MỤC LỤC
Nội dung
Trang
1. Mở đầu
1.1. Lý do chọn đề tài
1
2
1.2. Mục đích nghiên cứu
2
1.3. Đối tượng nghiên cứu
2
1.4. Phương pháp nghiên cứu
2
2. Nội dung sánh kiến kinh nghiệm
2
2.1. Cơ sở lý luận
2
13
14
18
3. Kết luận, kiến nghị
19
3.1 Kết luận
19
I. MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Chúng ta biết rằng tài nguyên thiên nhiên Biển và đại dương được các
nhà khoa học gọi là “Lục địa xanh”, phủ kín 70,8% bề mặt trái đất và đang
“Cất giấu” những kho nguyên liệu, khoáng vật khổng lồ dưới dạng hòa tan
trong nước, lắng đọng dưới đáy và vùi kín dưới lòng đại dương. Chính vì
vậy, “vấn đề khai thác tài nguyên và bảo vệ môi trường biển, hải đảo ở nhiều khu vực
trên thế giới đang đứng trước nhiều thách thức, nhiều nguồn tài nguyên bị khai thác cạn
kiệt, môi trường biển nhiều nơi bị ô nhiễm đến mức báo động đã gây ra nhiều thiệt hại
nghiêm trọng, cản trở sự phát triển kinh tế - Xã hội của nhiều quốc gia”. [1]
Đứng trước sức ép của tốc độ gia tăng dân số ngày càng nhanh, nhu cầu phát triển
kinh tế ngày càng cao trong bối cảnh các nguồn tài nguyên đất liền ngày càng cạn kiệt
càng đẩy mạnh khuynh hướng tiến ra biển, khai thác biển, làm giàu từ biển, nhưng
thường đi kèm với đó lại là các phương thức khai thác thiếu tính bền vững; Các hoạt
động khai thác chủ yếu chỉ tập trung vào các mục tiêu phát triển kinh tế để đạt được các
mong muốn tối đa, trong khi xem nhẹ công tác bảo vệ môi trường, hoặc không có hoặc
thiếu những qui hoạch, kế hoạch chi tiết, cụ thể, đặc biệt trong bối cảnh tác động
đều góp phần hình thành và phát triển toàn diện nhân cách cho trẻ cả về đạo đức, trí tuệ,
thẩm mỹ, thể lực và lao động.
Đối với trẻ mầm non nói chung và trẻ mẫu giáo nói riêng, đặc biệt là trẻ 5 tuổi Là lứa tuổi mà trẻ rất muốn được khẳng định “Cái tôi” của mình cũng được giống như
người lớn. Trẻ 5 tuổi rất tò mò, khám phá về các sự vật hiện tượng xung quanh để mở
rộng nhận thức vào cấp học phổ thông tiếp theo. Vì vậy, việc đưa giáo dục về biển, hải
đảo vào cấp học mầm non là tạo cơ hội cho trẻ được làm quen, nhận biết về biển, hải
đảo Việt Nam. Trên cơ sở đó hình thành cho trẻ thói quen, hành vi bảo vệ tài nguyên,
môi trường biển, hải đảo. Những thói quen đó cần phải bắt đầu hình thành ngay từ lứa
tuổi mầm non. Nhận thức được tầm quan trọng của việc giáo dục bảo vệ tài nguyên môi
trường, biển hải đảo đối với trẻ tuổi mầm non, tôi đã tìm tòi, học hỏi, suy nghĩ và mạnh
dạn chọn đề tài “Một số biện pháp chỉ đạo giáo viên tích hợp nội dung giáo dục bảo
vệ tài nguyên và môi trường biển, hải đảo vào chương trình giáo dục trẻ mẫu giáo 5
tuổi tại trường Mầm non Nga Thạch Nga Sơn”.
1.2. Mục đích nghiên cứu
Giúp giáo viên nhận thức được tầm quan trọng của việc bảo vệ tài nguyên môi
trường biển,hải đảo để tích hợp vào các hoạt động.
Giáo dục trẻ tình yêu quê hương, đất nước, đặc biệt là tình yêu biển, đảo; biết
công lao to lớn của các chú bộ đội ngày đêm canh giữ đất, trời, biển, đảo xa, giữ hòa
bình cho quê hương, đất nước để các cháu được vui chơi, học tập.
