo lường, giải bài toán có nhiều
ứng dụng thiết thực trong cuộc sống. Bước đầu hình thành và phát triển năng lực
trừu tượng hoá, khái quát hoá, kích thích trí tưởng tượng, gây hứng thú học tập
toán. Phát triển hợp lí khả năng suy luận và biết diễn đạt đúng góp phần rèn
luyện phương pháp học tập khoa học, linh hoạt, sáng tạo cũng như các môn
khoa học khác, môn Toán còn góp phần hình thành rèn luyện các phẩm chất, các
đức tính cần thiết của người lao động mới: cần cù, chịu khó, tìm tòi, sáng tạo và
nhiều kỹ năng tính toán cần thiết khác.
Trong chương trình môn Toán tiểu học, giải toán có lời văn giữ một vai
trò quan trọng. Thông qua việc giải toán rèn luyện cho học sinh năng lực tư duy,
tính cẩn thận, óc sáng tạo, cách lập luận bài toán trước khi giải. Đồng thời qua
việc giải toán của học sinh mà giáo viên có thể dễ dàng phát hiện những ưu
điểm, thiếu sót của các em về kiến thức, kĩ năng, tư duy để giúp học sinh phát

đồng nghiệp.
- Phương pháp điều tra, khảo sát thực tế ,thu thập thông tin: Tìm hiểu thực
trạng việc dạy giải toán có lời văn lớp 3 ở trường đang công tác. Thu thập thông
tin và khảo sát thực tế ở lớp 3 đã dạy.
- Phương pháp dạy học phát huy tính tích cực của học sinh.
2. Nội dung sáng kiến kinh nghiệm.
2.1. Cơ sở lý luận của sáng kiến kinh nghiệm.
a. Cơ sở khoa học:
Giải toán là mức độ cao nhất của tư duy, đòi hỏi mỗi học sinh phải biết huy
động gần như hết vốn kiến thức và hoạt động giải toán. Mỗi bài toán, mỗi lời
văn đều có nội dung kiến thức loogic của nó được thể hiện bằng các ngôn ngữ
Toán học có mối quan hệ chặt chẽ trong một bài toán dạng toán.
2


Giải toán giúp học sinh hình thành, củng cố, vận dụng kiến thức, kĩ năng về
toán. Đồng thời qua giải toán, giáo viên dễ dàng phát hiện những ưu điểm hoặc
thiếu sót trong kiến thức , kĩ năng của học sinh để giúp các em phát huy những
ưu điểm, khắc phục thiếu sót.
Thông qua việc giải toán, với những đề tài thích hợp có thể giáo dục lòng
yêu nước, yêu đồng bào, giới thiệu cho các em thấy được nhiều mặt của thực tế
dời sống phong phú, ý thức bảo vệ môi trường. Giải toán có tác dụng giáo dục
các em ý chí vượt khó, đức tính cẩn thận, chu đáo, làm việc có kế hoạch, thói
quen tự kiểm tra công việc của mình, có óc độc lập suy nghĩ, óc sáng tạo, phát
triển tư duy.
b. Cơ sở thực tiễn.
Đối với chương trình Toán 3 là kế thừa và phát triển của toán lớp 2. Trong
đó các bài toán có lời văn được mở rộng và nâng cao hơn tạo ra những khó khăn
trong quá trình dạy của giáo viên và học của học sinh.
Đối với học sinh Tiểu học, học toán đã khó, học giải toán có lời văn lại

