BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
…………/…………
BỘ NỘI VỤ
……/……
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
ĐÀO THỊ THƯ
TỔ CHỨC GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO SINH
VIÊN CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUÂN SỰ TRÊN
ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG
Chuyên ngành: Quản lý công
Mã số: 60 34 04 03
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. TRẦN THỊ DIỆU OANH
HÀ NỘI – NĂM 2017
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số
liệu nêu trong luận văn là trung thực. Những kết luận khoa học của luận văn
chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
20
1.3. Chủ thể, nội dung, hình thức, phương pháp tổ chức giáo dục pháp luật cho
sinh viên các trường đại học quân sự............................................................... 22
1.3.1. Chủ thể tổ chức giáo dục pháp luật cho sinh viên các trường đại học
quân sự
22
1.3.2. Nội dung tổ chức giáo dục pháp luật cho sinh viên các trường đại học
quân sự
24
1.3.2. Hình thức, phương pháp tổ chức giáo dục pháp luật cho sinh viên
các trường đại học quân sự 26
1.4. Các bảo đảm tổ chức giáo dục pháp luật cho sinh viên các trường đại học
quân sự............................................................................................................. 31
Chương 2: THỰC TRẠNG TỔ CHỨC GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO
SINH VIÊN CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUÂN SỰ TRÊN ĐỊA BÀN
THÀNH PHỐ HÀ NỘI......................................................................................... 35
2.1. Khái quát chung các trường đại học quân sự trên địa bàn Thành phố Hà Nội và
đặc thù sinh viên các trường Đại học Quân sự................................................. 35
2.1.1. Khái quát các trường đại học quân sự trên địa bàn Thành phố Hà Nội...35
2.1.2. Đặc thù sinh viên các trường đại học quân sự trên địa bàn Thành phố
Hà Nội
37
3.1.2. Quán triệt quan điểm của Quân ủy Trung ương về giáo dục pháp luật...66
3.2. Giải pháp bảo đảm tổ chức giáo dục pháp luật cho sinh viên các trường
đại học quân sự trên địa bàn Thành phố Hà Nội............................................... 67
3.2.1. Xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật, chương trình, kế hoạch
về giáo dục pháp luật
67
3.2.2. Tăng cường sự lãnh đạo, quản lý và bồi dưỡng, giáo dục cho sinh viên.69
3.2.3. Đổi mới nội dung, chương trình giáo dục pháp luật cho phù hợp
sinh viên các trường đại học quân sự
72
3.2.4. Nâng cao chất lượng của các chủ thể làm công tác tổ chức giáo dục
pháp luật cho sinh viên trường quân sự
76
3.2.5. Đổi mới các hình thức tổ chức và phương pháp giáo dục pháp luật
cho sinh viên các trường đại học quân sự 80
3.2.6. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát và
thường
công tác tổ chức giáo dục pháp luật
ử lý kịp thời hành vi vi phạm,
uyên rút kinh nghiệm
87
Học viện Khoa học Quân sự
QĐND
Quân đội nhân dân
TCGDPL
Tổ chức giáo dục pháp luật
VHPL
Văn hóa pháp luật
XHCN
Xã hội chủ nghĩa
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1. Chương trình môn học Nhà nước và pháp luật.......................................... 39
Bảng 2.2. Kết quả học tập môn Nhà nước và pháp luật.............................................. 48
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam hiện nay đang trong quá trình đổi mới toàn diện các lĩnh vực
của đời sống ã hội. Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Đảng ta khẳng
định: “Tiếp tục ây dựng hoàn thiện Nhà nước pháp quyền ã hội chủ nghĩa
nước. Là lực lượng đáng kể trong dân số thanh niên Thành phố, nhìn chung sinh
viên các trường quân sự trên địa bàn Thành phố Hà Nội có trình độ văn hoá cao,
chấp hành nghiêm nội quy, kỷ luật, năng động, thích ứng nhanh với cơ chế mới,
đặc biệt là việc tiếp thu khoa học, công nghệ mới, có ý chí vươn lên để lập thân
và lập nghiệp, không cam chịu nghèo nàn, lạc hậu. Tuyệt đại đa số sinh viên
trường quân sự tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, con đường đi lên chủ nghĩa
ã hội, ủng hộ và hăng hái tham gia vào công cuộc đổi mới, sự nghiệp đẩy
mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa Thành phố và đất nước.
