Luận văn tốt nghiệp
1
Học viện Tài chính
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan bản luận văn là công trình nghiên cứu khoa học, độc lập
của tôi. Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và có nguồn gốc
rõ ràng.
Tác giả luận văn
(Ký và ghi rõ họ tên)
SV: Hoàng Kim Tuấn Anh
Lớp: CQ50/11.15
Luận văn tốt nghiệp
2
Học viện Tài chính
MỤC LỤC
Contents
SV: Hoàng Kim Tuấn Anh
Lớp: CQ50/11.15
Vốn kinh doanh
VLĐ
Vốn lưu động
HTK
Hàng tồn kho
NPT
Nợ phải trả (trong luận văn có chỗ ký
hiệu nợ phải thu và đã có ghi chú)
VCSH
Vốn chủ sở hữu
TSNH
Tài sản ngắn hạn
TSDH
Tài sản dài hạn
DN
Lớp: CQ50/11.15
Luận văn tốt nghiệp
6
Học viện Tài chính
PHẦN MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Đối với bất kì một doanh nghiệp nào, vốn kinh doanh không chỉ là điều kiện
tiên quyết đối với sự ra đời mà còn là một trong những yếu tố giữ vai trò
quyết định trong quá trình hoạt động và phát triển của doanh nghiệp. Trong cơ
cấu vốn kinh doanh của doanh nghiệp, nếu như vốn cố định được ví như bộ
xương sống của doanh nghiệp thì vốn lưu động được coi là huyết mạch của
doanh nghiệp đó. Tùy vào hoạt động kinh doanh cụ thể mà cơ cấu vốn lưu
động có sự khác biệt ở một mức độ nào đó.
Kinh tế thị trường phát triển, hoạt động kinh doanh ngày càng được đẩy
mạnh thì nhu cầu cho đầu tư, cho sản xuất kinh doanh ngày càng tăng lên
mạnh mẽ. Để tồn tại và phát triển, các doanh nghiệp cần quan tâm đến việc
tạo lập, sử dụng và quản lý vốn sao cho hiệu quả nhất nhưng vẫn phải đảm
bảo hoạt động sản xuất kinh doanh diễn ra một cách thuận lợi và ổn định.
Trong 2 năm trở lại đây, ngành sản xuất bao bì đang có những dấu hiệu tăng
trưởng tốt và tương đối ổn định. Với đặc thù của ngành này thì lượng tài sản
lưu động (là hình thức biểu hiện của vốn lưu động) thường chiếm tỷ trọng lớn
trong tổng tài sản và mang tính thường xuyên nên việc quản lý loại vốn này là
rất cần thiết, và trên thực tế bài toán về việc quản trị vốn lưu động và tăng
cường quản trị vốn lưu động luôn là vấn đề hóc búa đối với doanh nghiệp, đặc
biệt là trong bối cảnh cạnh tranh cao như hiện nay
tác quản trị và hiệu quả quản trị vốn lưu động của công ty TNHH giấy và bao
bì Hà Nội.
Phạm vi nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu những vấn đề liên quan đến hoạt
động và sự phát triển của công ty TNHH giấy và bao bì Hà Nội mà trọng tâm
là tình hình quản trị vốn lưu động và các giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường
quản trị vốn lưu động tại công ty.
4. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu gồm: phương pháp so
sánh thời gian (giữa kỳ này với kỳ trước, giữa thực tế với kế hoạch) để biết
được sự thay đổi cũng như xu hướng biến động các chỉ tiêu kinh tế của doanh
nghiệp; phương pháp so sánh theo không gian (các chỉ tiêu giữa doanh nghiệp
thực tập với mức trung bình của ngành) để đánh giá vị thế và vai trò của công
SV: Hoàng Kim Tuấn Anh
Lớp: CQ50/11.15
Luận văn tốt nghiệp
8
Học viện Tài chính
ty trong ngành, đồng thời xem xét diễn biến tình hình biến động về vốn, tài
sản của đơn vị và phương pháp tỉ số để tính toán và thiết lập các tỷ số tài
chính cần thiết cho quá trình đánh giá tình hình và hiệu quả sử dụng vốn và
tài sản, phân tích kết quả chi phí, doanh thu, lợi nhuận của công ty.
5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Hầu hết các bộ phận nằm trong vốn lưu động đều có sự ảnh hưởng lớn tới
công ty TNHH giấy và bao bì Hà Nội và các bạn để đề tài nghiên cứu được
hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn Giảng viên hướng dẫn TS. Phạm Thị Quyên,
Ban lãnh đạo công ty TNHH giấy và bao bì Hà Nội cùng các anh chị cán bộ
chuyên viên phòng Kế toán - Tài chính của công ty đã tạo điều kiện, giúp đỡ
em hoàn thành đề tài nghiên cứu này.
