Một số biện pháp giúp học sinh lớp 1 giải toán có lời văn - Pdf 57

TT
1
2
3
4
5
6
7
8
9
19
11
12
13
14

Mục lục
1. PHẦN MỞ ĐẦU
1.1. Lý do chọn đề tài
1.2. Mục đích nghiên cứu
1.3. Đối tượng nghiên cứu
1.4. Phương pháp nghiên cứu
2. PHẦN NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
2.1. Cơ sở lí luận
2.2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm.
2.3. Những giải pháp thực hiện
2.4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm.
3. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
3.1. Kết luận.
3.2. Kiến nghị
Tài liệu tham khảo

1C tôi thấy: Toán có lời văn có vị trí rất quan trọng trong chương trình toán ở
trường Tiểu học. Học sinh được làm quen với toán có lời văn ngay từ lớp 1, yêu
cầu học sinh viết câu lời giải cho phép tính, nêu đề bài toán. Đây quả là một khó
khăn đối với học sinh, khi học giải toán có lời văn. Đọc một đề toán đang còn
khó đối với các em, và còn tiếp tục phải tìm hiểu đề toán, tóm tắt đề, đặt câu lời
giải , phép tính, đáp số,… Vì vậy, đây cũng là vấn đề được đồng nghiệp của tôi
luôn trao đổi và thảo luận: “Làm thế nào để học sinh hiểu được đề toán, viết
được tóm tắt, nêu được câu lời giải hay, phép tính đúng” là một quá trình dày
công vun xới “người trồng”.
Toán có lời văn thực chất là những bài toán thực tế, nội dung bài toán được
thông qua những câu văn nói về những quan hệ, tương quan và phụ thuộc có liên
quan tới cuộc sống thường xảy ra hàng ngày. Cái khó của bài toán có lời văn là
phải lược bỏ những yếu tố về lời văn đã che đậy bản chất toán học của bài toán.
Hay nói cách khác là chỉ ra các mối quan hệ giữa các yếu tố toán học chứa đựng
trong bài toán và nêu ra câu lời giải phép tính thích hợp để từ đó tìm được đáp
số của bài toán.
Nhưng làm thế nào để học sinh hiểu và giải toán theo yêu cầu cuả chương
trình, đó là điều cần phải trao đổi nhiều đối với các nhà sư phạm, nhất là việc đặt
câu lời giải cho bài toán nhưng chúng ta biết ngay từ lớp một đã yêu cầu viết câu
lời giải, quả là một bước nhảy vọt khá lớn trong chương trình toán. Nhưng nếu
như nắm bắt được cách giải toán ngay từ lớp 1 thì đến các lớp sau các em dễ
dàng tiếp thu, nắm bắt và gọt dũa, tô luyện để trang bị thêm vào hành trang kiến
thức của mình để tiếp tục học tốt hơn ở các lớp trên.
Thực tế qua nhiều năm giảng dạy ở Tiểu học tôi nhận thấy học sinh giải các
bài toán có lời văn rất chậm so với các dạng bài tập khác. Các em thường lúng
túng khi đặt câu lời giải cho phép tính, do đó kết quả chưa cao, nhiều khi dạy
học sinh đặt câu lời giải còn vất vả hơn dạy trẻ lựa chọn các phép tính và thực
hiện các phép tính ấy để tìm ra đáp số, có lẽ vì thế mà đa số giáo viên muốn dạy
học sinh đặt câu lời giải sớm hơn để các em có nhiều thời gian rèn kĩ năng này.
Việc đặt lời giải ngay từ lớp 1 sẽ là một khó khăn đối với giáo viên trực tiếp

Khả năng giải toán có lời văn chính là phản ánh năng lực vận dụng kiến
thức của học sinh. Học sinh hiểu về mặt nội dung kiến thức toán học vận dụng
vào giải toán kết hợp với kiến thức Tiếng Việt để giải quyết vấn đề trong toán
học. Từ ngôn ngữ thông thường trong các đề toán đưa ra cho học sinh đọc - hiểu
- biết hướng giải đưa ra phép tính kèm câu trả lời và đáp số của bài toán.
Giải toán có lời văn góp phần củng cố kiến thức toán, rèn luyện kỹ năng
diễn đạt, tích cực góp phần phát triển tư duy cho học sinh tiểu học.
Đó là nguyên nhân chính mà tôi chọn đề tài nghiên cứu: “Một số biện
pháp giúp học sinh lớp 1 giải toán có lời văn”.
Đối với trẻ là học sinh lớp 1, môn toán tuy có dễ nhưng để học sinh đọchiểu bài toán có lời văn quả không dễ dàng, vả lại việc viết lên một câu lời giải
phù hợp với câu hỏi của bài toán cũng là vấn đề không đơn giản. Bởi vậy nỗi
băn khoăn của giáo viên là hoàn toàn chính đáng.
Vậy làm thế nào để giáo viên nói - học sinh hiểu , học sinh thực hành diễn đạt đúng yêu cầu của bài toán.
Đó là mục đích chính của đề tài này.