Tuy nhiên, trước những biến động phức tạp của tình hình chính trị kinh tế thế giới, sự tác động từ mặt trái của cơ chế thị trường, trước yêu cầu
ngày càng cao của sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước sinh viên các trường đại học quân sự (ĐHQS) trên địa bàn Thành phố
vẫn còn một số hạn chế như: một bộ phận sinh viên sống thiếu lý tưởng, thiếu
trách nhiệm, thực dụng, coi nhẹ đạo lý, thuần phong mỹ tục; suy thoái về
phẩm chất, đạo đức, lối sống; ý thức chấp hành pháp luật kém, dễ bị lôi kéo
vào các tệ nạn ã hội ... Quá trình tổ chức giáo dục pháp luật (TCGDPL) cho
sinh viên của nhà trường vẫn còn bộc lộ những hạn chế nhất định như chương
trình, nội dung chưa có tính hệ thống cao; việc phân bổ thời gian học tập chưa
thật phù hợp; quản lý đội ngũ cán bộ, giảng dạy còn những khiếm khuyết;
chưa tích cực cải tiến, đổi mới phương pháp giảng dạy cho sinh viên về pháp
luật; hình thức GDPL chủ yếu là học tập trên lớp.
Chính vì những lý do trên, tác giả chọn đề tài “Tổ chức giáo dục pháp luật
cho sinh viên các trường đại học quân sự trên địa bàn Thành phố Hà Nội”
làm đề tài luận văn thạc sĩ Quản lý công.
2
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn
- Hoàng Thế Nhân: "Giáo dục pháp luật cho bộ đội đặc công, thực
trạng và giải pháp", luận văn thạc sĩ Luật học, năm 2003.
- Viện Nghiên cứu Khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp: "Một số vấn đề lý
luận và thực tiễn về giáo dục pháp luật trong công cuộc đổi mới", Hà Nội, 1995.
- Vụ phổ biến giáo dục pháp luật - Bộ Tư pháp “Một số vấn đề giáo
dục pháp luật trong giai đoạn hiện nay”, N b Thanh niên, Hà Nội, 1997
Thứ hai, những công trình nghiên cứu về giáo dục pháp luật cho những
đối tượng cụ thể như:
- Lê Văn Bền, (1998), iáo dục pháp luật cho đồng bào dân tộc Khơme
Nam Bộ, Luận văn thạc sĩ Luật học.
- Phạm Văn Trưởng, (1998), Bộ đội Biên phòng với việc giáo dục pháp
luật cho đồng bào khu vực biên giới ở Việt Nam hiện nay, Luận văn thạc sĩ
Luật học.
- Phạm Trung Nghĩa, (2000), iáo dục pháp luật trong các trường s
quan quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay, Luận văn thạc sĩ Luật học .
- Đặng Ngọc Hoàng, (2000), Thực trạng và phương hướng đổi mới
giáo dục pháp luật hệ đào tạo trung học chính trị ở nước ta hiện nay, Luận
văn thạc sĩ Luật học.
- Phạm Hàn Lâm, (2001), iáo dục pháp luật cho nhân dân các dân tộc
ít người ở thành phố Đắk Lắk - thực trạng và giải pháp, Luận văn thạc sĩ Luật
học.
- Trần Văn Trầm, (2002), iáo dục pháp luật cho cán bộ, công chức trên
địa bàn Thành phố Bình Định - thực trạng và giải pháp, Luận văn thạc sĩ Luật
học.