1.3. Đối tượng nghiên cứu
Giáo viên, phụ huynh, trẻ mẫu giáo 5 tuổi tại trường Mầm Non Nga Thạch Nga Sơn .
1.4. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu lí luận
Phương pháp trực quan
Phương pháp quan sát sư phạm
Phương pháp đàm thoại
Phương pháp thực hành
Phương pháp tuyên truyền
2. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
2.1. Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm
các hành vi phù hợp với tài nguyên, môi trường góp phần hình thành nhân cách trẻ ngay
từ khi còn nhỏ. “Trẻ em hôm nay, thế giới ngày mai”. Tôi tin tưởng rằng tương lai mai
sau môi trường biển, hải đảo của Việt Nam sẽ ngày càng tươi đẹp
2.2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm
* Thuận lợi
Trường mầm non xã Nga Thạch được sự quan tâm của các cấp các ngành trong
xã đã quan tâm đầu tư xây dựng được cho nhà trường một ngôi trường tương đối khang
trang. Nên nhà trường đã sớm đã trường chuẩn Quốc gia mức độI. Trường có đội ngũ
cán bộ giáo viên trẻ có nhiều tâm huyết với nghề đạt trình độ trên chuẩn, có lòng nhiệt
huyết yêu nghề mếm trẻ luôn quan tâm đến sự nghiệp trồng người của xã nhà. và lớp
học đối đầy đủ các loại đồ dùng, đồ chơi phục vụ cho các hoạt động của trẻ.
Nhà trường cũng như bản thân tiếp thu và ứng dụng nhanh các chuyên đề mới
của chương trình giáo dục mầm non. Tích cực học hỏi và trao đổi cùng đồng nghiệp về
đề tài nghiên cứu, sưu tầm các loại sách báo nên tích lũy được nhiều kinh nghiệm để
cung cấp và đáp ứng nhu cầu về tài nguyên và môi trường biển, hải đảo cho trẻ.
Nắm vững nội dung, phương pháp hướng dẫn trẻ 5 – 6 tuổi.
Phần lớn các cháu đều qua các lớp từ 3 tuổi đến 4 tuổi, nên khi các cháu lên lớp
mẫu giáo 5 tuổi các cháu đều khỏe mạnh, mạnh dạn tự tin. Trẻ phát âm ngôn ngữ của
trẻ rõ ràng, chuẩn tiếng phổ thông.
* Khó khăn:
Đồ dùng, đồ chơi tuy có nhưng còn thiếu nhiều đồ dùng hiện đại như: Máy vi
tính và đồ chơi ngoài trời chưa đủ chủng loại theo yêu cầu.
Kiến thức về tài nguyên và môi trường biển, hải đảo của giáo viên còn chưa sâu.
Tài liệu hỗ trợ dạy học về vấn đề này cũng còn sơ sài.
Một số phụ huynh chưa hiểu được tầm quan trọng của giáo dục biển, hải đảo cho
con em mình nên thường "Phó mặc" cho giáo viên và nhà trường.
Một số phụ huynh nhận thức về bảo vệ tài nguyên và môi trường, biển đảo còn
hạn chế.
- Giúp giáo viên hiểu biết về tài nguyên môi trường biển, hải đảo ở Việt
Nam. Giáo dục ý thức về tài nguyên môi trường biển, hảo đảo cho giáo viên.
- Lựa chọn các nội dung phù hợp về giáo dục biển, hải đảo để lồng ghép,
tích hợp vào một số chủ đề và các hoạt động cho trẻ mẫu giáo 5 tuổi.
Tôi chỉ đạo hướng dẫn giáo viên hiểu rõ vấn đề về lồng ghép nội dung
giáo dục về tài nguyên môi trường biển, hải đảo vào chương trình dạy trẻ mẫu
giáo 5 tuổi một cách phù hợp, có hiệu quả. Tôi đã nghiên cứu xây dựng nội dung
giáo dục về tài nguyên môi trường biển, hải đảo để chỉ đạo giáo viên dạy lớp 56 tuổi lồng ghép vào một số chủ đề theo hướng tích hợp như sau:
1.Ví dụ ở chủ đề gia đình. Tôi chỉ đạo giáo viên lựa chọn nôi dung lồng
ghép tích hợp sao cho phù hợp với trẻ
* Nhận biết về người thân trong gia đình ( Bố, mẹ, cô, chú, bác…trong họ)
Làm nghề bộ đội hải quân.Biết yêu thương, quí mến, tôn trọng người thân trong
gia đình.
