Một số bất cập trong các quy định của bộ luật dân sự về thừa kế theo
di chúc
Ra đời trong thời kỳ đổi mới của đất nước, với nhiệm vụ "bảo vệ
quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, lợi ích của Nhà nước,
lợi ích công cộng, bảo đảm sự bình đẳng và an toàn pháp lý trong
quan hệ dân sự, góp phần tạo điều kiện đáp ứng các nhu cầu vật
chất và tinh thần của nhân dân, thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã
hội", đến nay, bộ luật này đã phát huy tích cực vai trò của nó trong
việc quản lí đất nước. tuy nhiên, với tình hình xã hội ngày càng
phát triển, đời sống không ngừng được nâng cao, nhu cầu về mọi
mặt của con người ngày càng lớn, các mối quan hệ xã hội phát
sinh ngày càng đa dạng và phức tạp,… thì những quy định của bộ
luật không thể dự liệu hết các trường hợp xảy ra trong thực tế,
không thể đáp ứng hết các yêu cầu ngày càng cao của con người;
có nhiều quy định còn chung chung, dễ dẫn đến những cách hiểu
khác nhau, gây khó khăn, mâu thuẫn trong quá trình áp dụng.
Riêng trong lĩnh vực về thừa kế, các tranh chấp về thừa kế có xu
hướng ngày càng tăng với tính chất ngày càng phức tạp.Sự áp
dụng pháp luật không thống nhất giữa các cấp tòa án, sự hiểu biết
pháp luật còn hạn chế của các cá nhân là những yếu tố làm cho
tranh chấp về thừa kế theo di chúc ngày một tăng đồng thời làm
cho các vụ kiện tranh chấp về thừa kế bị kéo dài, không dứt điểm.
trên khía cạnh khác, cũng do luật về thừa kế chưa quy định cụ thể
cũng như chưa thể dự liệu hết các trường hợp có thể sảy ra trên
thực tế nên còn gây lung túng cho việc áp dụng. để làm rõ vấn đề
này, em xin chọn đề tài: “một số bất cập trong các quy định của
bộ luật dân sự về thừa kế theo di chúc” để nghiên cứu, làm rõ
trong bài tập lớp lần này của mình.
kế thuộc nhà nước(Điều 644); thời hiệu khởi kiện về thừa kế(Điều
645).
1.2 Di chúc.
1.2.1 Định nghĩa di chúc.
Theo quy định tại điều 646 BLDS- 2005 thì: “ Di chúc là sự thể hiện
ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác
sau khi chết”.
1.2.2 Đặc điểm của di chúc.
Với định nghĩa trên, ta có thể thấy một số đặc điểm cơ bản của di
chúc như:
Thứ nhất: di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân mà không phải
của bất cứ chủ thể nào khác:Di chúc là hành vi pháp lí đơn phương
của người lập di chúc qua việc lập di chúc, cá nhân đó làm xác lập
một giao dịch dân sự về thừa kế theo đó, họ sẽ định đoạt phần tài
sản của mình cho những người khác mà không cần biết những
người đó có đồng ý nhận di sản của mình hay không. Ngoài ra, di
chúc chung của vợ chồng cũng vậy, cho dù nó là sự thể hiện ý chí
chung của vợ chồng, nhưng nó vẫn chỉ là thể hiện ý chí đơn
phương trong giao dịch dân sự.
Hai là: mục đích của việc lập di chú là nhằm chuyển tài sản là di
sản của mình cho người khác đã được xác định trong di chúc: Để
được coi là một căn cứ để chuyển dịch tài sản của mình sau khi
chết cho những người còn sống thì di chúc không thể thiếu nội
dung này. Với nội dung này thì di chúc thật sự trở thành một
phương tiện để người để lại di sản thừa kế, quyền sở hữu của mộ
người đối với thành quả lao động của mình mới được chuyển dịch
từ đời này sang đời khác và đặc biệt ngay cả khi họ chết thì quyền
định đoạt đối với tài sản của mình vẫn được pháp luật bảo vệ.
các điều từ 655đến 657 lại cụ thể hóa các loại di chúc quy định
trong điều 650. Một minh chứng khác: tại điều 653 có tên là: “nội
dung của di chúc bằng văn bản” nhưng tại khoản 2 điều này lại
quy định về hình thức của di chúc: “ Di chúc không được viết tắt
hoặc viết bằng kí hiệu,…”. Như vậy đã có sự sáo trộn, không thống
nhất trong việc xắp xếp giữa các điều; chưa có sự tách biệt giữa
hình thức và nội dung.Điều này dễ gây sự ngắt quãng, khó hiểu
cho người đọc.