Hà Nội, Ngày 8 tháng 05 năm 2016
Sinh viên thực hiện
Hoàng Kim Tuấn Anh
SV: Hoàng Kim Tuấn Anh
Lớp: CQ50/11.15
Luận văn tốt nghiệp
10
Học viện Tài chính
Chương 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ VỐN LƯU ĐỘNG VÀ
QUẢN TRỊ VỐN LƯU ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP
1.1. VỐN LƯU ĐỘNG VÀ NGUỒN HÌNH THÀNH VỐN LƯU ĐỘNG CỦA DOANH
NGHIỆP
1.1.1. Khái niệm và đặc điểm vốn lưu động của doanh nghiệp
Học viện Tài chính
dụng để xây dựng hoặc trang bị các tài sản cố định trong khi vốn lưu động lại
là số vốn tiền tệ ứng trước để mua sắm, hình thành các tài sản lưu động như
nguyên vật liệu dự trữ sản xuất, sản phẩm dở dang, bán thành phẩm, thành
phẩm chờ tiêu thụ, các khoản vốn bằng tiền, vốn trong thanh toán. Cách phân
loại này sẽ góp phần giúp cho doanh nghiệp có biện pháp tổ chức quản lý,
phân bổ sử dụng vốn kinh doanh của doanh nghiệp phù hợp và hiệu quả.
Bên cạnh tài sản cố định, để quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp có thể vận hành và duy trì một cách bình thường, liên tục thì
cũng cần có các tài sản lưu động. Phạm vi sử dụng tài sản trải rộng và bao
quát trong toàn bộ các công đoạn của quy trình và thường được chia thành hai
bộ phận: tài sản lưu động sản xuất và tài sản lưu động lưu thông. Tài sản lưu
động sản xuất bao gồm các loại như nguyên vật liệu chính, vật liệu phụ, nhiên
liệu, phụ tùng thay thế đang trong quá trình dự trữ sản xuất và các loại sản
phẩm dở dang, bán thành phẩm. Còn tài sản lưu động lưu thông bao gồm các
loại tài sản đang nằm trong quá trình lưu thông như thành phẩm trong kho chờ
tiêu thụ thụ, các khoản phải thu, vốn bằng tiền. Trong quá trình sản xuất kinh
doanh, tài sản lưu động sản xuất và tài sản lưu động lưu thông không ngừng
vận động, chuyển hóa, thay thế đổi chỗ cho nhau, đảm bảo cho quá trình này
diễn ra nhịp nhàng, liên tục, do đó giữa chúng có mối quan hệ gắn bó, mật
thiết, chặt chẽ và tác động qua lại lẫn nhau. Và để hình thành các tài sản lưu
động, doanh nghiệp phải ứng ra một số vốn tiền tệ nhất định để mua sắm các
tài sản đó, số vốn này được gọi là vốn lưu động của doanh nghiệp.
Như vậy, trên cơ sở tổng hợp sự phân tích ở trên, ta có thể đưa ra khái niệm
cơ bản về vốn lưu động như sau:
“Vốn lưu động là toàn bộ số tiền ứng trước mà doanh nghiệp bỏ ra để đầu
tư hình thành nên các tài sản lưu động thường xuyên cần thiết cho hoạt động
doanh
Theo cách phân loại này vốn lưu động của doanh nghiệp được phân thành 3
loại:
(1) Vốn lưu động trong khâu dự trữ
Bao gồm các khoản vốn sau:
- Vốn nguyên vật liệu chính: Là giá trị các loại vật tư dùng dự trữ sản xuất mà
SV: Hoàng Kim Tuấn Anh
Lớp: CQ50/11.15
Luận văn tốt nghiệp
13
Học viện Tài chính
khi tham gia vào sản xuất chúng cấu thành thực thể của sản phẩm.
- Vốn vật liệu phụ: Là giá trị các loại vật tư dự trữ dùng trong sản xuất. Các
loại vật tư này không cấu thành thực thể chính của sản phẩm mà nó kết hợp
với nguyên vật liệu chính làm thay đổi màu sắc, mùi vị, hình dáng bên ngoài
của sản phẩm hoặc tạo điều kiện cho quá trình sản xuất sản phẩm thực hiện
được bình thường, thuận lợi.