- Khám phá xã hội: Trò chuyện về công việc người thân trong gia đình
làm nghề bộ đội hải quân.
- Hát, vận động“ Ba em là bộ đội hải quân”. Nghe hát “ Thân thương
trường xa”
2. Nghề nghiệp
* Nhận biết tên gọi, dụng cụ, sản phẩm và ý nghĩa một số nghề: Đối với
Nghề bộ đội hải quân
- Khám phá khoa học: Trò chuyện về: Chú bộ đội hải quân.
+ Đọc thơ: Chú bộ đội hành quân trong mưa, Chú giải phóng quân.
- Âm nhạc:dạy hát“ Cháu thương chú bội đội. Nghe hát “ Màu áo chú bội
đội’
- Tạo Hình: Vẽ quà tặng chú bộ đội
Hay tìm hiểu nhận biết tên gọi, dụng cụ, sản phẩm và ý nghĩa một số nghề:
Đối với Nghề nuôi hải sản, Nghề đánh bắt hải sản, Nghề làm muối
- Khám phá khoa học:
+ Cho trẻ xem hình ảnh về một số nguyên nhân môi trường biển.
+ Trò chuyện gợi ý cho trẻ nêu nhận xét về các hành vi đúng, sai.
+ Tổ chức chơi trò chơi: Thi xem đội nào nhanh “Chọn hành vi đúng”, hành
vi gây ô nhiễm môi trường biển, hải đảo.
- Khám phá khoa học
+ Du lịch dưới lòng đại dương.
- Văn học:
+ Đọc thơ: Rong và cá
+ Kể chuyện: Loài cá thông minh
– Âm nhạc:
+ Hát vận động bài: “Cá ơi”,
“ Tôm cua cá thi tài”,
- Tạo hình: Vẽ, xé dán, nặn các con vật sống dưới nước.
- Trò chơi “Ai nhanh nhất” chọn hình ảnh động vật, thực vật có từ biển.
- Làm đồ chơi từ vỏ ốc, vỏ sò biển.
- Ghép hình con vật ở biển bé thích bằng lá cây.
- Tạo thảm có, vườn hoa trên bờ biển.
- Khám phá khoa học
+ Trò chuyện về phương tiện giao thông đường thủy.
- Âm nhạc: Hát “ Em đi chơi thuyền”, “ Bạn ơi có biết”
- Văn học:
+ Kể chuyện: Một chuyến tham quan
+ Đọc thơ: Cô dạy con
- LQVT: Đếm các loại phương tiện giao thông trên biển.
- Tạo hình:
+ Vẽ, cắt dán, tranh ảnh về giao thông trể biển, đảo.
+ Làm bộ sưu tập ( cắt, dán) Phương tiện giao thông trên biển.
+ Tạo hình thuyền bằng cách gấp, các nguyên liệu từ lá cây, bẹ chuối…
thẳng ra biển.
- Do tràn dầu: tàu bè đi lại trên biển làm tràn dầu, đắm tàu do bão, lốc.
- Do chặt phá cây: Con người chặt phá cây ven biển.
- Do khai thác cạn kiệt tài nguyên biển: Đánh bắt cá tùy tiện, khai thác các
loài rong, tảo biển quá mức.
* Tham gia bảo vệ tài nguyên, môi trường biển, hải đảo
- Không vứt rác thải xuống biển, đảo trong khi đi du lịch cũng như trong
sinh hoạt hằng ngày.
- không bẻ cành, phá cây trồng ven biển.
- Tham gia thu gom rác thải.
- Khám phá khoa học:
+ Nhận biết biển, đảo Việt Nam.
+ Du lịch biển Việt Nam
+ Trò chuyện về môi trường biển bị ô nhiễm.
+ Xem phim tài liệu (Tranh, ảnh, mô hình) về biển đảo Việt Nam.
+ Xem hình ảnh các hoạt động bảo vệ môi trường biển, đảo.
- Âm nhạc:
+ Hát, múa “Bé yêu biển”, nghe hát “Biển hát chiều nay”, “Đảo chân
mây”…
- Văn học: + Đọc thơ: Quê em
+ Kể chuyện: Bé và cái vỏ bao ny lon.
