Bài tập học kỳ tư pháp quốc tế những điểm giống nhau và khác nhau giữa cách thức ủy thác tư pháp quốc tế trong các quy định của pháp luật việt nam so - Pdf 53

1

MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ............................................................................................................2
GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ.............................................................................................3
1. Khái quát về ủy thác tư pháp............................................................................3
1.1. Khái niệm tương trợ tư pháp và ủy thác tư pháp........................................3
1.2. Lĩnh vực ủy thác tư pháp............................................................................3
1.3. Nội dung của Ủy thác.................................................................................3
2. So sánh cách thức ủy thác tư pháp theo quy định của pháp luật Việt Nam với
quy định trong các điều ước quốc tế song phương.................................................3
2.1. Con đường thực hiện ủy thác tư pháp........................................................3
2.2. Cơ quan có thẩm quyền thực hiện ủy thác tư pháp....................................3
2.3. Luật được áp dụng trong ủy thác tư pháp...................................................3
2.4. Hồ sơ ủy thác tư pháp.................................................................................3
3. Thực trạng và giải pháp hoàn thiện hoạt động ủy thác tư pháp........................3
3.1. Quy định cụ thể những nội dung cơ bản của ủy thác tư pháp trong quy
định của pháp luật cũng như trong các điều ước quốc tế song phương...............3
3.2. Tăng cường đàm phán, ký kết và tham gia các điều ước quốc tế...............3
KẾT THÚC VẤN ĐỀ................................................................................................3
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO...................................................................3


2

ĐẶT VẤN ĐỀ
Ngày nay, không một quốc gia nào có thể tồn tại và phát triển một
cách biệt lập mà không có quan hệ với các quốc gia khác. Nói cách khác
quan hệ hợp tác quốc tế không chỉ là nhu cầu nội tại thiết thực của bản thân
mỗi quốc gia nhằm thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển kinh tế - xã hội ở mỗi
nước, mà còn là trách nhiệm - nghĩa vụ của các quốc gia xét dưới góc độ

Tương trợ tư pháp là việc tòa án của một nước nhờ tòa án của nước

ngoài thực hiện giúp các hành vi tố tụng cần thiết để đảm bảo giải quyết vụ
việc dân sự có yếu tố nước ngoài.
Ủy thác tư pháp được ghi nhận tại khoản 1 Điều 6 Luật Tương trợ Tư
pháp 2007: Uỷ thác tư pháp là yêu cầu bằng văn bản của cơ quan có thẩm
quyền của Việt Nam hoặc cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài về việc
thực hiện một hoặc một số hoạt động tương trợ tư pháp theo quy định của
pháp luật nước có liên quan hoặc điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành
viên.
Theo đó thì ủy thác tư pháp là một trong các hình thức thực hiện tương
trợ tư pháp. Khoản 2 Điều 6 Luật Tương trợ Tư pháp 2007 quy định rõ:
Tương trợ tư pháp được thực hiện trên cơ sở yêu cầu của cơ quan có thẩm
quyền của Việt Nam hoặc cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài thông qua
ủy thác tư pháp.
1.2.

Lĩnh vực ủy thác tư pháp
Tương trợ tư pháp được tiến hành trên cả hai lĩnh vực hình sự và dân

sự nên cũng có hai hình thức ủy thác tư pháp là ủy thác tư pháp hình sự và ủy
thác tư pháp dân sự. Ủy thác tư pháp trong dân sự được hiểu theo hai nghĩa.
Nghĩa hẹp, ủy thác tư pháp trong dân sự chỉ tiến hành trong hai giai đoạn
chuẩn bị xét xử, bao gồm các hoạt động xác minh chứng cứ và cống nạp giấy
tờ. Nghĩa rộng, ủy thác tư pháp trong dân sự có thể tiến hành trong các giai
đoạn giải quyết vụ việc dân sự tại tòa án (bảo hộ pháp lí, giải quyết xung đột


4


phù hợp với tình hình mới. Đến năm 2007 thì Luật tương trợ tư pháp được
hoàn thiện và đưa vào sử dụng thì một thực trạng bất cập đó là mâu thuẫn


5

giữa cách thức ủy thác tư pháp quốc tế trong các quy định của pháp luật việt
nam với các điều ước quốc tế song phương này.
2.1.