- Nguyễn Trung Thành, (2004), Giáo dục pháp luật cho nông dân
Thành phố Thái Bình trong giai đoạn hiện nay, Luận văn Thạc sĩ Luật học.
- Đinh Thị Hoa, (2005), iáo dục pháp luật cho đồng bào người Chăm
ở thành phố Ninh Thuận hiện nay, Luận văn thạc sĩ Luật học.
trùng lặp của đề tài với các công trình có liên quan được công bố.
5
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
- Mục đích: Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn TCGDPL trong các
trường ĐHQS, từ đó đề uất và luận chứng những giải pháp cơ bản đổi mới
TCGDPL… nhằm góp phần nâng cao chất lượng đào tạo sĩ quan quân đội đáp
ứng yêu cầu ây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ và hiện đại.
- Nhiệm vụ:
Một là, phân tích cơ sở lý luận về TCGDPL.
Hai là, nghiên cứu những đặc thù của TCGDPL trong các trường ĐHQS.
Ba là, phân tích, đánh giá thực trạng TCGDPL trong các trường ĐHQS
trên địa bàn Thành phố Hà Nội hiện nay, từ đó rút ra nguyên nhân và bài học
chủ yếu của thực trạng trên.
Bốn là, nêu ra quan điểm và giải pháp cơ bản nâng cao chất lượng
TCGDPL cho sinh viên trong các trường ĐHQS trên địa bàn Thành phố Hà
Nội hiện nay
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
- Đối tượng nghiên cứu: TCGDPL cho sinh viên ( tập trung hệ quân
sự) các trường ĐHQS trên địa bàn thành phố Hà Nội.
- Phạm vi nghiên cứu: Dưới góc độ quản lý công, luận văn nghiên cứu
TCGDPL cho sinh viên trong các trường ĐHQS: Học viện Khoa học Quân sự
(HVKHQS), Học viện Kỹ thuật Quân sự (HVKTQS), Đại học Lục Quân
1(ĐHLQ1) thuộc Bộ Quốc phòng trên địa bàn Thành phố Hà Nội, thời gian
nghiên cứu từ năm 2013 đến nay.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
- Phương pháp luận: Luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận của
7
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC GIÁO DỤC PHÁP LUẬT
CHO SINH VIÊN CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUÂN SỰ
1.1. Nhận thức chung về sinh viên các trường Đại học Quân sự
1.1.1. Khái niệm sinh viên các trường đại học quân sự
Khái niệm “Sinh viên” với nghĩa là người làm việc, học tập, tìm hiểu,
khai thác tri thức. Hiểu theo nghĩa thông thường thì “Sinh viên” là những
người đang học trong các trường đại học, cao đẳng. Từ nghĩa trên, chúng ta có
thể hiểu: Sinh viên trong các trường ĐHQS là những người đang học tập và
nghiên cứu khoa học trong hệ thống trường quân đội .
Hệ thống trường quân đội là một bộ phận quan trọng trong tổ chức biên
chế của QĐND Việt Nam, sự ra đời của hệ thống trường quân đội được đánh
dấu bằng việc thành lập trường Quân chính kháng Nhật (tháng 6 năm 1945),
đến nay hệ thống nhà trường quân đội đã có tới hàng chục trường, có khả
năng đào tạo từ nhân viên kỹ thuật đến cán bộ trung cao cấp, từ sơ cấp đến
sau đại học.
