Một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả dạy tập làm văn lớp 3 - Pdf 53

1. MỞ ĐẦU
1.1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Như chúng ta đã biết Tiểu học là cấp học đầu tiên, là nơi các em bước vào
ngưỡng cửa tri thức. Giai đoạn này các em được cung cấp hai luồng tri thức
thông qua hai môn học chính đó là: Tiếng Việt và Toán. Mỗi môn học có nhiệm
vụ riêng có hướng giáo dục tri thức riêng, nhưng vẫn tác động qua lại lẫn nhau
và cùng với các môn học khác tạo nên một nền tảng vững vàng cho các cấp bậc
sau. Trong đó môn Tiếng Việt cùng có nhiệm vụ cung cấp cho học sinh bốn kĩ
năng cơ bản đó là: “Nghe, nói, đọc, viết”, mà trong môn học này lại có các phân
môn cấu thành là: Tập đọc, Chính tả, Luyện từ và câu, Tập làm văn, Kể
chuyện… Trong đó phân môn Tập làm văn là phân môn có tính chất tích hợp
của các phân môn. Qua tiết Tập làm văn học sinh có khả năng xây dựng một văn
bản, đó là bài nói, bài viết. Nói và viết là những hình thức giao tiếp rất quan
trọng, thông qua đó con người thực hiện quá trình tư duy chiếm lĩnh tri thức,
trao đổi tư tưởng, tình cảm, quan điểm, giúp mọi người hiểu nhau, cùng hợp tác
trong cuộc sống lao động. Ngôn ngữ (dưới dạng nói ngôn bản và dưới dạng viết
văn bản), giữ vai trò quan trọng trong sự phát triển xã hội. Chính vì vậy, hướng
dẫn học sinh nói đúng và viết đúng là hết sức cần thiết. Nhiệm vụ nặng nề đó
phụ thuộc rất lớn vào việc giảng dạy môn Tiếng Việt nói chung và phân môn
Tập làm văn nói riêng.
Để thực hiện tốt mục tiêu của môn học đòi hỏi người thầy phải biết vận
dụng linh hoạt, sáng tạo các phương pháp và hình thức tổ chức dạy học sao cho
phù hợp với khả năng sử dụng ngôn ngữ và tâm lí lứa tuổi học sinh (HS) để giờ
học diễn ra tự nhiên nhẹ nhàng và có hiệu quả. Trong giảng dạy giáo viên phải
có nghệ thuật sư phạm, biết dẫn dắt, gợi mở đưa học sinh giải quyết các tình
huống và thông qua việc xử lí các tình huống đó học sinh lĩnh hội được kiến
thức bài. Qua thực tế chỉ đạo công tác giảng dạy trong nhà trường; qua dự giờ
thăm lớp của anh chị em giáo viên đặc biệt là khi dự giờ tiết tập làm văn lớp 3
trong trường tiểu học (kể cả dự giờ giáo viên giỏi) tôi thấy có nhiều chỗ băn
khoăn, trăn trở. Giáo viên chưa biết cách khai thác dẫn dắt học sinh tìm tòi kiến
thức nhất là với hai dạng bài: “Nghe - Kể lại chuyện” và “Kể hay nói, viết về

Một số biện pháp chỉ đạo nhằm nâng cao hiệu quả dạy tập làm văn lớp 3.
1.4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Trong qua trình nghiên cứu, tôi đã áp dụng một số phương pháp sau:
1 - Phương pháp nghiên cứu tài liệu, lí luận.
2 - Phương pháp phân tích, tổng hợp.
3 - Phương pháp điều tra, khảo sát.
4 - Phương pháp luyện tập, thực hành.
5 - Phương pháp thống kê.
6 - Phương pháp trao đổi, tranh luận.
Trong các phương pháp trên, khi nghiên cứu tôi vận dụng hài hoà các phương
pháp để tìm ra các giải pháp của mình đạt kết quả tối ưu nhất.