2.2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm.
Trong quá trình giảng dạy ở Tiểu học…. đặc biệt dạy lớp 1, tôi nhận thấy
hầu như giáo viên nào cũng phàn nàn khi dạy đến phần giải toán có lời văn ở
lớp 1. Học sinh rất lúng túng khi nêu câu lời giải, thậm chí nêu sai câu lời giải,
viết sai phép tính, viết sai đáp số. Những tiết đầu tiên của giải toán có lời văn
mỗi lớp chỉ có khoảng 20% - 25% số học sinh biết nêu lời giải, viết đúng phép
3


tính và đáp số. Số còn lại là rất mơ hồ, các em chỉ nêu theo quán tính hoặc nêu
miệng thì được nhưng khi viết các em lại rất lúng túng, làm sai, một số em làm
đúng nhưng khi cô hỏi lại lại không biết để trả lời. Chứng tỏ các em chưa nắm
được một cách chắc chắn cách giải bài toán có lời văn. Giáo viên phải mất rất
nhiều công sức khi dạy đến phần này.
Kết quả điều tra tại lớp 1C Trường Tiểu học Thị trấn Sao Vàng

- Giáo viên chưa chuẩn bị tốt cho các em khi dạy những bài trước. Những
bài nhìn hình vẽ viết phép tính thích hợp, đối với những bài này hầu như học
sinh đều làm được nên giáo viên tỏ ra chủ quan, ít nhấn mạnh hoặc không chú ý
lắm mà chỉ tập trung vào dạy kĩ năng đặt tính, tính toán của học sinh mà quên
mất rằng đó là những bài toán làm bước đệm, bước khởi đầu của dạng toán có
lời văn sau này. Đối với giáo viên dạy lớp 1 khi dạy dạng bài nhìn hình vẽ viết
phép tính thích hợp, cần cho học sinh quan sát tranh tập nêu bài toán và thường
xuyên rèn cho học sinh thói quen nhìn hình vẽ nêu bài toán. Có thể tập cho
những em học sinh giỏi tập nêu câu trả lời cứ như vậy trong một khoảng thời
gian chuẩn bị như thế thì đến lúc học đến phần bài toán có lời văn học sinh sẽ
không ngỡ ngàng và các em sẽ dễ dàng tiếp thu, hiểu và giải đúng.
- Nguyên nhân từ phía học sinh
Do học sinh mới bắt đầu làm quen với dạng toán này lần đầu, tư duy của
các em còn mang tính trực quan là chủ yếu. Mặt khác ở giai đoạn này các em
chưa đọc thông viết thạo, các em đọc còn đánh vần nên khi đọc xong bài toán
rồi nhưng các em không hiểu bài toán nói gì, thậm chí có những em đọc đi đọc
lại nhiều lần nhưng vẫn chưa hiểu bài toán. Vì vậy học sinh không làm đúng
cũng là điều dễ hiểu. Vậy làm thế nào để học sinh nắm được cách giải một cách
chắc chắn chính xác.

2.3. Những giải pháp thực hiện
Giải pháp 1: Giúp học sinh bước đầu làm quen với giải toán có lời văn
Ngay từ đầu năm học các bài toán được giới thiệu ở mức độ nhìn hình vẽ
- viết phép tính. Mục đích cho học sinh hiểu bài toán qua hình vẽ, suy nghĩ chọn
phép tính thích hợp.
4


Thông thường sau mỗi phép tính ở phần luyện tập có một hình vẽ gồm 5
ô vuông cho học sinh chọn ghi phép tính và kết quả phù hợp với hình vẽ. Ban