- Tạo hình: + Tô màu, cắt dán làm sách tranh du lịch quê em.
+ Tổ chức chơi trò chơi: Thi xem đội nào nhanh “Chọn hành vi
đúng”, hành vi gây ô nhiễm môi trường biển, hải đảo.
Từ việc chỉ đạo hướng dẫn giáo viên lựa chọn nội dung lồng ghép tích hợp
vào các chủ đề để dạy trẻ đạt hiệu quả. Tôi nhận thấy cần phải xây dựng, lựa
chọn các hình thức bồi dưỡng cụ thể như bồi dưỡng qua mở lớp tập huấn chuyên
đề, qua tài liệu, qua sách báo, tập san, tạp chí, qua các hệ thống thông tin truyền
- Nhà trường đã mua và phô tô nhiều tài liệu liên quan đến nội dung giáo
dục về tài nguyên môi trường biển, hải đảo cho trẻ mẫu giáo 5 tuổi để giáo viên,
nhân viên nghiên cứu và học tập, 100% giáo viên biết cách truy cập tài liệu hình
ảnh trên mạng ….Đã tổ chức được 8 buổi tọa đàm về các nội dung hướng dẫn
tích hợp nội dung giáo dục về tài nguyên môi trường biển, hải đảo cho trẻ mẫu
giáo 5 tuổi vào các hoạt động trong ngày.
- Tổ chức được 15 tiết dạy và hoạt động có lồng ghép tích hợp nội dung
giáo dục tài nguyên môi trường biển, hải đảo cho 100% giáo viên 5 tuổi trong
trường học tập và rút kinh nghiệm.
- 100% giáo viên hưởng ứng tham gia học tập tích cực và rút ra được
nhiều kinh nghiệm giáo dục về tài nguyên môi trường biển, hải đảo cho trẻ mẫu
giáo 5 tuổi. Bắt đầu giáo viên đã biết cách xây dựng lồng ghép tích hợp nội
dung giáo dục tài nguyên môi trường biển, hải đảo vào chương trình dạy trẻ 5
tuổi.
- 100% giáo viên đã nhận thức được cần phải giáo dục lồng ghép tích hợp
nội dung giáo dục tài nguyên môi trường biển, hải đảo cho trẻ mẫu giáo 5 tuổi.
- 100% giáo viên đã nắm được kiến thức, kỹ năng tổ chức các hoạt động
lồng ghép tích hợp nội dung giáo dục tài nguyên môi trường biển, hải đảo cho
- 100% Giáo viên đã tham gia buổi hội thảo ứng dụng khoa học tích hợp
nội dung giáo dục trẻ mẫu giáo 5 tuổi một cách phù hợp nhẹ nhàng có nghệ
thuật, không gò bó áp đặt trẻ.
2.3.2. Chỉ đạo giáo viên xây dựng góc tuyên truyền, phối kết hợp với phụ
huynh làm mô hình, đồ dùng đồ chơi để gây hứng thú kích thích trẻ tích cực
tham gia vào hoạt độngvà khắc sâu kiến thức về bảo vệ môi trường biển đảo
- Xây dựng góc tuyên truyền biển, đảo:
Đây nội dung không thể thiếu và là biện pháp rất hữu hiệu để khắc sâu
kiến thức cho trẻ biết về biển đảo quê hương, đất nước. Vì đặc điểm của trẻ là dễ
nhớ nhưng lại mau quên, song trẻ được trực quan bằng hình ảnh thì sẽ khắc sâu
hơn. Ở góc tuyên truyền tôi chỉ đạo giáo viên cần xây dựng là bản đồ Việt Nam
có gắn tên Tỉnh/ Thành phố trên bản đồ từ Bắc vào Nam, giới thiệu với trẻ mỗi 1
khí mà chủ yếu “khoan thăm dò” sức chịu đựng và lòng yêu nước của người
Việt Nam. Từ đó phụ huynh biết được giáo dục về tài nguyên, môi trường biển
đảo là bước đầu giáo dục tình yêu và ý thức bảo vệ chủ quyền biển đảo ngay từ
bậc học mầm non.