2. NỘI DUNG
2.1 Cơ sở lý luận:
Tập làm văn là một trong những phân môn có vị trí quan trọng của môn
Tiếng Việt. Phân môn này đòi hỏi học sinh phải vận dụng những kiến thức, kĩ
năng tổng hợp từ nhiều phân môn khác như: Tập đọc, Tâp viết, Chính tả, Luyện
từ và câu… Để làm được một bài văn học sinh phải sử dụng cả bốn kĩ năng:
Nghe, nói, đọc, viết, học sinh phải vận dụng những kiến thức về tiếng Việt, về
cuộc sống thực tiễn.
Phân môn Tập làm văn rèn luyện cho học sinh các kĩ năng tạo lập văn
bản, trong quá trình lĩnh hội các kiến thức khoa học, góp phần dạy học sinh sử
dụng Tiếng Việt trong đời sống sinh hoạt. Vì vậy, Tập làm văn được coi là phân
môn có tính tổng hợp, toàn diện, sáng tạo có liên quan mật thiết đến các môn
học khác. Trên cơ sở nội dung, chương trình phân môn Tập làm văn có rất nhiều
2


đổi mới, nên đòi hỏi tiết dạy Tập làm văn phải đạt được mục đích cụ thể hơn, rõ
nét hơn. Ngoài phương pháp của giáo viên, học sinh cần có vốn kiến thức ngôn

* Học sinh:
Năm học 2017 - 2018 trường Tiểu học Thọ Hải, Thọ Xuân, Thanh Hóa có
409 học sinh, đa số các em được phô huynh quan t©m.
Mặt khác, ở lứa tuổi học sinh lớp ba, các em rất ham tìm tòi học hỏi.
Nội dung chương trình môn Tiếng Việt nói chung và phân môn Tập làm
văn nói riêng rất phong phú; kênh hình Sách giáo khoa được trình bày đẹp, phù
hợp tâm sinh lí lứa tuổi các em.
Học sinh đã nắm vững kiến thức, kĩ năng tạo lập văn bản, kể chuyện,
miêu tả từ các lớp dưới. Đây là cơ sở giúp các em học tốt phân môn Tập làm văn
lớp ba.
b. Khó khăn:
3


Tập làm văn là phân môn khó so với các phân môn khác của môn Tiếng
Việt, vì vậy việc dạy – học ở phân môn này có những hạn chế nhất định.
Trong việc rèn kĩ năng nói – viết cho học sinh, giáo viên có đầu tư nghiên
cứu mục tiêu các tiết dạy để lựa chọn các phương pháp và hình thức tổ chức dạy
học sao cho phù hợp từng đối tượng học sinh, nhưng sự đầu tư chưa sâu nên
hiệu quả dạy học phân môn Tập làm văn chưa cao. Một số bài trong chương
trình đề ra chưa gần gũi với học sinh như: Lễ hội, tin thể thao… Dụng cụ trực
quan thiếu, giáo viên chỉ nói suông nên học sinh không hiểu, không nắm bắt
được thông tin vì vậy bài làm không đạt hiệu quả cao.
Chất lượng phân môn Tập làm văn đầu năm rất thấp, học sinh chưa biết
viết đoạn văn có ý tưởng phong phú, sáng tạo mà chỉ biết trả lời theo câu hỏi gợi
ý. Đấy là vấn đề nan giải đòi hỏi giáo viên phải có biện pháp thích hợp để từng
bước giảng dạy đạt kết quả.
Qua khảo sát chất lượng đầu năm, năm học 2017 - 2018 ở môn TLV ở
khối lớp 3 trường Tiểu học Thọ Hải cho thấy:
TỐT