2.2 Về khái niệm di chúc.
Điều 646 quy định về di chúc: “di chúc là sự thể hiện ý chí của cá
nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết
Bất cập ở đây là về mặt từ ngữ: tại điều 646 có dùng từ “người
khác”, vậy có thể hiểu đối tượng nhận di sản ở đây chỉ có thể là
người. trong khi tại điều 635 về người thừa kế thì có quy định đối
tượng hưởng thừa kế còn có cơ quan, tổ chức còn tồn tại vào thời
điểm mở thừa kế. Hai điều này liệu có mâu thuẫn với nhau?
Mặt khác quy định “chuyển tài sản” chưa cụ thể vì với quy định
như vậy sẽ được hiểu là người thừa kế di sản sẽ có toàn quyền
định đoạt đối với tài sản (như bán tặng cho, tiêu dùng,…) sau khi
người để lại di sản chết. Tuy nhiên nhiều khi người lập di chúc lại
không muốn giao hẳn quyền sở hữu cho người thừa kế ví dụ như
những trường hợp người để lại kỉ vật, bất động sản có giá trị lâu
dài mà họ muốn tài sản của mình được lưu truyền, phát triển từ đời
này sang đời khác thì họ có được phép hạn chế quyền của người
hưởng di sản hay không? Về phía người hưởng di sản cũng không ít
trường hợp sử dụng di sản một cách hoang phí, trái với ý nguyện
của người lập di chúc.
Với những phân tích trên, thiết nghĩ nên ghi nhận cho người lập di
vi dân sự”. tại khản 2 điều này cũng quy định: “… giao dịch dân sự
liên quan đến tài sản của ngườibị hạn chế năng lực hành vi dân sự
phải có sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật, trừ giao dịch
phục vụ nhu cầu sinh hoạt hằng ngày”.
Như vậy, nếu theo quy định tại khoản 1 Điều 647 BLDS thì những
người bị hạn chế NLHVDS quy định tại khoản 2 Điều 23 có quyền
lập di chúc như một người có NLHVDS đầy đủ hay không?
Quy định tại khoản 2 Điều 647 không những chưa chặt chẽ mà còn
thiếu nội dung quan trọng: ở đây chỉ quy định độ tuổi mà không
quy định về NLHVDS của người ở độ tuổi từ 15 đến chưa đủ 18
tuổi.
Mặt khác, trong quy định về việc cha, mẹ hoặc người giám hộ
đồng ý cho những đối tượng này lập di chúc cũng có những điểm
cần xem xét:
- Thứ nhất: Thời điểm mà cha, mẹ, người giám hộ cho họ lập di
chúc là khi nào, trước khi họ lập di chúc, sau khi hay trong khi họ
đang lập di chúc? hay cả ba thời điểm trên đều có giá trị pháp lí?
- Thứ hai: Hình thức đồng ý của cha, mẹ, người giám hộ được thể
hiện như thế nào? Việc đồng ý cần phải có văn bản riêng hay chỉ
cần có bút tích của họ trên bản di chúc? Và chỉ cần kí vào cuối bản
di chúc hay phải kí trên từng trang của bản di chúc đó?
- Thứ ba: Sự đồng ý của cha, mẹ, người giám hộ cho phép cá nhân
ở độ tuổi này lập di chúc thì có hay không vi phạm quy định tại
Điều 654 BLDS về người làm chứng việc lập di chúc? nếu có thì
bản di chúc không có giá trị pháp lí. Còn nếu không thì địa vị pháp
lí của cha, mẹ hoặc người giám hộ có mâu thuẫn với quy định tại
Điều 654 BLDS,vì tại điều này quy định những trường hợp không
thể làm chứng cho việc lập di chúc bao gồm: “1. Người thừa kế
người thừa kế được chỉ định trước nhằm đảm bảo hơn nữa quyền
tự dịnh đoạt của người lập di chúc được thức hiện theo ý nguyện
của mình.