viên đóng vai trò là người tổ chức, hướng dẫn hoạt động của học sinh (dạy học
phát huy tính tích cực, độc lập, sáng tạo của học sinh) giúp học sinh vận dụng
vốn hiểu biết và kinh nghiệm của bản thân để tự học hỏi, tự chiếm lĩnh tri thức
mới, vận dụng tri thức chiếm lĩnh được vào thực hành.
Trong thực tế giảng dạy, có giáo viên đôi khi áp dụng phương pháp chưa
linh hoạt. Mặt khác một số giáo viên lên lớp có sử dụng đồ dùng dạy học hiệu
qủa đôi khi còn chưa cao.
Giải toán có lời văn thực chất là những bài toán thực tế , nội dung bài toán
được thông qua những câu văn nói về những quan hệ, tương quan và phụ
thuộccó liên quan tới cuộc sống thường xảy ra hàng ngày. Cái khó của bài toán
có lời văn chính là ở chỗ làm thế nào để lược bỏ được những yếu tố về lời văn
để che đậy bản chất toán học của bài toán. Hay nói cách khác là làm sao chỉ ra
đượccái mối quan hệ giữa các yếu tố toán họcchứa đựng trong bài toánvà tìm
được những câu lời giải thích hợp để từ đó tìm được đáp số của bài toán.
b. Về học sinh:
Do việc dạy học theo kiểu áp đặt của thầy mà trò phải tiếp thu kiến thức
một cách thụ động. Các khái niệm, quy tắc, công thức… giáo viên đưa ra học
sinh có nhiệm vụ phải ghi nhớ. Học sinh không được chuẩn bị đúng mức để hoạt
động độc lập, sáng tạo vì luôn phụ thuộc vào người khác. Chính vì vậy mà đa số
học sinh nắm kiến thức không vững, không sâu, không hiểu được bản chất của
vấn đề, chỉ biết rập khuôn theo mẫu một cách máy móc. Nên có những bài toán
chỉ khác mẫu đi một chút hoặc thay dự kiện là học sinh không làm được, nếu
làm được kết quả cũng chưa chính xác.
Về việc tìm hiểu đề bài, tóm tắt đề toán đang còn nhiều khó khăn đối với
một số học sinh tiếp thu chậm. Vì kĩ năng đọc thành thạo của các em chưa cao,
nên các em đọc được đề toán và hiểu đề còn thụ động, chậm chạp... Các em chưa
xác định rút về một đơn vị là đơn vị nào, hai câu trả lời như nhau, còn máy móc
hơn khi đề cho hơn là làm tính cộng, ít hơn là làm trừ, gấp là làm nhân, kém là
làm chia, cách tính diện tích và chu vi hình chữ nhật, hình vuông còn lẫn lộn...
Một nguyên nhân khác cũng phải nói đến là do đặc điểm lứa tuổi của các


%

SL

%

%

4

17,4

4

17,4

10

43.5

5

21,7

Từ thực trạng trên để việc dạy học đạt kết quả cao hơn giúp các em học
sinh có hứng thú trong học tập, nâng cao chất lượng giải toán có lời văn tôi đã
đi sâu nghiên cứu, tìm hiểu để tìm ra một số phương pháp dạy toán có lời văn
qua các biện pháp được trình bày dưới đây.
2.3. Một số giải pháp giúp học sinh rèn kỹ năng giải toán có lời văn ở

Ví dụ 2: Anh có 15 tấm bưu ảnh, em có ít hơn anh 7 tấm bưu ảnh. Hỏi em
có bao nhiêu tấm bưu ảnh?
Tóm tắt:
15 bưu ảnh
Anh:
Em:

7 bưu ảnh
... bưu ảnh ?

Sơ đồ giúp học sinh trong việc lựa chọn phép tính để giải (có 1 phép tính)
* Tìm đường lối giải (lập chương trình giải toán)
Bước này là bước quan trọng nhất việc nắm vững nội dung đặc biệt là ba
yếu tố cơ bản của bài toán là yêu cầu đầu tiên khi học sinh tri giác bài toán. Khi
đó xuất hiện các hiện tượng yêu cầu học sinh phải tư duy tích cực, phân tích và
sàng lọc các hiện tượng và từ đó tìm ra phương án giải quyết bài toán. Bước này
giáo viên có nhiệm vụ hướng dẫn cho học sinh phân tích, tổng hợp. Phân tích,
sàng lọc nhằm loại bỏ các yếu tố thừa, các trường hợp không cơ bản đối với việc
giải toán. Trong bước này học sinh phải tư duy tích cực, tìm ra phương án cho
mình để giải quyết được bài toán (hay nói cách khác để tìm đường lối giải bài
toán) cần huy động vốn kiến thức đã có và đặc biệt là kinh nghiệm giải toán ở
Tiểu học cần hướng dẫn học sinh tìm đường lời giải sau đây:
* * Chọn phép tính giải thích hợp:
Sau khi hướng dẫn học sinh tìm hiểu đề toán để xác định cái đã cho và cái
phải tìm cần giúp học sinh lựa chọn phép tính thích hợp.
Ví dụ: (Bài toán 3 trang 68 sgk) Có 45 kg gạo, chia đều vào 9 túi. Hỏi
mỗi túi có bao nhiêu kilôgam gạo?
Để giải được bài toán này, học sinh cần phải tìm được mối liên hệ giữa cái
đã cho và cái phải tìm. Hướng dẫn học sinh suy nghĩ giải toán thông qua các câu
hỏi gợi ý như:

Chính vì vậy, việc hướng dẫn học sinh trình bày bài giải sao cho khoa học,
đẹp mắt cũng là yêu cầu lớn trong quá trình dạy học. Muốn thực hiện được yêu
cầu này trước tiên người dạy cần tuân thủ cách trình bày bài giải theo hướng dẫn
quy định.
Song song với việc hướng dẫn các bước thực hiện, tôi thường xuyên trình
bày bài mẫu trên bảng và yêu cầu học sinh quan sát, nhận xét về cách trình bày
để từ đó học sinh quen nhiều với cách trình bày. Bên cạnh đó tôi còn thường
xuyên chấm, chữa bài và sửa lỗi cho những học sinh trình bày chưa đẹp, tuyên
dương trước lớp những học sinh làm đúng, trình bày sạch, đẹp,cho các em đó
lên bảng trình bày lại bài làm của mình để các bạn cùng học tập.
7


Lưu ý: Khi thực hiện các phép tính theo hàng ngang thì các thành phần là
hư số và kết quả cuối cùng phải ghi tên đơn vị trong dấu ngoặc (…).
Mỗi phép tính phải ghi câu lời giải kèm theo. Cuối cùng phải ghi đáp số
để trả lời đúng cho câu hỏi của bài toán.
Trở lại bài toán 3:
Bài giải
Mỗi túi có số kilôgam gạo là:
45 : 9 = 5 (kg)
Đáp số: 5 kg gạo
* Kiểm tra đánh giá và khai thác lời giải:
Đây là bước làm quan trọng, song khi tiến hành xong học sinh hay bỏ qua
bước này. Vì thế có những học sinh làm xong bài giáo viên hỏi: “Em có tin chắc
rằng kết quả là đúng không?” thì các em lúng túng.
Vì vậy yêu cầu sư phạm cần đạt được là phải làm sao phát huy được tinh
thần trách nhiệm và lòng tin vào kết qủa tìm được.
+ Đánh giá kết quả là động lực thúc đẩy các em cố gắng tìm ra cách giải
khác nhau để thực hiện yêu cầu bài toán.

mật ong? Học sinh thực hiện được phép chia 24 : 3 = 8 (lít). sau đó mới HD
học sinh tìm số lít mật ong còn lại trong thùng mật ong? HS thực hiện: 24 - 8
= 16 (lít) Ở chỗ này nếu giáo viên không giúp thì học sinh dễ nhầm lẫn phép
tính cộng.
Vậy để các em giải đúng theo quy trình tôi hướng dẫn các em làm theo
các bước sau:
Bước 1: Tìm hiểu đề toán: học sinh đọc thật kỹ đề toán
Hỏi 1: Bài toán cho biết cái gì? (Một thùng đựng 24lít mật ong, lấy ra

1
3

số lít mật ong đó).
Hỏi 2: Bài toán hỏi gì? (Trong thùng còn lại bao nhiêu lít mật ong).
Tóm tắt:
24 lít
Thùng đựng:
Lấy ra:

... lít ?

Bước 2: Tìm đường lối giải
Muốn biết đã lấy ra bao nhiêu lít mật ong ta làm phép tính gì? (phép chia:
24 : 3 = 8
Muốn biết số lít mật ong còn lại trong thùng ta làm thế nào? (Phép trừ: 24
- 8 = 16)
Bước 3: Trình bày bài giải
Bài giải
Số lít mật ong lấy ra là:
24 : 3 = 8 ( l )

Dụng ý bài tập này: Nhằm giúp học sinh nắm được quy trình giải sau khi
đã lĩnh hội tri thức vừa học xong. Thông qua luyện tập thực hành rèn luyện kỹ
năng giải toán, hoặc từ một bài toán đã cho biến đổi thành các bài toán mới.
Bước 1: Tìm hiểu bài toán: Học sinh đọc thật kỹ bài toán
Hỏi: Bài toán đã cho biết gì? (Có 35l mật ong chia đều vào 7 can).
Hỏi: Bài toán yêu cầu chúng ta tìm cái gì? (2 can có mấy lít mật ong).
Tóm tắt:

7 can : 35l
2 can: ...l?