- Vốn nhiên liệu: Là giá trị các loại nhiên liệu dự trữ dùng trong hoạt động sản
xuất kinh doanh.
- Vốn phụ tùng thay thế: Là giá trị các loại vật tư dùng để thay thế, sửa chữa
các tài sản cố định dùng cho hoạt động sản xuất kinh doanh.
- Vốn vật liệu đóng gói: Là giá trị của các vật tư mà khi tham gia vào quá
trình sản xuất nó cấu thành bao bì bảo quản sản phẩm.
Loại vốn này được dùng cho quá trình sản xuất, đảm bảo cho quá trình sản
xuất của các bộ phận sản xuất trong dây truyền công nghệ được liên tục, hợp
lý.
(3) Vốn lưu động trong khâu lưu thông
Loại này bao gồm các khoản vốn:
- Vốn thành phẩm: Là giá trị những sản phẩm đã được sản xuất xong, đạt tiêu
chuẩn kỹ thuật và đã được nhập kho.
- Vốn bằng tiền: Bao gồm tiền mặt tại quỹ, tiền gửi ngân hàng và tiền đang
chuyển. Tiền là một loại tài sản của doanh nghiệp mà có thể dễ dàng chuyển
đổi thành các loại tài sản khác hoặc để trả nợ. Do vậy, trong hoạt động kinh
doanh đòi hỏi mỗi doanh nghiệp phải có một lượng tiền nhất định.
- Các khoản đầu tư ngắn hạn: Đầu tư chứng khoán ngắn hạn, cho vay ngắn
hạn... Đây là những khoản đầu tư nhằm một mặt đảm bảo khả năng thanh toán
(do tính thanh khoản của các tài sản tài chính ngắn hạn được đầu tư), mặt
khác tận dụng khả năng sinh lời của các tài sản tài chính ngắn hạn nhằm nâng
cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động.
- Các khoản vốn trong thanh toán: các khoản phải thu, các khoản tạm ứng...
Chủ yếu trong khoản mục vốn này là các khoản phải thu của khách hàng, thể
hiện số tiền mà khách hàng nợ doanh nghiệp phát sinh trong quá trình bán
SV: Hoàng Kim Tuấn Anh
Lớp: CQ50/11.15
Luận văn tốt nghiệp
15
Học viện Tài chính
Luận văn tốt nghiệp
16
Học viện Tài chính
(3) Hàng tồn kho
Là các khoản vốn lưu động có hình thái biểu hiện bằng hiện vật cụ thể bao
gồm:
- Vốn nguyên, nhiên vật liệu
- Vốn nguyên vật liệu chính
- Vốn vật liệu phụ
- Vốn nhiên liệu
- Công cụ, dụng cụ trong kho
- Chi phí sản xuất kinh doanh dở dang
- Thành phẩm tổn kho
- Hàng gửi bán
- Hàng mua đang đi trên đường
Đối với các doanh nghiệp sản xuất, hàng tồn kho có vai trò như một tấm
đệm an toàn giữa các giai đoạn khác nhau trong chu kỳ kinh doanh như dự trữ
- sản xuất - lưu thông khi mà giữa các giai đoạn này các hoạt động không phải
lúc nào cũng được diễn ra đồng bộ. Hàng tồn kho mang lại cho bộ phận sản
xuất và bộ phận marketing của một doanh nghiệp sự linh hoạt trong hoạt động
sản xuất kinh doanh như lựa chọn thời điểm mua nguyên vật liệu, lập kế
hoạch sản xuất và tiêu thụ. Ngoài ra hàng tồn kho giúp cho doanh nghiệp tự
bảo vệ trước những biến động cũng như sự không chắc chắn về nhu cầu đối
với các sản phẩm của doanh nghiệp.
(4) Tài sản lưu động khác
các ngân hàng thương mại hoặc các tổ chức tài chính khác; vốn thông qua
phát hành trái phiếu.
- Nguồn vốn trong thanh toán: Đó là các khoản nợ khách hàng, doanh nghiệp
khác trong quá trình thanh toán.
Việc phân loại này giúp cho ta có thể thấy được kết cấu các nguồn hình
thành nên vốn lưu động của doanh nghiệp. Từ đó, doanh nghiệp có thể chủ
động và đưa ra các biện pháp huy động, quản lý và sử dụng vốn lưu động hiệu
quả hơn.