Số HS
Tỉ lệ
12

15,8%

Từ thực trạng trên cho thấy việc học và nắm kiến thức của học sinh về
phân môn tập làm văn chưa cao là do nguyên nhân cả hai phía người dạy và
người học. Do vậy, để học sinh tích cực chủ động tham gia và lĩnh hội kiến thức
một cách có hiệu quả trong giờ học. Tôi xin mạnh dạn đưa ra một số kinh
nghiệm mà bản thân tôi rút ra được từ thực tế giảng dạy để đồng nghiệp tham
khảo, vận dụng vào quá trình giảng dạy của mình nhằm nâng cao chất lượng
hiệu quả giờ dạy.
2.3 CÁC GIẢI PHÁP DẠY TẬP LÀM VĂN LỚP 3.
Biện pháp 1: Luôn coi trọng việc “tích hợp – lồng ghép” khi dạy
phân môn Tập làm văn lớp 3.
Trong quá trình dạy học Tập làm văn giáo viên cần hiểu rõ tính tích hợp
giữa các phân môn trong môn Tiếng Việt như: Tập đọc, kể chuyện, chính tả,
luyện từ và câu, tập viết,… để giảng dạy và tạo đà cho học sinh học tập tốt phân
môn Tập làm văn. Mối quan hệ này thể hiện rõ trong cấu trúc của sách giáo
khoa: Các bài học được biên soạn theo chủ đề, chủ điểm, các đơn vị học xoay
quanh một chủ điểm ở tất cả các phân môn.
Ví dụ: Chủ đề Quê hương dạy trong hai tuần (Tuần 10, Tuần 11), thông
qua các bài tập đọc, Luyện từ và câu, Tập viết,… Trong quá trình rèn đọc, khai
thác nội dung các bài đọc, viết chính tả,… Cung cấp cho học sinh vốn từ về chủ

4


đề Quê hương, cho học sinh làm quen với những câu văn có hình ảnh về chủ đề

Qua câu trả lời của học sinh, giáo viên định hướng cho các em ý thức biết
yêu quý, gắn bó với quê hương, giúp các em khi viết đoạn văn: Kể về quê hương
em hoặc nơi em đang ở, đoạn văn thể hiện được cảm nhận về vẻ đẹp của quê
hương em cũng như tình cảm của em đối với quê hương.
Như vậy qua tiết học Tập đọc - kể chuyện này, học sinh mở rộng vốn từ,
rèn lối diễn đạt mạch lạc, lôgíc, câu văn có hình ảnh, cảm xúc. Trên cơ sở đó,
bài luyện nói của các em sẽ trôi chảy, sinh động, giàu cảm xúc, đồng thời hình
thành cho các em cách ứng xử linh hoạt trong cuộc sống; hình thành cho học
sinh kiến thức tình yêu quê hương, đất nước cũng từ đó các em có được hướng
phấn đấu trong học tập để góp phần xây dương quê hương Việt Nam ngày càng
giàu đẹp hơn.

5


Phân môn Luyên từ và câu tuần 11 cũng cung cấp cho học sinh vốn từ về
chủ đề quê hương qua hệ thống các bài tập.Cụ thể:
Bài 1: Sắp xếp những từ đã cho vào 2 nhóm: (1) Chỉ sự vật ở quê hương,
(2) Chỉ tình cảm đối với quê hương.
Trước tiên giáo viên giúp học sinh hiểu nghĩa các từ trên sau đó tổ chức
cho học sinh sắp xếp từ vào các nhóm từ:
Nhóm 1: Chỉ sự vật ở quê hương.
Nhóm 2: Chỉ tình cảm đối với quê hương.
Từ việc hiểu nghĩa ở bài tập 1, học sinh hiểu ý nghĩa các thành ngữ ở bài
tập 2 và lựa chọn từ ngữ thay thế cho từ quê hương. Giáo viên cũng nên giải
thích cho học sinh hiểu từ đất nước, giang sơn có nghĩa rộng hơn Tây Nguyên vì
Tây Nguyên chỉ là một vùng đất của Việt Nam.
Ở phân môn chính tả tuần 10 các em cũng được luyện viết các bài trong
chủ đề Quê hương. Ví dụ: Nghe - viết bài: Quê hương ruột thịt. Ngoài việc học
sinh viết đúng, viết đẹp giáo viên còn giúp học sinh hiểu được tình cảm của chị