9

Cách 2: Có 1 hộp đưa vào chỗ 8 hộp , tất cả là 9 hộp.
1

+

8

=

9

Tương tự câu b: Có 7 bạn và 2 bạn đang đi tới. Tất cả là 9 bạn.
Cách 1:
7

+

2

=

9
5


Cách 2:
2

Bài 3 trang 87
b, Có : 10 quả bóng
Cho : 3 quả bóng
Còn :.... quả bóng?
10

-

3

=

7

Học sinh từng bước làm quen với lời thay cho hình vẽ, học sinh dần dần thoát
ly khỏi hình ảnh trực quan từng bước tiếp cận đề bài toán. Yêu cầu học sinh phải
đọc và hiểu được tóm tắt, biết diễn đạt đề bài và lời giải bài toán bằng lời, chọn
phép tính thích hợp nhưng chưa cần viết lời giải.
Tuy không yêu cầu cao, tránh tình trạng quá tải với học sinh, nhưng có thể
động viên học sinh khá giỏi làm nhiều cách, có nhiều cách diễn đạt từ một hình
vẽ hay một tình huống sách giáo khoa.
Giải pháp 3: Giúp học sinh tiếp cận với bài toán có lời văn
Giới thiệu bài toán có lời văn bằng cách cho học sinh tiếp cận với một đề
bài toán chưa hoàn chỉnh kèm theo hình vẽ và yêu cầu hoàn thiện (tiết 81- bài
toán có lời văn). Tư duy học sinh từ hình ảnh phát triển thành ngôn ngữ, thành
chữ viết. Giải toán có lời văn ban đầu được thực hiện bằng phép tính cộng là phù
hợp với tư duy của học sinh.
Ví dụ: Bài toán 1( Tiết 81): Có ….bạn, có thêm … bạn đang đi tới. Hỏi có tất cả
bao nhiêu bạn?


toán, phần tóm tắt đề toán và giải bài toán hoàn chỉnh để học sinh làm quen.
( Bài toán - trang 117)
Giáo viên cần cho học sinh nắm vững đề toán, thông qua việc tóm tắt đề
toán. Biết tóm tắt đề toán là yêu cầu đầu tiên để giải bài toán có lời văn.
Bài giải gồm 3 phần: câu lời giải, phép tính và đáp số.
Chú ý rằng tóm tắt không nằm trong lời giải của bài toán, nhưng phần tóm
tắt cần được luyện kỹ để học sinh nắm được bài toán đầy đủ, chính xác. Câu lời
giải trong bài giải không yêu cầu mọi học sinh phải theo mẫu như nhau, tạo diều
kiện cho học sinh diễn đạt câu trả lời theo ý hiểu của mình. Quy ước viết đơn vị
của phép tính trong bài giải học sinh cần nhớ để thực hiện khi trình bày bài giải.
Bài toán giải bằng phép tính trừ được giới thiệu khi học sinh đã thành
thạo giải bài toán có lời văn bằng phép tính cộng. giáo viên chỉ hướng dẫn cách
làm tương tự,thay thế phép tính cho phù hợp với bài toán.

8


Ở lớp 1, học sinh chỉ giải toán về “thêm’’, “bớt” với 1 phép tính cộng
hoặc trừ, mọi học sinh bình thường đều có thể hoàn thành nhiệm vụ học tập một
cách nhẹ nhàng nếu được giáo viên hướng dẫn cụ thể.
Giáo viên dạy cho học sinh giải bài toán có lời văn cần thực hiện tốt các
bước sau:
- Đọc kĩ đề bài: Đề toán cho biết những gì? Đề toán yêu cầu gì?
- Tóm tắt đề bài
- Tìm được cách giải bài toán
- Trình bày bài giải
- Kiểm tra lời giải và đáp số
Khi giải bài toán có lời văn giáo viên lưu ý cho học sinh hiểu rõ những
điều đã cho, yêu cầu phải tìm, biết chuyển dịch ngôn ngữ thông thường thành
ngôn ngữ toán học, đó là phép tính thích hợp.