SV: Hoàng Kim Tuấn Anh
Lớp: CQ50/11.15
Luận văn tốt nghiệp
18
Học viện Tài chính
1.1.3. Nguồn hình thành vốn lưu động của doanh nghiệp
Trong nền kinh tế thị trường, vốn là một yếu tố và là tiền đề cần thiết cho
việc hình thành và phát triển hoạt động kinh doanh của một doanh nghiệp.Để
biến những ý tưởng và kế hoạch kinh doanh thành hiện thực, doanh nghiệp
cần phải có một lượng vốn nhằm hình thành nên các tài sản cần thiết cho hoạt
động của doanh nghiệp để đạt được mục tiêu đề ra. Điều này đặt ra yêu cầu
doanh nghiệp trong quá trình quản trị vốn cần phải có sự cân nhắc lựa chọn
hình thức huy động vốn phù hợp và tổ chức nguồn vốn của mình một cách
hợp lý. Chính vì vậy việc phân loại nguồn vốn theo các tiêu thức khác nhau sẽ
vốn có tính chất ổn định mà doanh nghiệp có thể sử dụng vào hoạt động sản
xuất kinh doanh. Nguồn vốn này thường được sử dụng để mua sắm, hình
thành TSCĐ và một bộ phận TSLĐ thường xuyên cần thiết cho hoạt động
kinh doanh của doanh nghiệp. Nguồn vốn thường xuyên của doanh nghiệp tại
một thời điểm có thể được xác định bằng công thức:
Nguồn vốn thường xuyên = Vốn chủ sở hữu + Nợ dài hạn
Nguồn vốn thường xuyên = Giá trị tổng TS của doanh nghiệp – Nợ ngắn hạn
Như vậy, xuất phát từ đặc điểm luân chuyển của vốn lưu động, nguồn hình
thành vốn lưu động có thể bao gồm cả nguồn ngắn hạn (nguồn vốn tạm thời)
và nguồn dài hạn (nguồn vốn thường xuyên). Do đó, khi xem xét ở góc độ
nguồn vốn lưu động thì nguồn vốn này cũng được chia thành hai bộ phận là
nguồn vốn lưu động lưu động thường xuyên và nguồn vốn lưu động tạm thời.
+ Nguồn vốn lưu động thường xuyên: Nguồn vốn lưu động thường xuyên là
nguồn vốn ổn định có tính chất dài hạn để hình thành hay tài trợ cho TSLĐ
thường xuyên cần thiết cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp (có thể là
một phần hay toàn bộ tài sản lưu động thường xuyên tùy thuộc vào chiến lược
tài chính của doanh nghiệp) nhằm đảm bảo cho hoạt động kinh doanh của
doanh nghiệp diễn ra thường xuyên và ổn định.
+ Nguồn vốn lưu động tạm thời: Nguồn vốn lưu động tạm thời là nguồn vốn
ngắn hạn cho TSLĐ của doanh nghiệp nhằm đáp ứng những biến động tăng
giảm theo chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp.
Bên cạnh đó, khi lựa chọn nguồn tài trợ nào doanh nghiệp cũng cần phải
cân nhắc tới các yếu tố khác như: tỷ lệ chiết khấu, dòng tiền chiết khấu, chi
phí huy động nguồn tài trợ và chi phí cơ hội để từ đó có thể đưa ra những
quyết định tài chính phù hợp.
SV: Hoàng Kim Tuấn Anh
Lớp: CQ50/11.15
thiện cho nhau. Từ nền tảng quan điểm kinh tế học xác định mục tiêu của một
doanh nghiệp khi thực hiện các hoạt động kinh doanh là nhằm tối đa hóa lợi
nhuận thì khi phân tích trên góc độ tài chính doanh nghiệp mục tiêu này được
điều chỉnh với yếu tố thời gian sinh lời để chuyển hóa thành định hướng tối
ưu hóa khả năng sinh lời. Đến lượt mục tiêu tối ưu hóa khả năng sinh lời có
SV: Hoàng Kim Tuấn Anh
Lớp: CQ50/11.15
Luận văn tốt nghiệp
21
Học viện Tài chính
sự phối hợp hiệu quả cùng mục tiêu tối thiểu hóa rủi ro trong điều kiện môi
trường kinh doanh tiềm ần biến động, nhà quản trị sẽ thực hiện được mục tiêu
tổng quát xuyên suốt và cũng đồng thời là mục tiêu quan trọng nhất là tối đa
hóa giá trị cho doanh nghiệp cũng như chủ sở hữu. Hoạt động quản trị vốn
lưu động - một bộ phận thống nhất không tách rời trong tổng thể công tác
quản trị tài chính của doanh nghiệp do đó tất yếu cũng sẽ phát huy hiệu quả
khi thực hiện được mục tiêu mang tính toàn diện này trong quá trình xây dựng
và phát triển doanh nghiệp.