Vận dụng phương pháp dạy học theo quan điểm này, giáo viên tạo cho
học sinh nhiều cơ hội thực hành, luyện tập, không quá nặng về lý thuyết như
phương pháp dạy truyền thống. Do vậy học sinh hào hứng tham gia vào các hoạt
động học tập, tích cực sáng tạo trong làm văn. Việc hình thành và rèn luyện các
kĩ năng nghe, nói, đọc, viết cho học sinh thông qua phân môn Tập làm văn đảm
bảo đạt được hiệu quả cao.
Ví dụ: Khi dạy bài tập nghe và kể lại câu chuyện “Kéo cây lúa lên” (Tập
làm văn tuần 16).
Bước 1: GV kể chuyện lần thứ nhất cho học sinh nghe. Học sinh quan sát
tranh, dựa vào gợi ý sách giáo khoa… Giáo viên dẫn dắt học sinh nắm được nội
dung câu chuyện. Chẳng hạn:
+ Truyện này có những nhân vật nào? (Chàng ngốc và vợ).
+ Khi thấy lúa nhà mình xấu chàng ngốc đã làm gì? (Kéo cây lúa lên cho
lúa cao hơn ruộng nhà bên cạnh).
+ Về nhà, anh khoe gì với vợ? (Anh ta khoe kéo lúa cao hơn ruộng nhà
bên cạnh).
+ Chị vợ ra đồng thấy kết quả thế nào? (Cả ruộng lúa nhà mình héo rũ).
+ Vì sao lúa nhà chàng ngốc bị héo? (Cây lúa bị kéo lên, đứt rễ, nên héo
rũ).
Bước 2: GV kể lần 2. HS chú ý lắng nghe.
Từ đó học sinh kể được nội dung câu chuyện như sau:
Có một chàng ngốc ra thăm đồng. Thấy lúa nhà mình xấu hơn nhà bên
cạnh, anh ta bèn lấy tay kéo lúa nhà mình lên cho cao hơn cây lúa nhà người. Về
đến nhà, anh ta khoe:
- Lúa của nhà ta xấu quá. Nhưng hôm nay tôi đã kéo nó lên cao hơn lúa ở
ruộng của nhà bên rồi.
Chị vợ ra đến đồng thì thấy bao nhiêu lúa nhà mình đã héo rũ.
Qua giao tiếp giữa giáo viên với học sinh, tôi tiến hành tổ chức cho học
sinh giao tiếp với nhau qua các hình thức như: kể cho nhau nghe theo cặp đôi

người Ê-ti-ô-pi-a: Họ coi đất đai là thứ thiêng liêng, cao quý nhất. Thông qua kể
lại câu chuyện theo tranh, học sinh hình thành và rèn luyện khả năng diễn đạt,
phục vụ tốt cho bài tập nói của tiết Tập làm văn.
Nói tóm lại: Học sinh rèn kĩ năng quan sát, nói-viết, rút ra những nét điển
hình, đặc trưng của từng vùng miền, thấy được vẻ đẹp đáng yêu, đáng tự hào của
mỗi vùng miền, từ đó hình thành nuôi dưỡng tình cảm gắn bó, yêu thương, ý
thức giữ gìn, xây dựng quê hương đất nước. Ngoài ra, mỗi giáo viên cần chú
trọng vận dụng phương pháp dạy học theo quan diểm giao tiếp, khơi dậy ở các
em những cảm xúc, đánh thức tiềm năng cảm thụ văn học và có nhu cầu thể
hiện, bày tỏ cảm thụ đó với người khác. Như vậy, mỗi bài nói bài viết sẽ chính là
tâm hồn tình cảm của các em, các em sẽ thêm yêu văn, yêu cái hay cái đẹp, thêm
yêu Tiếng Việt góp phần giữ gìn sự trong sáng của Tiếng Việt.
Biện pháp 3: Tổ chức tốt việc quan sát, hướng dẫn học sinh cách
dùng từ, giọng kể, điệu bộ khi làm văn nói - viết.
Đối với học sinh Tiểu học, đặc biệt là học sinh lớp 3, vốn từ của các em
còn hạn chế, nên trong khi dạy học Tập làm văn gặp nhiều khó khăn trong việc
nói-viết, thông thường các em hoặc khi trả lời đọc lại câu văn có sẵn, nói thế nào
các em viết lại như vậy dẫn đến việc kể lại câu chuyện bằng lời văn của mình
gặp không ít khó khăn. Do vậy, tôi tổ chức tốt hoạt động quan sát từng đường
nét, màu sắc, hình ảnh, nội dung thể hiện của tranh. Học sinh cảm nhận được nét
đẹp của cảnh vật, con người và muốn bày tỏ trao đổi với bạn, với thầy cô.
Để làm tốt hoạt động này, trước hết tôi cho học sinh sử dụng gợi ý trong
sách giáo khoa, lắng nghe cô kể, bạn kể,để nhớ được các ý chính của nội dung
câu chuyện. Tôi luôn chú trọng về lời văn kể và nghệ thuật sử dụng ngôn từ của
mình. Hướng cho các em cách chọn lựa, sử dụng từ ngữ, hình ảnh diễn đạt sao
cho dễ hiểu, sinh động. Với cách làm đó các em sẽ dễ dàng hình dung, tưởng
tượng, nắm bắt được sự việc, nhất là tình cảm của các em muốn thể hiện qua bài
nói, bài viết. Người nghe, người đọc tuy không trực tiếp nhìn diện mạo của nhân
vật, xem bối cảnh của sự việc qua hình ảnh miêu tả, so sánh cùng với những tình