Bước 2: Tìm đường lời giải
- Biết 7 can chứa 35l mật ong, muốn tìm mỗi can chứa mấy lít mật ong
phải làm phép tính gì? (Phép chia)
10


35 : 7 = 5 ( l )
- Biết mỗi can chứa 5l mật ong, muốn tìm 2 can chứa bao nhiêu lít mật
ong phải làm phép tính gì? (Phép nhân).
5 x 2 = 10 ( l )
Bước 3: Trình bày bài giải
Bài giải
Số lít mật ong trong mỗi can là:
35 : 7 = 5 ( l )
Số lít mật ong trong hai can là:
5 x 2 = 10 ( l )
Đáp số: 10l mật ong.
Bước 4: Thử lại: 5 x 7 = 35 ; 35 : 7 = 5 (đúng)
10 : 2 = 5; 5 x 2 = 10 (đúng)

Bước 2: Tìm đường lời giải.
Từ công thức tính chu vi hình chữ nhật. Giáo viên có thể giúp học sinh
vận dụng thành thạo cách tính và tìm lời giải đúng, chính xác, phù hợp với yêu
cầu của đề toán đặt ra.
+ Muốn tính chu vi mảnh đất hình chữ nhật ta phải làm như thế nào? (HS
chọn phép tính và tính đúng: (35 + 20) x 2 = 110 (cm)
Bước 3: Trình bày bài giải.
Bài giải
Chu vi mảnh đất hình chữ nhật là:
(35 + 20) x 2 = 110 (cm)
Đáp số: 110 cm
Dựa vào bài toán trên tôi có thể phát triển thành các bài toán mới bằng
cách thay đổi dự kiện bài toán (hoặc giả thiết).
Ví dụ: (Bài 2 trang 88 SGK Toán 3).
Người ta uốn một đoạn dây thép vừa đủ thành một hình vuông cạnh 10
cm. Tính độ dài đoạn dây đó.
Dụng ý của bài tập này: Nhằm giúp học sinh thành thạo trong việc áp
dụng công thức tính chu vi hình vuông thông qua luyện tập giải toán, học sinh
biết được mối quan hệ đo độ dài.
Bước 1: Tìm hiểu đề.
Cho học sinh đọc thật kỹ đầu bài toán.
- Bài toán đã cho biết cái gì? (Người ta uốn một đoạn dây thép vừa đủ
thành một hình vuôngcạnh 10cm).
12


- Bài toán yêu cầu tìm gì? (Tính độ dài đoạn dây đó).
Cho Hs hiểu độ dài đoạn dây thép chính là chu vi hình vuông uốn được ( có
cạnh 10cm). Vậy muốn tính độ dài đoạn dây ta phải làm như thế nào? Ta lấy độ
dài một cạnh nhân với 4. (học sinh thực hiện phép tính nhân 10 x 4 = 40 (cm)

+ Tìm số con thỏ còn lại (chọn và thực hiện phép tính).
48 - 8 = 40 (con)
Bước 3: Trình bày bài giải.
13


Bài giải
Số thỏ đã bán là:
48 : 6 = 8 (con)
Số thỏ còn lại là:
48 - 8 = 40 (con)
Đáp số: 40 con thỏ
Bước 4: Thử lại: 8 x 6 = 48 ; 48 : 6 = 8 (đúng)
40 + 8 = 48; 48 - 8 = 40 (đúng)
Từ bài toán trên để học sinh đại trà nêu được và giải được bài toán theo sơ
đồ tôi có thể gợi ý cho học sinh nêu 2 bài toán đơn sau đó tổng hợp lại sẽ có bài
toán hợp như sơ đồ cho trước.
Mục đích để mỗi người đều được hoạt động học.
b. Dạng 2: Bài toán liên quan đến rút về đơn vị
Để học sinh có kỹ năng giải các bài toán này được thành thạo tôi đưa ra
một số bài tập để rèn kỹ năng giải toán cho các em được tốt hơn.
Bài số 1: (T 166 - SGK Toán 3)
Bài toán: Có 40 kg đường đựng đều trong 8 túi. Hỏi 15 kg đường đựng trong
mấy túi như thế?
Bước 1: + Bài toán cho biết gi? (có 40 kg đường : chia thành 8 túi).
+ Bài toán phải tìm gì? (15 kg đường : ... túi).
Bước 2: + Muốn tìm xem 15 kg đường đựng trong mấy túi thì phải tính
xem một túi đựng mấy kilôgam đường? (40 : 8 = 5)
+ 5 kg đường đựng trong 1 túi thì 15 kg đường đựng trong mấy túi? (15 :
5 = 3)