2.5 Về người làm chứng cho việc lập di chúc.
Điều 654 Bộ luật dân sự quy định: “Mọi người đều có thể làm
chứng cho việc lập di chúc, trừ những người sau đây:1. Người thừa
kế theo di chúc hoặc theo pháp luật của người lập di chúc;2. Người
có quyền, nghĩa vụ tài sản liên quan tới nội dung di chúc;3. Người
chưa đủ mười tám tuổi, người không có năng lực hành vi dân sự.”
Như vậy, ngoài những người không được làm chứng di chúc quy
định ở khoản 1, khoản 2 thì ở khoản 3, Điều 654 Bộ luật Dân sự
mới chỉ đề cập đến người chưa thành niên (Điều 18) và người chưa
đủ sáu tuổi (Điều 21). Nếu quy định như vậy thì trong số những
người không được làm chứng di chúc chúng ta thấy thiếu một số
các chủ thể khác mà các chủ thể này đóng vai trò rất quan trọng
trong các giao dịch dân sự đó là các chủ thể được quy định tại
Điều 22 (Người mất năng lực hành vi dân sự), Điều 23 (Người bị
hạn chế năng lực hành vi dân sự) của Bộ luật Dân sự và người
không biết chữ.
Vậy khi một người đã trưởng thành nhưng họ lại bị bệnh tâm thần
hoặc mắc các bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được
hành vi của mình, hoặc khi họ nghiện ma túy ,hay một người
không biết đọc, không biết viết (ngoại trừ biết viết tên của mình)
thì việc họ đứng ra làm chứng cho di chúc có thực sự khách quan
hay không?Hiện tại, theo BLDS2005 thì những người không được
làm chứng di chúc không bao gồm những chủ thể được quy định
tại Điều 22, Điều 23 BLDS và người không biết chữ. Điều này đồng
nghĩa với việc các chủ thể này có thể làm chứng di chúc được vì
BLDS- di chúc bằng văn bản không có người làm chứng thì người
lập di chúc phải tự viết tay và kí vào bản di chúc- trường hợp này
di chúc không công chứng, chứng thực nhưng vẫn có hiệu lực pháp
luật.
Như vậy, pháp luật có hay không nên quy định về tình trạng thể
chất của người lập di chúc; và nếu có thì cần quy định thế nào để
phù hợp với thực tiễn và dự liệu được các trường hợp có thể xảy ra.
2.7 Di chúc miệng.
Về di chúc miệng đã được quy định tại Đ 651 và Đ 652- BLDS.
Theo đó: “trong trường hợp tính mạng một người bị cái chết đe
dọa do bênh tật hoặc các nguyên nhân khác mà không thể lập di
chúc bằng văn bản thì có thể di chúc miệng” ( khoản 1/ điều 651).
“Di chúc miệng được coi là hợp pháp, nếu người di chúc miệng thể
hiện ý chí cuối cùng của mình trước mặt ít nhất hai người làm
chứng và ngay sau đó những người làm chứng ghi chép lại, cùng kí
tên hoặc điểm chỉ.Trong thời hạn năm ngày, kể từ ngày người lập
di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng thì di chúc phải được công
chứng hoặc chứng thực”. (khoản 5/ điều 652). Ở đây có hai vấn đề
ở chỗ:
Thứ nhất: trường hợp di chúc miệng có người làm chứng nhưng sau
năm ngày chưa được công chứng thì di chúc không có hiệu lực
pháp luật. Như vậy có làm mất đi tính định đoạt của người lập di
chúc đối với tài sản của mìnhvà người được hưởng di sản theo di
chúc đó có chịu thiệt hay không.
Mặt khác, hiện nay trong cuộc sống, đặc biệt là ở các vùng nông
thôn, việc người đang hấp hối, trong cơn nguy kịch mới để lại lời
chăn chối cho con cháu về việc phân chia tài sản của mình sau khi
thể nên dễ gây ra nhiều cách hiểu khác nhau gây khó khăn cho
việc áp dụng cũng như dễ gây tranh chấp giữa những người thừa
kế.