2 phần:
9


- Thông tin đã biết gồm 2 yếu tố.
- Câu hỏi ( thông tin cần tìm )
Từ đó học sinh xác định được phần còn thiếu trong bài tập ở trang116:
Có 1 con gà mẹ và 7con gà con. Hỏi có tất cả bao nhiêu con gà?
Kết hợp giữa việc quan sát tranh và trả lời câu hỏi gợi ý của giáo viên,
học sinh hoàn thành bài toán 4 trang 116:
Có 4 con chim đậu trên cành, có thêm 2 con chim bay đến. Hỏi có tất cả
bao nhiêu con chim?
 Tiết 82 Giải toán có lời văn.
Giáo viên nêu bài toán .
Học sinh đọc bài toán
- Đây là bài toán gì?
Bài toán có lời văn.
-Thông tin cho biết là gì ?
Có 5 con gà, mua thêm 4 con gà.
- Câu hỏi là gì ?
Hỏi nhà An có tất cả mấy con gà ?
Dựa vào tranh vẽ và tóm tắt mẫu, giáo viên đưa ra cách giải bài toán mẫu:
Bài giải
Nhà An có tất cả là:
5 + 4 = 9 ( con gà )
Đáp số : 9 con gà
Bài 1 trang117: Học sinh đọc bài toán - phân tích đề bài - điền vào tóm tắt
và giải bài toán .
Tóm tắt:
An có

mở rộng hơn, hay hơn bằng cách thêm cụm từ chỉ vị trí vào trước cụm từ có tất
cả là.
Cụ thể là
- Bài 1 tr 121
Trong vườn có tất cả là:
- Bài 2 tr 121
Trên tường có tất cả là:
 Tiết 85 Luyện tập
Bài 1 trang 122 HS đọc đề toán – phân tích bài toán ( như trên )
Điền số vào tóm tắt
Vài ba học sinh nêu câu lời giải khác nhau
Giaó viên chốt lại một cách trả lời mẫu:
- Số quả bóng của An có tất cả là:
Tương tự
Bài 2 trang122
- Số bạn của tổ em có là:
Bài 3 trang122
- Số gà có tất cả là:
Vậy qua 3 bài tập trên học sinh đã mở rộng được nhiều cách viêt câu lời
giải khác nhau, song giáo viên chốt lại cách viết lời giải như sau:
Thêm chữ Số+ đơn vị tính của bài toán trước cụm từ có tất cả là như ở
tiết 82 đã làm .
Riêng với loại bài mà đơn vị tính là đơn vị đo độ dài( cm) cần thêm chữ
dài vào trước chữ là.
VD cụ thể
Tóm tắt
Đoạn thẳng AB
: 5cm
Đoạn thẳng BC : 3cm
Cả hai đoạn thẳng : ... cm?

Bài giải
Số gà còn lại là:
9 – 3 = 6( con gà)
Đáp số: 6 con gà.
Bài 1 trang148
Tóm tắt

: 8 con chim
Bay đi : 2 con chim
Còn lại:... con chim?
Bài giải
Số chim còn lại là:
8 - 2 = 6( con chim)
Đáp số : 6 con chim.
Bài 2 trang 149
Tóm tắt

: 8 quả bóng
Đã thả :3 quả bóng
Còn lại:....quả bóng?
Bài giải
Số bóng còn lại là :
8 - 3 = 5( quả bóng)
Đáp số: 5 quả bóng
Bài 3 trang 149
Tóm tắt
Đàn vịt có : 8 con
Ở dưới ao : 5 con
Trên bờ: ... con?
Bài giải

 Tiết 108
Luyện tập chung
Đây là phần tổng hợp chốt kiến thức của cả 2 dạng toán đơn thêm và bớt
ở lớp1.
Bài 1 trang 152
a, Bài toán:
Trong bến có .... ô tô, có thêm .... ô tô vào bến. Hỏi ..................................?
Học sinh quan sát tranhvà hoàn thiện bài toán thêm rồi giải bài toán với
câu lời giải có cụm từ có tất cả
b, Bài toán:
Lúc đầu trên cành có 6 con chim, có .... con bay đi. Hỏi ............................?
Học sinh quan sát tranh rồi hoàn thiện bài toán bớt và giải bài toán với
câu lời giải có cụm từ còn lại
Lúc này học sinh đã quá quen với giải bài toán có lời văn nên hướng dẫn cho
Học sinh chọn cách viết câu lời giải gần với câu hỏi nhất đó là:
- Đọc kĩ câu hỏi.
- Bỏ chữ Hỏi đầu câu hỏi.
- Thay chữ bao nhiêu bằng chữ số.
- Thêm vào cuối câu chữ là và dấu hai chấm
Cụ thể Bài 1 trang 152
a, Câu hỏi là:
Hỏi có tất cả bao nhiêu ô tô?
Câu lời giải là:
Có tất cả số ô tô là :
b, Câu hỏi là: Hỏi trên cành còn lại bao nhiêu con chim?
Câu lời giải là: Trên cành còn lại số
con chim là :
VD khác:
 Câu hỏi là: Hỏi hai lớp trồng được tất cả bao nhiêu cây ?
13