diện tích mảnh bìa đó.
Dụng ý bài tập này nhằm giúp học sinh củng cố tri thức áp dụng quy tắc,
công thức để tính diện tích mảnh bìa với kích thước cho trước.
Để giúp học sinh giải các bài toán theo 4 bước tôi gợi ý mấy yếu tố.
Bước 1: Học sinh đọc kỹ để nắm dự kiện bài toán đã cho.
- Chiều rộng 5 cm, chiều dài 14 cm.
Cái phải tìm: Diện tích mảnh bìa hình chữ nhật.
Bước 2: Tìm đường lối giải
- Áp dụng công thức: Học sinh thực hiện phép tính:
14 x 5 = 70 cm2
Bước 3: Trình bày bài giải
Bài giải
Diện tích miếng bìa hình chữ nhật là:
14 x 5 = 70 (cm2)
Đáp số: 70 cm2
Bước 4: Học sinh tự kiểm tra việc tính toán của mình
Yêu cầu tất cả học sinh đều phải giải được.

15


Như vậy việc tìm ra cách giải của bài toán sẽ góp phần hình thành và
củng cố cho học sinh về tính chất và mối quan hệ giữa các phép tính số học.
Đồng thời sẽ giúp học sinh tích luỹ được nhiều kinh nghiệm giải toán.
2.3.3. Giải pháp 3: Ứng dụng vào việc giải các bài tập trong sách giáo
khoa toán 3 và thực tiễn đời sống.
Để rèn luyện kỹ năng giải toán thành kỹ xảo giải toán cho học sinh tôi đã lựa
chọn một số bài tập mang tính điển hình cho mỗi dạng toán mang tính văn có trong
SGK toán 3 cũng như bài toán trong thực tiễn đời sống nhằm tạo điều kiện thuận
lợi cho các em trong cách học môn Toán có khoa học hơn đặc biệt là với những học


Có 45 học sinh xếp thành 9 hàng đều nhau. Hỏi có 60 học sinh thì xếp
được bao nhiêu hàng như thế?
+ Bài toán được giải bằng hai phép tính. HS chọn phép tính và thực hiện .
+ Đây là giải toán có liên quan bước rút về đơn vị có lời văn nên học sinh
cần phải tìm câu lời giải cho phép tính .
Bài giải
Số học sinh trong mỗi hàng là:
45 : 9 = 5 (học sinh)
Có 60 học sinh xếp được số hàng là:
60 : 5 = 12 (hàng)
Đáp số: 12 hàng
c. Dạng 3: Giải các bài toán liên quan hình học
Bài 3: (trang 166 SGK Toán 3). Một hình chữ nhật có chiều dài 12 cm,
chiều rộng bằng

1
chiều dài. Tính diện tích hình đó.
3

- Học sinh vận dụng công thức để tính
Bài giải
Chiều rộng hình chữ nhật là:
12 : 3 = 4 (cm)
Diện tích hình chữ nhật đó là:
12 x 4 = 48 (cm2)
Đáp số: 48 cm2
Bài 2: Một hình vuông có chu vi 20 cm. Tính diện tích hình vuông đó.
Bài giải
Cạnh hình vuông là:


Điểm 7- 8

Điểm 5-6

Điểm < 5

SL

%

SL

SL

%

%

SL

%

15

65,3

7

30,4

sinh hoạt động, còn học sinh tự phát hiện và chiếm lĩnh tri thức mới. Vì vậy giáo
viên phải chú trọng đến việc rèn luyện kỹ năng giải các bài tập trong SGK để
bồi dưỡng năng lực tư duy cho học sinh. Để làm được điều đó người giáo viên
cần phải chú ý đến các vấn đề sau:
a. Nắm được đặc điểm tâm lý lứa tuổi của học sinh Tiểu học Tiểu học: Tư
duy cụ thể chiếm ưu thế, các em thích tò mò ham hiểu biết, từ đó lựa chọn
những nội dung, phương pháp phù hợp, khơi dậy tính tò mò ham hiểu biết của
học sinh cũng như tạo hứng thú cho học sinh học tập.
b. Nắm vững nội dung chương trình, bản chất của từng dạng toán, huy
động được những hiểu biết, tri thức vốn có của học sinh để học sinh tự mình có
thể chiếm lĩnh được kiến thức của bài dạy một cách độc lập, sáng tạo, lấy học
sinh làm nhân vật trung tâm của giờ dạy.
c. Giáo viên cần lựa chọn bài tập phù hợp với đối tượng học sinh của lớp
đối với học sinh yếu cần có sự giúp đỡ riêng để đạt yêu cầu. Đối với học sinh
khá giỏi cần phải rèn luyện kỹ năng giải toán nhanh hơn, có cách ngắn gọn nhất
đồng thời để các em bộc lộ hết năng lực của mình (Có thể cho học sinh làm một
số bài tập cao đối với học sinh có năng khiếu toán)
d. Tổ chức tiết học sao cho mọi học sinh đều được hoạt động một cách
chủ động trong mọi khâu để đạt kết quả cao nhất. Vận dụng kiến thức giải hết
các bài tập trong SGK và một số bài toán trong đời sống thực tiễn.
e. Sử dụng nhiều hình thức linh hoạt để thu hút học sinh vào giải toán.
g. Việc dạy học môn toán nhằm bảo đảm tính khoa học, tính chính xác,
tính sư phạm, giáo viên cần phát huy tính chủ động, sáng tạo, tư duy lôgíc của
học sinh và không ngừng nâng cao trình độ về toán học và phương pháp dạy
học. Qua nghiên cứu dạy học, học tập các tài liệu có liên quan đến chương trình,
nội dung giảng dạy.
3. 2. Kiến nghị.
Từ thực tế giảng dạy, tôi có một số đề xuất sau:
- Sau mỗi dạng toán mới, giáo viên nên giao bài tập cho học sinh để các
em làm bằng cách đặt các đề tương tự và giải. Để các em quen dần với việc giải


20


SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA
PHÒNG GD&ĐT THỌ XUÂN
-----------*&*------------

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH LỚP 3
GIẢI TOÁN CÓ LỜI VĂN

Người thực hiện: Hoàng Thị Loan
Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị công tác:Trường Tiểu học Xuân Trường-Thọ Xuân
SKKN thuộc lĩnh vực (môn): Toán

THANH HÓA, NĂM 2018

21


Mục lục
Nội dung
1. Mở đầu

Trang
1


4

b. Về học sinh

4

2.3.Một số giải pháp giúp học sinh rèn kỹ năng giải toán có lời văn ở lớp 3

5

2.3.1. Giải pháp 1: Trang bị quy trình cho các dạng bài tập.

5

a. Để học sinh có kỹ năng vận dụng trực tiếp việc giải toán ở các
dạng bài có chứa chất văn tôi cung cấp cho học sinh quy trình chung để
giải các bài tập theo 4 bước cơ bản sau đây:

5

b. Vận dụng quy trình chung để giải các bài toán ở mỗi dạng:

8

2.3.2. Giải pháp 2: Áp dụng trực tiếp quy trình giải các dạng toán.

13

a. Dạng 1: Bài toán giải bằng một phép tính (nói chung)



18
18

3.1. Kết luận

18

3.2. Kiến nghị

19
22


DANH MỤC
CÁC ĐỀ TÀI SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐÃ ĐƯỢC HỘI ĐỒNG
ĐÁNH GIÁ XẾP LOẠI CẤP PHÒNG GD&ĐT, CẤP SỞ GD&ĐT VÀ CÁC
CẤP CAO HƠN XẾP LOẠI TỪ C TRỞ LÊN
Họ và tên tác giả: HOÀNG THỊ LOAN
Chức vụ và đơn vị công tác: Trường Tiểu học Xuân Trường.

TT

Tên đề tài SKKN

Cấp
đánh giá
xếp loại

Kết quả

C

2009-2010

3.

Một số biện pháp rèn kỹ năng đọc
cho học sinh lớp 2

Phòng
GD&ĐT
Thọ Xuân

C

2014-2015

4.

Một số biện pháp nâng cao chất
lượng giải toán cho học sinh lớp 2

Phòng
GD&ĐT
Thọ Xuân

C

2016-2017


NXBGD năm 2012

24




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status