2.8 Di chúc chung vợ chồng.
Trong BLDS 2005 đã cho phép vợ chồng được lập di chúc chung để
định đoạt tài sản chung của hai vợ chồng. Và trên thực tế, việc lập
di chúc chung của vợ chồng ngày càng phổ biến nhằm bảo toàn tài
sản cho con cháu của mình. Xong xoay quanh vấn đề này còn nảy
sinh khá nhiều vướng mắc pháp lí chưa có hướng giải quyết.
- Thứ nhất: về hình thức di chúc chung vợ chồng: theo điều 655
BLDS 2005 quy định về di chúc bằng văn bản không có người làm
chứng thì yêu cầu người lập di chúc phải tự viết tay và kí vào bản
di chúc. Vậy trong trường hợp di chúc chung vợ chồng thì phải do
cả hai vợ chồng cùng viết, hay mỗi người viết một phần của di
chúc rồi cùng kí tên vào di chúc. Hay di chúc chỉ do người vợ hoặc
người chồng viết còn người kia chỉ kí tên, điểm chỉ vào từng trang
của di chúc thì có hợp pháp hay không? Hoặc mỗi người viết một
đoạn nói về nội dung định đoạt tài sản của mình sau đó cùng kí
tên vào di chúc … ?đây cũng là vấn đề chưa được pháp luật quy
định rõ.
- Thứ hai: về sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ di chúc chung vợ
chồng.
Điều 664 quy định về sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ di chúc
chung vợ chồng. theo đó: vợ chồng có thể sửa đổi, bổ sung, thay
thế, hủy bỏ di chúc chung bất cứ lúc nào; khi vợ hoặc chồng muốn
sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ di chúc chung thì phải được sự
đồng ý của người kia, nếu một người đã chết thì người kia chỉ có
thể sửa đổi, bổ sung, di chúc liên quan đến phần tài sản củamình.
sống độc thân. Năm 2006, vợ ông H. bệnh nặng qua đời. Hai năm
sau, ông H. bị tai biến, nằm liệt tại chỗ. Việc chữa trị, chăm sóc
ông rất tốn kém trong khi chỉ một tay người con gái bươn chải. Nợ
nần chồng chất, ông H. và con bàn nhau bán nhà trả nợ, còn lại
mua một căn nhà nhỏ để cha con sống và có dư một ít tiền làm
vốn cho người con mua bán sinh nhai.Sau đó, người con đem hồ sơ
nhà đất và tờ di chúc ra phòng công chứng khai nhận di sản thì bị
từ chối. Theo phòng công chứng, đây là di chúc chung của vợ
chồng nên khi ông H. còn sống thì di chúc chưa có hiệu lực. Ông H.
muốn thay đổi nội dung di chúc nhằm có thể tự bán phần một nửa
căn nhà của ông nên nhờ cậy một luật sư tư vấn miễn phí. Tuy
nhiên, luật sư cho biết một nửa căn nhà của ông gắn liền với phần
tài sản của người vợ đã mất, mặt khác theo luật, khi sửa đổi di
chúc chung của vợ chồng thì không được làm thay đổi bản chất nội
dung của di chúc. Nghĩa là dù ông H. có định đoạt lại nửa căn nhà
phần ông thế nào thì cũng không thể thay đổi, hủy bỏ việc cho
người con gái căn nhà đó được. tình thế này khiếp cha con ông H
mắc dù có tài sản mà phải sống trong cảnh khó khăn.
- Thứ ba: về thời hiệu mở thừa kế.
Theo phân tích của một vị thẩm phánTòa Dân sự TAND TP.HCM cho
rằng: Thời hiệu khởi kiện thừa kế là 10 năm kể từ thời điểm mở
thừa kế. Như vậy hết 10 năm mà một trong hai người lập di chúc
vẫn còn sống thì thời hiệu khởi kiện xin chia thừa kế đối với phần
di sản của người chết trước cũng không còn. Giả sử nếu di chúc
chung đó không hợp pháp mà những người thừa kế không biết để
khởi kiện kịp thời thì đến khi người lập di chúc sau cùng chết, thời
hiệu khởi kiện không còn thì quyền lợi của người thừa kế coi như bị
bỏ lửng… lúc này quyền lợi của người được hưởng thừa kế sẽ được
di sản dùng vào việc thờ cúng sẽ được dùng để thanh toán nghĩa
vụ? thêm nữa, phần di sản dùng vào việc thờ cúng sẽ được tính
theo tỉ lệ của phần tài sản trước khi thực hiện nghĩa vụ hay sau khi
đã thanh toán hết nghĩa vụ? nếu sau khi thanh toán nghĩa vụ mà
không còn di sản để dùng thờ cúng nữa thì sẽ giải quyết như thế
nào? Quy định của pháp luật hiện nay là chưa rõ ràng có thể dẫn
đến tình trạng người lập di chúc lạm dụng quyền của mình để lại
phần lớn di sản thờ cúng thì quyền lợi của những người có liên
quan sẽ bị ảnh hưởng.