Chỉ đạo giáo viên phát động phong trào thu gom phế liệu sau dịp tết
nguyên đán để làm mô hình, đồ dùng, đồ chơi. Phụ huynh học sinh cũng rất ủng
hộ, cô và trò cùng làm được nhiều đồ dùng, đồ chơi bổ xung vào các góc, đặc
biệt là mô hình quần đảo Trường Sa, Hoàng Sa để giúp trẻ biết được trên đảo có
ai? Các chú làm gì ở trên đảo? chúng ta được sống những ngày yên bình được
đến lớp, đến trường cũng nhờ có các chú ngày đêm canh giữ biển trời.
Phụ lục 3. Hình ảnh mô hình đồ dùng đồ chơi cô, phụ huynh và trẻ cùng làm
từ những nguyên vật liệu thu gom phế thải
Qua một thời gian áp dụng biện pháp chỉ đạo giáo viên xây dựng góc tuyên
truyền và phối kết hợp với phụ huynh giáo dục trẻ ý thức bảo vệ tài nguyên và môi
trường biển, hải đảo cho trẻ, 90 % phụ huynh ở hai lớp 5 - 6 tuổi tham gia nhiệt tình,
làm được nhiều đồ dùng đồ chơi và xây dựng góc tuyên truyền. Tôi nhận thấy rằng hầu
hết các cháu 5 tuổi đã có tiến bộ rất nhiều về những kiến thức, kỹ năng và thái độ đối
với việc bảo vệ tài nguyên và môi trường biển, hải đảo. Cụ thể, trẻ biết kể tên một số bãi
biển, những hòn đảo nổi tiếng của Việt Nam, biết những nguồn tài nguyên động thực
vật và khoáng sản có từ biển, biết tàu thuyền là phương tiện giao thông đường thủy có
tầm quan trong đặc biệt trong sự phát triển của đất nước, trẻ biết các nguyên nhân gây ô
nhiễm môi trường biển, hải đảo và phân biệt tốt những hành vi đúng sai đối với tài
nguyên và môi trường biển, hải đảo.
Biết cùng cô tạo ra một số đồ dùng đồ chơi từ phế thải mang ý nghĩa giáo dục
bảo vệ tài nguyên môi trường biển hải đảo.
2.3.3. Chỉ đạo giáo viên dùng thủ thuật, trò chuyện gợi mở, tạo cơ hội cho trẻ
thực hành trải nghiệm và sử dụng một số trò chơi để thu hút trẻ tích cực tham gia
+ Con có được tắm biển không?
+ Con thấy sóng biển như thế nào?
+ Mọi người đã làm gì khi ở biển?
Ngoài ra, để giúp trẻ nhận ra những việc làm tốt, những việc làm không tốt, việc
nào nên và không nên làm, kích thích trẻ suy nghĩ, bộc lộ tình cảm, giáo viên cần kể
những câu chuyện như: Những công dân nhỏ tuổi, Chú bộ đội Trường Sa. Khi kể,giáo
viên cần giải thích chậm rãi cho trẻ và cần phải rõ ràng, chính xác; kiên nhẫn lắng
nghe trẻ nói, không tỏ ra khó chịu khi trẻ nói không đúng hoặc hỏi nhiều. Không nhắc
lại những câu, từ trẻ nói sai và gợi ý để trẻ nói lên suy nghĩ của mình trước những điều
trẻ đã nghe hoặc là nhìn thấy. Mục đích là để thông qua những câu chuyện đó, trẻ hiểu
thêm các đặc điểm của các con vật, cây cối trên đảo và công việc của những chú bộ
đội canh giữ biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc.
*Tạo cơ hội cho trẻ thực hành, trải nghiệm
Giáo viên cần đưa ra các tình huống có vấn đề giúp kích thích tính sáng tạo
của trẻ, tạo cơ hội để trẻ sử dụng những kinh nghiệm đã có vào việc giải quyết
các vấn đề nảy sinh trong cuộc sống của trẻ.
Ví dụ: Trong khi trò chuyện với trẻ, giáo viên đưa ra các tình huống giả
định: Điều gì sẽ xảy ra nếu môi trường biển, đảo bị ô nhiễm ngày càng nặng?