rèn luyện khả năng sử dụng những yếu tố phi ngôn ngữ này.
Biện pháp 4: Sử dụng linh hoạt các hình thức hoạt động trong tiết
dạy tập làm văn theo hướng đổi mới phương pháp dạy học.
Việc tổ chức tốt các hình thức dạy học nhằm cuốn hút học sinh vào các
hoạt động học tập một cách chủ động và tích cực. Để đạt được điều đó, giáo
viên sử dụng các hình thức tổ chức dạy học như: Học sinh thảo luận nhóm, đàm
thoại với nhau hoặc với chính các thầy cô, hoặc hoạt động cá nhân (độc thoại)
về một vấn đề. Các hình thức tổ chức hoạt động học có thể là: Đóng vai các hoạt
cảnh, vận dụng các trò chơi trong tiết học, các cuộc thi tiếp sức,… Qua đó học
sinh lĩnh hội kiến thức, tích cực, tự giác “Học mà chơi, chơi mà học”. Không khí
học tập thoải mái khiến học sinh mạnh dạn, tự tin khi nói. Các em dần có khả
năng diễn đạt, phát biểu ý kiến, đánh giá trước đông người một cách lưu loát,
rành mạch, dễ hiểu.
Ví dụ: Khi dạy tiết Tập làm văn tuần 15: Nghe và kể lại câu chuyện Giấu
cày. Tôi tổ chức phối hợp các hình thức như: đóng vai ( người vợ, bác nông dân,
người dẫn chuyện) để kể lại câu chuyện (Giấu cày). Tạo cho các em không khí
9


học tập thoải mái, tích cực. Qua cách làm này tôi thấy học sinh học tập tích cực
hơn. Giờ dạy nhẹ nhàng và học sinh nắm được nội dung câu chuyện mà không
bị gò bó, ép buộc.
So sánh với phương pháp dạy tập làm văn lớp 3 truyền thống: Mỗi tiết tập
làm văn chú trọng đến mục tiêu là hình thành bài văn theo một đề bài thuộc một
thể loại văn nào đó dưới dạng nói hoặc viết. Tiết học diễn ra theo tiến trình: Giáo
viên hướng dẫn làm bài dựa theo dàn bài thuộc thể loại chung, đưa ra các câu
hỏi gợi ý… khiến cho học sinh dễ nhàm chán, có cảm giác bị bắt buộc theo
khuôn mẫu không khuyến khích được học sinh nói, viết những cảm xúc, nhận
xét, đánh giá, sự miêu tả của chính các em. Trong chương trình sách giáo khoa
lớp 3, mỗi tiết Tập làm văn là một hệ thống bài tập có tính định hướng, gợi mở,

tham gia các hoạt động học một cách hào hứng, tích cực, sáng tạo.
Ví dụ : Tiết Tập làm văn (tuần 22) với hệ thống bài tập.
10