Thứ tư: theo quy định của pháp luật thì: “trong trường hợp tất cả
người thừa kế theo di chúc đều đã chết thì di sản dùng để thờ cúng
sẽ được về người đang quản lí hợp pháp di sản trong số những
người thuộc diện thừa kế theo pháp luật”, Điều này là chưa hợp lí
vì người quản lí di sản có thể được chỉ đinh trong di chúc mà không
phải người thuộc diện thừa kế theo pháp luật. và nếu xét trong mối
liên quan với thời hiệu khởi kiện về thừa kế và điều 247 BLDS về
xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu thì thời gian quản lí hợp pháp
là bao lâu để di sản thờ cúng thuộc về họ?
Điểm bất cập nữa ở đây là việc chưa có quy định nào của pháp
luật về loại di sản thờ cúng đã được lập sẵn từ đời trước sau đó
chuyển giao cho người hiện tại đang lập di chúc quản lí. Nếu người
này không lập di chúc để truyền lại di sản thờ cúng đó cho con
cháu thì sẽ dận đến hai cách xác định khác nhau- hoặc vẫn coi là
di sản thờ cúng, hoặc sẽ được chia theo pháp luật vì đó là tài sản
không được định đoạt trước trong di chúc.
Bên cạnh đó cũng không quy định cụ thể về quyền và nghĩa vụ
của người quản lí di sản thờ cúng, vì thế không có cơ sở để xác
định việc một người có vi phạm nghĩa vụ thờ cúng hay không ( ví
Điều 646 quy định sự thể hiện ý chí của người lập di chúc nhằm
chuyển tài sản của mình sang người khác sau khi chết nhưng tại
thời điểm lập di chúc có một số trường hợp tài sản chưa thuộc
quyền sở hữu của người lập di chúc hoặc là tài sản người lập di
chúc sẽ có sau khi chết ( ví dụ như quyền sử dụng đất đang trong
thời gian hoàn tất thủ tục giấy chứng nhận, tài sản mà người lập di
chúc đang tranh chấp mà sau đó được bản án, quyết định có hiệu
lực của tòa án xác định là của người đó,…) thì di chúc có được
công nhận hay không? Thực tế những tranh chấp hợp đồng do
người lập di chúc giao kết nhưng đang thưc hiện họ đã không may
qua đời mà không có thỏa thuận từ đầu là người thừa kế sẽ được
tiếp tục thay thế.
2.11 Về giải thích nội dung di chúc.
Theo phân tích ở trên, di chúc là hành vi pháp lí đơn phương thể
hiện ý chí định đoạt tài sải của người để lai di sản cho chủ thể
khác. Do nhiều yếu tố tác động, không phải lúc nào ý chí đích thực
và sự thể hiện ra bên ngoài cũng rành mạch dễ hiểu. vì thế cần có
sự giải thích nội dung di chúc để đảm bảo ý nguyện của người để
lại tài sản.
Theo điều 673 về giải thích nội dung di chúc thì người công bố di
chúc cùng với những người thừa kế theo di chúc có quyền “ giải
thích nội dung di chúc dựa trên ý nguyện đích thực trước đây của
người chết” và nếu không thống nhất thì có quyền coi như không
có di chúc. quy định như vậy liệu có quá suy diện chủ quan vì
nhiều nguiowf giữ bí mật về di chúc đến khi họ qua đời mới công
bố thì không ai có thể biết ý nguyện đích thực trước đây của họ, và
ý nguyện “ trước đây” của người để lại di chúc được tính từ mốc
thời gian nào. Mặt khác, quy định này làm cho nội dung di chúc dễ
giám hộ đồng ý bằng văn bản hoặc có bút tích của cha, mẹ hoặc
người giám hộ vào cuối bản di chúc của người ở độ tuổi này lập
ra”.