Các
lần
khảo
sát


Lớp
số

HS viết
đúng câu lời
giải

HS viết
đúng phép
tính

HS viết
đúng đáp số

HS viết
đúng cả 3
bước

SL

TL

SL


34

Lần 3

1C

34

20

58,8%

25

73,5%

25

73,5%

20

58,8%

Lần 4

1C

34


hơn
3.KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
3. 1.Kết luận.
Qua những vướng mắc thực tế, cùng với lòng say mê, nhiệt tình nghiên cứu
và áp dụng cụ thể vào lớp 1 do tôi chủ nhiệm, đã giúp tôi hoàn thành ý tưởng
của mình. Song quá trình dạy dạng toán có lời văn, tôi rút ra được một số kinh
nghiệm sau.
- Người giáo viên phải thực sự có lòng nhiệt tình, say mê với nghề nghiệp,
với lương tâm, trách nhiệm của người thầy.
- Trong quá trình giảng dạy phải luôn nắm bắt, đúc rút những vướng mắc,
khó khăn thực tế ở lớp mình dạy, để từ đó nghiên cứu tìm ra hướng giải quyết tốt
nhất.
- Mỗi biện pháp giáo dục của thầy phải được thực hiện đúng thời điểm, đúng
nội dung ở từng bài học.
- Không nên quá phụ thuộc vào sách giáo viên, vì sách giáo viện chỉ là tài
liệu hướng dẫn, tham khảo, không thể áp dụng đại trà với mọi đối tượng học
sinh trong lớp được.
- Cần quan tâm, động viên, khuyến khích giúp đỡ các em vượt mọi khó
khăn để học tập tốt hơn.
- Trong quá trình hướng dẫn giải toán có lời văn (ở lớp một) giáo viên cần
lưu ý hơn nữa việc hướng dẫn cho các em cách đặt câu lời giải cho hay, xúc tích.
Vì việc thực hiện phép tính các em đều có thể nêu được ngay sau khi đọc xong
đề toán.
- Phải cố gắng khắc phục các sai lầm của các em trong mỗi bài, mỗi phần,
mỗi dạng toán, tránh để các sai lầm dồn lại sẽ khó giải quyết.
- Để giúp học sinh có kĩ năng giải toán thành thạo người giáo viên cần chú ý
nhiều đến kĩ năng nghe – nói - đọc - viết trong môn Tiếng Việt. Luyện kĩ năng
hỏi - đáp giúp các em có vốn từ ngữ lưu thông hơn, giúp các em dễ dàng đặt câu
lời giải cho bài toán.
- Trong từng tiết học, người giáo viên cũng cần tìm ra nhiều biện pháp, nhiều

Phạm Thị Điệp

Thanh Hóa, ngày 30 tháng 5 năm 2018
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của mình
viết, không sao chép nội dung của người
khác

Lê Thị Oanh

16


DANH MỤC
CÁC ĐỀ TÀI SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐÃ ĐƯỢC HỘI ĐỒNG
ĐÁNH GIÁ XẾP LOẠI CẤP PHÒNG GD&ĐT, CẤP SỞ GD&ĐT VÀ CÁC
CẤP CAO HƠN XẾP LOẠI TỪ C TRỞ LÊN
Họ và tên tác giả: Lê Thị Oanh
Chức vụ và đơn vị công tác: Giáo viên - trường TH TT Sao Vàng - huyện Thọ
Xuân – tỉnh Thanh Hóa.

TT

Tên đề tài SKKN

Tiếng việt
1

Kết quả
Cấp đánh giá
đánh giá

PHÒNG GD&ĐT THỌ XUÂN

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH LỚP 1
GIẢI TOÁN CÓ LỜI VĂN

Người thực hiện: Lê Thị Oanh
Chức vụ:
Giáo viên
Đơn vị công tác: Trường TH TT Sao Vàng
SKKN thuộc môn: Toán

19
THANH HOÁ NĂM 2018




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status