Con đường thực hiện ủy thác tư pháp
Theo các hiệp định tương trợ tư pháp Việt nam đã kí với các nước, Tòa

án các bên kí kết hiệp định được phép ủy thác cho nhau và thực hiện ủy thác
tư pháp của nhau. Các hiệp định tương trợ tư pháp lại áp dụng con đường
lãnh sự để thực hiện hoạt động ủy thác tư pháp. Việc làm này sẽ hạn chế
được quy trình quá lòng vòng của ủy thác tư pháp, tốn thêm thời gian, công
sức và tiền bạc. Đây là phương pháp nhanh chóng nhưng lại không hiệu quả
bởi do các chủ thể không có thẩm quyền tiến hành. Điều 13 Hiệp định tương
trợ tư pháp Việt Pháp: Mỗi Nước ký kết đều có quyền tống đạt giấy tờ cho
công dân của nước mình trên lãnh thổ của Nước ký kết kia, một cách trực
tiếp và không áp dụng biện pháp cưỡng chế, thông qua các viên chức ngoại
giao hoặc lãnh sự của nước mình.
Theo pháp luật hiện hành, Tòa án Việt Nam có quyền ủy thác cho Tòa
án nước ngoài, đồng thời được phép nhận thực hiện ủy thác tư pháp của Tòa
án nước ngoài. Việc giao và nhận ủy thác tư pháp và kết quả thực hiện ủy
thác tư pháp giữa Tòa án Việt Nam và Tòa án nước ngoài được thực hiện
bằng con đường ngoại giao. Theo quy trình ủy thác, đầu tiên tòa án Việt Nam
phải chuyển hồ sơ qua Bộ Tư pháp. Bộ này chuyển đến Bộ Ngoại giao. Bộ
Ngoại giao chuyển đến đại sứ quán Việt Nam tại nước sở tại. Từ đây hồ sơ

hình sự theo yêu cầu của Viện Kiểm sát nhân dân tối cao như lập hồ sơ về
bắt giữ, thu giữ các tang chứng, vật chứng, khám xét, tạm giữ, tạm giam, dẫn
độ, hướng dẫn các cơ quan công an thực hiện uỷ thác điều tra và các uỷ thác
khác về hình sự trên lãnh thổ Việt Nam khi Viện Kiểm sát nhân dân có thẩm
quyền yêu cầu;… Tuy nhiên thì bất cập xảy ra ở trong những nước mà Việt
nam không kí kết hiệp định tương trợ, trong trường hợp này thì phải áp dụng
pháp luật Việt Nam về ủy thác tư pháp. Tuy nhiên như ở Mỹ thì hoạt động ủy
thác tư pháp quy định thông qua công ty kinh doanh dịch vụ ủy thác, còn


7

Việt Nam quy định thông qua Bộ Tư pháp, dấn đến sự xung đột và trên thực
tế dấn đến sự tồn đọng án bởi văn bản ủy thác không được thông qua.
2.3.

Luật được áp dụng trong ủy thác tư pháp
Theo quy định trong các điều ước quốc tế song phương giữa Việt Nam

và các nước thì khi thực hiện ủy thác, bên được yêu cầu tuân theo pháp luật
của nước mình; nếu bên ủy thác yêu cầu tuân theo pháp luật của bên ủy thác
và không trái với pháp luật của nước mình thì áp dụng pháp luật của nước
bên ủy thác. Việc ủy thác tư pháp trước hết dựa trên cơ sở các hiệp định song
phương về tương trợ tư pháp mà Việt nam đã ký kết; đối với các nước mà
Việt Nam chưa ký Hiệp định tương trợ tư pháp, việc thực hiện dựa trên
nguyên tắc có đi có lại, trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền quốc gia và
các bên cùng có lợi. Tùy theo nội dung của từng Hiệp định, có Hiệp định chỉ
điều chỉnh các vấn đề tương trợ tư pháp giữa các cơ quan tư pháp hai nước
mà không quy định về vấn đề chọn pháp luật áp dụng giải quyết xung đột
pháp luật như Hiệp định ký với Pháp và Trung quốc.