- “sự đồng ý của cha, mẹ hoặc của ngươi giám hộ cho người từ đủ
mười lăm tuổi đến dưới mười tám tuổi lập di chúc được thực hiện
trước khi, trong khi hoặc sau khi di chúc được lập ra đều có giá trị
pháp lí”.
- Bổ sung khoản 3 Đều 647 BLDS: “Quy định tại khoản 2 điều này
không được áp dụng đối với người bị hạn chế năng lực hành vi dân
sự theo quy định tại Điều 23 của Bộ luật này”.
Thứ hai: về người làm chứng cho việc lập di chúc:
- Pháp luật nên quy định điều kiện của người làm chứng cho việc
lạp di chúc phải là người có đủ năng lực hành vi dân sự, không
thuộc các hàng thừa kế theo pháp luật; không có quyền lợi liên
quan đến nội dung di chúc. người viết hộ di chúc phải từ đủ 18 tuổi
trở lên và cần ghi rõ tên tuổi, địa chỉ, lí do viết hộ di chúc.
- Trong trường hợp đặc biệt, người thừa kế theo pháp luật và người
viết hộ di chúc đồng thời có thể là người làm chứng cho việc lập di
chúc nếu di chúc không ghi nhận quyền lợi cho họ và không có
tranh chấp về vấn đề này.
- Người có thẩm quyền công chứng, chứng thực di chúc đồng thời
là người làm chứng cho việc lập di chúc nếu di chúc được lập tại cơ
quan công chứng.
- Yêu cầu chung đối với nười làm chứng cho việc lập di chúc là phải
có lời xác nhận về tình trạng sức khỏe, tinh thần của người lập di
chúc là minh mẫn, sáng suốt, xác nhận nội dung di chúc đã được
ghi chép đúng với ý nguyện của người lập di chúc và ghi rõ ngày,
giờ, địa điểm làm chứng, họ tên, địa chỉ người làm chứng.
thờ cúng, với tỉ lệ tương thích với klhoois tài sản và nghĩa vụ họ để
lại.
Vậy có thể bổ sung diều 670 BLDS như sau: “Người lập di chúc có
quyền để lại di sản dùng vào việc thờ cúng; nếu di chúc không
phân định rõ phần di sản dùng vào việc thờ cúng thì những người
thừa kế có quyền thỏa thuận hoặc do tòa án xác định song không
được vượt quá một suất thừa ké theo pháp luật”.
Có thể thấy, mặc dù người được di tặng và người thừa kế theo di
chúc có sự khác nhau về tư cách thực hiện nghĩa vụ tài sản mà
người chết để lại nhưng họ đều được hưởng một phần tài sản của
người lập di chúc. Vậy, pháp luật có nên quy định về điều kiện của
người được di tặng: trong trường hợp người được di tặng có những
hành vi bất xứng như những người thừa kế khác theo quy định tại
Điều 643 thì vẫn được hưởng di tặng hay bị Tòa án tước quyền đó?
Vấn đề này theo TS. Nguyễn Văn Tuyết đã phân tích trong luận án
tiến sĩ của mình thì người được di tặng là người hưởng một phần di
sản theo di chúc, vì thế nêu có các hành vi theo quy định tại Khoản
1 Điều 643 họ cũng bị tước quyền hưởng di tặng.
Mặt khác, để đảm bảo quyền lợi cho người thứ ba trong một số
giao dịch cũng như đảm bảo công bằng cho những người thừa kế
thì pháp luật nên chăng cần quy định người được di tặng, tặng cho
cũng phải thực hiện nghĩa vụ về tài sản di người chết để lại.
Thứ năm: Về nội dung di chúc: với những bất cập trên, theo quan
điểm của TS.Trương Thị Huệ cho rằng tài sản của người chết phát
sinh sau thời điểm mở thừa kế cũng được xác định là di sản thừa
kế vì tài sản này phát sinh từ những quan hệ pháp luật mà người
để lại di sản xác lập khi còn sống.
Thứ sáu: Về vấn đề giải thích nội dung di chúc: Luật cần thu hẹp