Bài 1: Kể về người lao động trí óc mà em biết.
- Trước hết tôi cho học sinh kể tên gọi một số người lao động trí óc.
Ví dụ: giáo viên, giáo sư, bác sĩ, nhà bác học,…
- Tiếp đó hướng cho các em lựa chọn đối tượng kể là ai? Có thể đó là
những người trong gia đình hoặc qua bài học, hoặc qua sách báo mà em biết.
Học sinh xác định được đó là đối tượng mà các em có ấn tượng sâu sắc về người
đó, thấy thích thú khi kể về người đó.
- Trao đổi nhóm (nhóm đôi) kể cho nhau nghe về người lao động trí óc.
- Giáo viên cho hoc sinh làm việc cá nhân (kể trước lớp).
- Học sinh khác nghe nhận xét, bổ sung.
Bài 2: Viết những điều mà em vừa kể vào đoạn văn.
- Học sinh phải biết viết những điều em vừa kể thành đoạn văn có cách
diễn đạt rõ ràng, có cảm xúc, câu viết phải đúng ngữ pháp.
• Như vậy, trong một tiết học, học sinh vừa luyện kể (luyện nói), vừa
luyện viết đoạn văn (văn bản), nên việc giáo viên vận dụng linh hoạt các hình
thứcdạy học trong dạy Tập làm văn là nhiệm vụ cần thiết.
Dạy Tập làm văn theo hướng tập trung vào học sinh không phải chỉ tìm ra
một câu trả lời có sẵn mà học sinh phải đưa ra được câu trả lời trên cơ sở suy
nghĩ và hiểu biết của chính các em. Quá trình tư duy đó đòi hỏi học sinh phải
vận dụng những vốn tri thức, hiểu biết phù hợp với vấn đề đặt ra trong câu hỏi;
phân tích, sắp xếp những tri thức đó, đưa ra những kết luận, phương án trả lời tốt
nhất. Nói ngắn gọn lại: Học sinh tìm câu trả lời qua việc thu thập, sàng lọc thông
tin và phân tích dữ kiện.
Ví dụ: Dạy Tiết 3 - Tuần 27, có bài tập như sau:
Em hãy đóng vai chi đội trưởng báo cáo với cô (thầy) tổng phụ trách kết

em viết tốt hơn đơn xin vào Đội.
Ví dụ: Tổ chức cho các em tham gia hội thi tim hiểu về Đội. Từ thực tế
đó, học sinh sẽ có thêm hiểu biết về Đội TNTP Hồ Chí Minh, giúp các em viết
tốt hơn đơn xin vào đội (tiết Tập làm văn tuần 2).
Chẳng hạn: Khi tổ chức cho các em tham gia buổi sinh hoạt Đội, tôi
hướng dẫn các em ghi chép lại những hiểu biết về Đội. Sau buổi đó tôi cho các
em thi nói những điều em biết về Đội. Với cách làm này tôi thấy học sinh tích
cực,chủ động hơn trong việc tìm hiểu. Điều đó góp phần thành công cho tiết dạy
Tập làm văn lớp 3 - Tuần 1. Hoặc qua buổi liên hoan văn nghệ chào mừng ngày
nhà giáo Việt Nam 20 - 11 nhà trường tổ chức, tôi hướng dẫn học sinh tập trung
theo dõi, ghi chép các tiết mục tiêu biểu, xuất sắc và đồng thời giúp các em ghi
lại cảm nghĩ của các em sau khi xem buổi liên hoan văn nghệ đó. Cũng từ đó tôi
giúp các em có cơ sở để viết được đoạn văn kể về một buổi biểu diễn nghệ
thuật( Tiết Tập làm văn Tuần 23).
2.4 HIỆU QUẢ CỦA SÁNG KIẾN ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC.
- Khi vận dụng các giải pháp trên vào dạy Tập làm văn ở trường, qua dự
giờ thăm lớp tôi thấy giờ học không trầm như trước mà học sinh chú ý học hơn
nhiều, qua thực hành giao tiếp cho thấy khả năng hoạt động học tập của học sinh
rất tích cực, hiệu quả.
- Học sinh mạnh dạn tự tin hơn trong học tập, vốn từ của học sinh phong
phú hơn, câu văn rõ ràng mạch lạc và giàu hình ảnh.
- Tiết học diễn ra nhẹ nhàng, gây hứng thú học tập cho học sinh. Học sinh
nghe giáo viên kể chuyện trên lớp sau đó nhiều em đã kể lại trọn vẹn câu chuyện
trước lớp. Qua kiểm tra định kỳ cuối học kì II năm học 2017- 2018 chất lượng
các bài văn của học sinh nâng lên rõ nét và kết quả đạt như sau:
TỐT