không thực hiện được ủy thác thì gửi trả lại giấy tờ và thông váo lý do.
Theo quy định tại Điều 11, Điều 12 Luật Tương trợ Tư pháp thì hồ sơ
ủy thác tư pháp bao gồm: Hồ sơ ủy thác tư pháp về dân sự phải có các văn
bản sau đây:a) Văn bản của cơ quan có thẩm quyền yêu cầu tương trợ tư pháp
về dân sự;b) Văn bản ủy thác tư pháp về dân sự quy định tại Điều 12 của
Luật này;c) Giấy tờ khác theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền của nước
được ủy thác.2. Hồ sơ ủy thác tư pháp về dân sự được lập thành ba bộ theo
quy định của Luật này và phù hợp với pháp luật của nước được ủy thác….
Văn bản ủy thác tư pháp về dân sự phải có các nội dung sau đây:1. Ngày,
tháng, năm và địa điểm lập văn bản;2. Tên, địa chỉ cơ quan ủy thác tư
pháp;3. Tên, địa chỉ cơ quan được ủy thác tư pháp;4. Họ, tên, địa chỉ nơi
thường trú hoặc nơi làm việc của cá nhân; tên đầy đủ, địa chỉ hoặc văn phòng
chính của cơ quan, tổ chức có liên quan trực tiếp đến ủy thác tư pháp;5. Nội
dung công việc được ủy thác tư pháp về dân sự phải nêu rõ mục đích ủy thác,


9

công việc và các tình tiết liên quan, trích dẫn điều luật có thể áp dụng, các
biện pháp để thực hiện ủy thác và thời hạn thực hiện ủy thác.
3.

Thực trạng và giải pháp hoàn thiện hoạt động ủy thác tư pháp
3.1.

Quy định cụ thể những nội dung cơ bản của ủy thác tư pháp trong

quy định của pháp luật cũng như trong các điều ước quốc tế song phương
Việc hoàn thiện pháp luật nhằm giải quyết các vấn đề đang vớng mắc
hiện nay như: tổ chức bộ máy thực hiện ủy thác tư pháp, quy trình uỷ thác tư

phơng với các nước, trong khi đó nhiều nước có đông ngời Việt làm ăn sinh
sống và có nhu cầu về tương trợ tư pháp cao nh: Hoa Kỳ, úc, Canađa… thì
lại cha có Hiệp định. Điều này gây nhiều khó khăn cho việc thực hiện tương
trợ tư pháp. Trong thời gian tới, song song với thúc đẩy công tác đàm phán,
ký kết Hiệp định song phương, Việt Nam cần tham gia vào một số Công ước
đa phơng về vấn đề này. Việc tham gia Công ước đa phương sẽ tạo thuận lợi,
để có thể cùng một lúc hợp tác tương trợ tư pháp với nhiều nước là thành
viên của Công ước, mở rộng phạm vi hợp tác mà không cần phải trực tiếp
đàm phán với từng nước một như điều ước song phương. Theo nguồn tin từ
Bộ Tư pháp, bộ này đang chuẩn bị các điều kiện, thủ tục cần thiết để triển
khai việc đàm phán và ký kết mới các hiệp định tương trợ tư pháp về dân
sự, thương mại với 5 nước: Anh, Hàn Quốc, Campuchia, Kazakhstan và
Ấn Độ.
Đối với hoạt động tương trợ tư pháp ở Việt Nam hiện nay, theo chúng
tôi, nước ta nên tham gia một số công ước nh: Công ước LaHay năm 1956 về
tống đạt giấy tờ tư pháp và ngoài tư pháp ra nước ngoài; Công ước LaHay
năm 1970 về thu thập chứng cứ cho các vụ kiện dân sự và thơng mại… Đây
là những công ước hiện có nhiều nước tham gia, có phạm vi điều chỉnh liên
quan các vụ việc uỷ thác tư pháp về tống đạt giấy tờ cũng nh lấy lời khai, thu
thập chứng cứ trong các vụ án dân sự – một loại uỷ thác hiện đang chiếm đa
số trong hoạt động tương trợ tư pháp của các Toà án nước ta. Củng cố các cơ
sở pháp lý đóng vai trò quan trọng, tiên quyết đối với hoạt động tương trợ tư
pháp quốc tế.


11


12


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status