1.2.2. Nội dung quản trị vốn lưu động của doanh nghiệp
1.2.2.1. Xác định nhu cầu vốn lưu động và tổ chức nguồn vốn lưu động
Nhu cầu vốn lưu động và các phương pháp xác định nhu cầu vốn lưu động
của doanh nghiệp
Lớp: CQ50/11.15
Luận văn tốt nghiệp
22
Học viện Tài chính
+ Nhu cầu vốn lưu động trong khâu dự trữ sản xuất: Bao gồm nhu cầu vốn dự
trữ nguyên vật liệu chính, vật liệu phụ, nhiên liệu, phụ tùng thay thế. Phương
pháp chung để xác định nhu cầu vốn lưu động đối với từng loại vật tư dự trữ
là căn cứ vào nhu cầu sử dụng vốn bình quân một ngày và số ngày dự trữ đối
với từng loại để xác định rồi tổng hợp lại.Công thức tổng quát như sau:
VHTK =
Trong đó:
VHTK: Nhu cầu vốn hàng tồn kho
Mij:
Chi phí sử dụng bình quân 1 ngày của hàng tồn kho i
Nij:
Số ngày dự trữ của hàng tồn kho i
n:
Số loại hàng tồn kho cần dự trữ
bán thành phẩm, các khoản chi phí trả trước. Nhu cầu này nhiều hay ít phụ
thuộc vào chi phí sản xuất bình quân một ngày, độ dài chu kì sản xuất sản
phẩm, mức độ hoàn thành của sản phẩm dở, bán thành phẩm.
Nhu cầu vốn sản phẩm dở dang, bán thành phẩm được xác định như sau:
Vsx=Pn x CKsx x Hsd
Trong đó:
Vsx: Nhu cầu vốn lưu động sản xuất
Pn: Chi phí sản xuất sản phẩm bình quân 1 ngày
CKsx: Độ dài chu kì sản xuất (ngày)
Hsd: Hệ số sản phẩm dở dang, bán thành phẩm (%)
Nhu cầu chi phí trả trước được xác định như sau:
Vtt=Pđk + Pps + Ppb
Trong đó:
Vtt: Nhu cầu chi phí trả trước
Pđk: Số dư chi phí trả trước đầu kỳ
Pps: Chi phí trả trước phát sinh trong kì
Ppb: Chi phí trả trước phân bổ trong kì
+ Nhu cầu vốn lưu động dự trữ trong khâu lưu thông: Vốn lưu động trong
khâu lưu thông bao gồm vốn dự trữ thành phẩm, vốn phải thu, phải trả.
- Nhu cầu vốn thành phẩm: Là số vốn tối thiểu dùng để hình thành lượng dự
trữ thànhphẩm tồn kho, chờ tiêu thụ. Đối với vốn dự trữ thành phẩm được xác
định theo công thức:
Vtp = Zsx x Ntp
Trong đó:
SV: Hoàng Kim Tuấn Anh
Lớp: CQ50/11.15
SV: Hoàng Kim Tuấn Anh
Lớp: CQ50/11.15
Luận văn tốt nghiệp
25
Học viện Tài chính
Phương pháp này có ưu điểm là tính toán gần chính xác nhu cầu vốn lưu
động. Tuy nhiên việc tính toán lại khá phức tạp, khối lượng tính toán nhiều và
tốn thời gian.
b. Phương pháp gián tiếp
Phương pháp dựa vào phân tích tình hình thực tế sử dụng vốn lưu động của
doanh nghiệp năm báo cáo, sự thay đổi về qui mô kinh doanh và tốc độ luân
chuyển vốn lưu động năm kế hoạch, hoặc sự biến động nhu cầu vốn lưu động
theo doanh thu thực hiện năm báo cáo để xác định nhu cầu vốn lưu động của
doanh nghiệp năm kế hoạch.Gồm có các phương pháp sau:
Phương pháp điều chỉnh theo tỷ lệ phần trăm nhu cầu VLĐ so với năm báo
cáo:
Trong đó:
Vkh: Vốn lưu động năm kế hoạch
Mkh: Mức luân chuyển VLĐ năm kế hoạch
Mbc: Mức luân chuyển VLĐ năm báo cáo
t%: Tỷ lệ rút ngắn kì luân chuyển VLĐ năm báo cáo
+ Phương pháp dựa vào tổng mức luân chuyển vốn và tốc độ luân chuyển vốn