Tổng Số
HS



12


3. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
3.1. Kết luận:
Qua quá trình áp dụng thực hiện giảng dạy phân môn Tập làm văn lớp 3,
Tôi nhận thấy: học sinh thích thú hơn, mạnh dạn, tự tin hơn, vốn từ của học sinh
phong phú hơn, câu văn giàu hình ảnh, học sinh biết sử dụng dấu câu, … Đặc
biệt trong lớp có những học sinh khi viết bài đã biết vận dụng các biện pháp so
sánh, nhân hóa trong bài làm của các em. Các giờ học Tập làm văn nhẹ nhàng,
sôi nổi hơn.
Muốn đạt kết quả trong giảng dạy thì giáo viên phải: Chú trọng phương
pháp dạy học theo quan điểm giao tiếp, rèn kĩ năng nghe - nói - đọc - viết cho
học sinh. Vì vậy, tôi đã:
- Chỉ đạo cho giáo viên biết tổ chức tốt cho học sinh cách quan sát tranh,
cách dùng từ, giọng kể, lời nhân vật, nói viết thành câu. Động viên khuyến khích
học sinh tự học, học theo phương pháp tự tìm tòi.
- Chỉ đạo cho giáo viên tổ chức, phối hợp linh hoạt các hình thức và
phương pháp dạy học theo hướng đổi mới.
- Dạy học hướng tập trung vào học sinh, coi học sinh là chủ thể hoạt động,
tổ chức các hoạt động giúp các em chiếm lĩnh tri thức và rút ra kết luận phù hợp
với bài học.
Tóm lại: Dạy học Tập làm văn là phải hướng cho học sinh cách tự học
sáng tạo tri thức, phần lớn là cho học sinh tìm tòi, thực hành, luyện tập là chủ
yếu. Không nên dạy học một cách khuôn khổ như cách dạy và học truyền thống,
giáo viên phải tạo điều kiện tối đa cho học sinh phát huy khả năng của mình mà
không đi lệch hướng. Theo chương trình mới thì chúng ta phải lấy học sinh làm
trung tâm cho hoạt động dạy và học. Người giáo viên phải phối hợp nhiều hình
thức khác nhau như: hoạt động ngoài giờ lên lớp, hoạt động nhóm, cá nhân,

sổ tay những từ ngữ, câu văn hay các em đọc được.
Học sinh tự tin, mạnh dạn phát biểu trong các hoạt động học tập, có kĩ
năng trong giao tiếp ứng xử.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thọ Xuân, ngày 24 tháng 5 năm 2018
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của
mình viết, không sao chép nội dung
của người khác.
XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ

NGƯỜI VIẾT

Phó Hiệu trưởng

Lê Thị Mai

Đặng Thị Tâm

14


MỤC LỤC
Nội dung

STT

Trang

1


2. Nội dung sáng kiến kinh nghiệm

2-3

7

2.1 Cơ sở lí luận

2-3

8

2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp
dụng SKKN

3-4

2.3 Các giải pháp dạy TLV lớp 3

4 - 12

2.4 Hiệu quả của SKKN đối với
hoạt động giáo dục

12

9
10

11


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status