Hệ thống trường quân đội được nhập vào hệ thống giáo dục quốc dân từ
tháng 3 năm 1979 theo Quyết định của Hội đồng Chính phủ. Về cơ bản quá trình
đào tạo trong nhà trường quân đội đều thực hiện theo chế định chung của Nhà
nước. Tuy nhiên, do đặc thù của lực lượng vũ trang nên quá trình đào tạo trong
nhà trường quân đội có những đặc điểm riêng biệt như Điều lệ công tác nhà
trường QĐND Việt Nam ác định: “Bộ Quốc phòng ây dựng và chỉ đạo thực hiện
chủ trương và biện pháp phát triển công tác nhà trường, ban hành các văn bản
quy phạm pháp luật về công tác nhà trường, quản lý thống nhất hệ thống trường
quân sự về mục tiêu, chương trình, nội dung, kế hoạch đào tạo” [1, tr.10]. Cục
nhà trường - Bộ Tổng tham mưu là cơ quan đầu ngành quản lý về công tác
người học không chỉ tuân thủ các quy định về giáo dục đào tạo của Nhà nước
mà còn phải thực hiện nghiêm túc điều lệnh, điều lệ của quân đội, các chế độ
9
quy định của nhà trường. Do tính đặc thù của nhà trường quân đội đòi hỏi mọi
hoạt động của sinh viên như học tập, rèn luyện, tuần tra canh gác, trực ban,
trực chiến sẵn sàng chiến đấu.... phải được quản lý thống nhất theo một kế
hoạch, thời gian địa điểm. Sự quản lý hành chính được thể hiện ở việc duy trì
nghiêm túc các chế độ nề nếp như: thể dục buổi sáng, sắp đặt nội vụ, vệ sinh,
bảo quản vũ khí trang bị..... theo quy định của điều lệnh quản lý bộ đội [2].
Thông qua việc quản lý hành chính giúp cho giáo viên, cán bộ, sinh viên có
điều kiện thuận lợi để thực hiện tốt các bước tổ chức giáo dục kỷ luật và giúp
sinh viên có điều kiện để rèn luyện bản thân về mọi mặt, nhất là rèn luyện ý
chí quyết tâm và thói quen hành vi kỷ luật đúng đắn.
Trong các nhà trường quân đội nói chung và ở các trường ĐHQS nói
riêng, đa phần được chia làm hai hệ: Hệ quân sự, người học được gọi là học
viên và Hệ dân sự, người học được gọi là sinh viên (trong phạm vi luận văn
này gọi chung là sinh viên), như vậy có thể hiểu là sinh viên hệ quân sự ở các
trường ĐHQS là sinh viên, hạ sĩ quan, binh sĩ, quân nhân chuyên nghiệp đã
trúng tuyển trong các kì thi đại học, thi tuyển sinh quân sự theo quy định của
Bộ Giáo dục và đào tạo, của Bộ Quốc phòng, (hoặc được cử tuyển) được đào
tạo theo chương trình ác định với những chuyên ngành khác nhau. Sau khi tốt
nghiệp, sinh viên hệ quân sự được đào tạo sĩ quan được phong quân hàm sĩ
quan, điều động, bổ nhiệm chức vụ cán bộ ở các cơ quan, đơn vị theo yêu cầu
nhiệm vụ, còn sinh viên hệ dân sự giống như các trường đại học dân sự khác
theo quy chế của Bộ giáo dục và đào tạo.
Sinh viên các trường quân đội là một bộ phận thanh niên của cả nước,
là lực lượng sĩ quan tương lai hùng hậu của quân đội trong sự nghiệp ây dựng
được phục vụ lâu dài trong Quân đội.
Hơn nữa, kết quả, chất lượng học tập, rèn luyện của sinh viên đào tạo sĩ
quan ở các trường ĐHQS sẽ liên quan trực tiếp đến việc sắp ếp, bố trí sử
dụng, cân nhắc đề bạt đội ngũ đó khi tốt nghiệp ra trường. Do vậy, mỗi sinh
viên đào tạo sĩ quan đều có động lực mạnh mẽ, trực tiếp thôi thúc họ học để
làm việc, trở thành cán bộ, được phục vụ lâu dài, để tiến bộ. Mặt khác, sinh
viên đào tạo sĩ quan được sinh ra, lớn lên trong thời k đất nước đổi mới theo
định hướng XHCN, mở cửa hội nhập kinh tế quốc tế, có điều kiện thuận lợi
11
để học tập, lĩnh hội tri thức, tiếp thu những kiến thức pháp luật ở trường học
cũng như qua các kênh thông tin, truyền thông để tiếp cận những vấn đề mới.
Khả năng nhận thức, ý thức tự lập, tự chủ cao hơn các thế hệ trước. Đó là điều
kiện thuận lợi cho việc bồi dưỡng GDPL, nâng cao chất lượng giáo dục, đào
tạo của các trường ĐHQS.
Hai là, sinh viên các trường ĐHQS là một nhóm ã hội dân cư có tính
phức hợp rất cao, hàm chứa trong đó nhiều sự đa dạng về độ tuổi, giới tính,
tâm linh và các mô hình ứng
ử và lựa chọn
ã hội .... Bởi lẽ nó hàm chứa
trong đó những cá thể ở độ tuổi trưởng thành có nguồn gốc uất thân từ nhiều
vùng miền, dân tộc, khác nhau, thuộc mọi giai tầng trong ã hội dưới sự tác
động của nhiều định hướng ý thức hệ, tư tưởng, truyền thống, mô hình ứng ử
và với nhiều loại thói quen, tập tục khác nhau. Vì vậy, trong nghiên cứu về
của các cộng đồng và cá nhân khác trên thế giới.
Xuất phát từ lý do này, sinh viên nói chung và sinh viên quân sự thường
có u hướng thử nghiệm nhiều khả năng, nhiều lựa chọn, ngay cả khi họ còn
chưa được chuẩn bị đủ tốt cho những thử nghiệm đó, vì đối với họ, dù có
phạm sai lầm vẫn có thời cơ làm lại, thử nghiệm lại. Hơn nữa, phần đông sinh
viên thường có u hướng kiểm chứng lại những lựa chọn, chế định và quan
niệm của thế hệ đi trước, thậm chí cố tình phủ nhận, làm khác, coi đó như một
phương thức để khẳng định tư cách “người lớn” của mình. Đó là nguyên nhân
thường dẫn đến những “lệch chuẩn” trong suy nghĩ, nhận thức và hành động
của sinh viên.
Bốn là, sinh viên được học tập, rèn luyện trong môi trường quân sự
chính quy, mẫu mực, được biên chế, hoạt động trong hệ thống tổ chức hết sức
chặt chẽ. Đối với hệ quân thì tất cả các sinh viên đều ở nội trú, sinh hoạt và
hoạt động theo chế độ tập trung, thống nhất và được quản lý chặt chẽ liên tục
24 giờ mỗi ngày, các quan hệ quân nhân được duy trì theo đúng điều lệnh,
điều lệ, kỷ luật quân đội. Đây là những điều kiện rất thuận lợi để GDPL, ý
thức tổ chức kỷ luật cho sinh viên.
13
Các trường ĐHQS không chỉ là nơi đào tạo, bồi dưỡng sĩ quan, cán bộ
mà còn là những đơn vị quân đội mẫu mực, tiêu biểu về quản lý, rèn luyện kỷ
luật, ây dựng nếp sống chính quy. Trong những năm gần đây, các trường
ĐHQS luôn được Đảng, Nhà nước và quân đội quan tâm, đầu tư cơ sở vật
chất, ây dựng hệ thống giảng đường, bãi tập khang trang, hiện đại; đội ngũ
cán bộ giảng viên được đào tạo cơ bản, trình độ mọi mặt được nâng cao; nội
dung, chương trình và phương pháp dạy học không ngừng được đổi mới. Do
vậy, các trường ĐHQS càng có điều kiện thuận lợi để bồi dưỡng GDPL, rèn
luyện ý thức chấp hành pháp luật cho học viên.
pháp luật, là hoạt động định hướng có tổ chức, có chủ định thông qua các hình
thức giáo dục, thuyết phục, nêu gương... nhằm mục đích hình thành ở đối tượng
tri thức pháp lý, tình cảm và hành vi ử sự phù hợp với các đòi hỏi của hệ thống
pháp luật hiện hành với các hình thức, phương tiện, phương pháp đặc thù.
Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, tác giả đồng ý với khái niệm
chung nhất: “GDPL là hoạt động có định hướng, có tổ chức, có dự định của chủ
thể
PL tác động lên đối tượng
PL một cách có hệ thống và thường
xuyên, nhằm mục đích hình thành ở họ tri thức pháp lý, tình cảm và hành vi
ph hợp với các đòi h i của các quy định pháp luật hiện hành”.
So với các dạng giáo dục khác thì GDPL là quá trình tác động thường uyên, liên
tục, lâu dài hơn chứ không phải tác động một lần của chủ thể lên đối tượng giáo
dục. Vì thế, GDPL trở thành hoạt động thường uyên trong các hoạt động gia
đình, trường học, tập thể lao động, tổ chức Đảng, nhà nước và toàn ã hội. Người
được giáo dục là người chịu sự tác động có tổ chức, có định hướng của các thông
tin pháp luật. Một vấn đề đặt ra là người giáo dục phải hiểu biết được trình độ,
đặc điểm của người được giáo dục, biết cách truyền tải
nó và phải là tấm gương, là hình mẫu trong việc thực hiện pháp luật.
15
Trên cơ sở phân tích trên có thể hiểu GDPL cho sinh viên các trường ĐHQS
là hoạt động có định hướng, có tổ chức, có chủ định của chủ thể PL, tác động
mạnh quân sự, chính trị mà còn phải cần có cả năng lực về pháp luật. Vì vậy,
các cán bộ, chiến sĩ trong quân đội cần phải được GDPL một cách thường
uyên, liên tục, vững chắc tạo điều kiện cho họ nắm vững và tự giác chấp hành
pháp luật trong quá trình học tập, quản lý bộ đội, trong đời sống hàng
ngày và khi tham gia các hoạt động ã hội.
Đối với QĐND Việt Nam, công tác TCGDPL được coi là một bộ phận
của công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, nhằm ây dựng thái độ, động cơ, bản
lĩnh chính trị, ý thức pháp luật cho mỗi quân nhân. Thông qua hoạt động
TCGDPL để mọi quân nhân nắm được các quy định của pháp luật, từ đó điều
chỉnh hành vi ử sự của mình phù hợp với các yêu cầu của pháp luật.
Từ những đặc điểm và thực tiễn hoạt động TCGDPL trong QĐND Việt Nam,
chúng ta có thể hiểu: TCGDPL cho sinh viên các trường ĐHQS là hoạt động có
tính định hướng được tổ chức chặt chẽ, khoa học theo một hệ thống thống nhất,
cung cấp kiến thức pháp luật, bồi dưỡng tình cảm và hành vi hợp pháp nhằm hình
thành cho sinh viên ý thức pháp luật, tình cảm pháp luật đúng đắn, tuân thủ pháp
luật và tuyên truyền, vận động nhân dân chấp hành pháp luật.
1.2.2. Đặc điểm tổ chức giáo dục pháp luật cho sinh viên các trường
đại học quân sự
Một là, TCGDPL cho sinh viên các trường ĐHQS trước hết là một bộ
phận của công tác giáo dục chính trị, tư tưởng.
Hoạt động GDPL cho sinh viên các trường quân sự là một bộ phận của
công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, là trách nhiệm của toàn bộ hệ thống
chính trị, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và sự điều phối, tổ
chức thực hiện của các cơ quan nhà nước và các tổ chức, đoàn thể. Chính vì
thế, việc GDPL đối với sinh viên các trường quân sự luôn có vị trí và vai trò
vô cùng quan trọng trong quá trình ây dựng Nhà nước XHCN hiện nay, là
khâu then chốt, quan trọng để chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của
17