Khi ra biển chơi thấy có nhiều rác ở đó con sẽ làm gì? Nếu thấy một bạn nhỏ
đang vứt rác ra biển, con sẽ nói gì với bạn?. Điều gì sẽ xẩy ra khi nguồn nước
biển bị ô nhiễm? Cô cháu mình cùng thực hành và trải nghiệm qua thí nghiệm
nguồn nước bị ô nhiễm bởi vết dầu loang và nguồn nước sạch. Giáo viên chuẩn
bị một bể nước sạch và một bể nước bị nhiễm bẩn vết giàu loang. Cho trẻ thả cá,
tôm vào 2 bể nước. Cùng suy ngẫm, thảo luận, nhận xét sau 30 phút điều gì sẽ
xảy ra. Trẻ quan sát hiện tượng cá, tôm bị chết nổi lên mặt nước khi thả vào bể
nước bị nhiễm bẩn vết giàu loang. Trong khi đó cá, tôm ở bể nước không bị
nhiễm bẩn vẫn sống và bơi trong nước. Qua thí nghiệm thực tế trẻ sẽ có phản
ứng với hành vi làm ô nhiễm nguồn nước, xả rác thải bừa bãi, hủy hoại môi
phố trẻ tô trên bản đồ, trẻ nói được tên biển hoặc tên đảo/quần đảo của tỉnh đó.
Ví dụ: Cô chỉ vào thành phố Đà Nẵng, trẻ đọc Đà Nẵng có bãi biển Đà
Nẵng và quần đảo Hoàng Sa.
Ví dụ: Trò chơi “Chọn hành vi đúng - sai”.
Qua trò chơi giúp trẻ củng cố khả năng nhận biết và phân biệt hành động
đúng - sai về bảo vệ môi trường biển. Có ý thức không vứt rác và bẻ cành trên
bờ biển khi đi du lịch biển, hải đảo, khi đi tham quan. 82/82 trẻ (tỉ lệ 100%) trẻ
hứng tham gia vào tất cả các hoạt động tích hợp giáo dục tài nguyên, môi trường
biển, hải đảo.
2.3.4 Chỉ đạo giáo viên sưu tầm, sáng tác các bài hát, bài thơ, bài vè,
câu truyện có nội dung giáo dục về tài nguyên môi trường biển, hải đảo
Việc sưu tầm, sáng tác các bài hát, bài thơ, bài vè, câu truyện có tác dụng
rất lớn để giáo dục về tài nguyên môi trường biển, hải đảo cho trẻ. Tuy nhiên,
giáo viên cần lựa chọn các bài hát, bài thơ, câu truyện có nội dung giáo dục trẻ
về tài nguyên môi trường biển, hải đảo đưa vào các chủ đề dạy trẻ một cách phù
hợp. Nhằm phát huy tính tích cực, sáng tạo của giáo viên và tính chủ động của
trẻ trong hoạt động. Vì vậy ngay từ đầu năm học tôi đãphát động phong trào thi
đua, khích lệ giáo viên giáo viên sưu tầm, sáng tác các bài hát, bài thơ, vè, câu
truyện có nội dung giáo dục về tài nguyên môi trường biển, hải đảo cho trẻ phù
hợp với lứa tuổi. Các bài hát bài thơ, bài hát, câu truyện giáo viên sáng tác được
đưa ra các buổi sinh hoạt chuyên môn cùng thảo luận, đánh giá nhận xét. Tôi
cùng giáo viên lựa chọn các bài hát, bài thơ, câu truyện giáo viên đã sưu tầm,
sáng tác, sắp xếp đưa vào từng chủ đề và các hoạt động dạy trẻ ở chủ đề đó sao
cho phù hợp có hiệu quả. Sau đây là một số bài hát, bài thơ, câu chuyện tôi đã
chỉ đạo giáo viên sáng tác, sưu tầm với nội dung giáo dục trẻ phù hợp.
Phụ lục 4. Các bài thơ, câu chuyện sưu tầm và sáng tác
* Kết quả đạt được:
- Giáo viên đã sưu tầm được 10 bài thơ, 13 bài hát, 5 câu truyện có nội
trẻ.
Ví dụ 1: Thông qua hoạt động học Tạo hình “Vẽ theo đề tài về biển quê
em”
Thời gian : 30 – 35 phút.
Tôi đã chỉ đạo giáo viên dạy mẫu hoạt động tạo hình có tích hợp những
nội dung sau :
- Trẻ biết được một số địa danh biển đảo: Đảo Trường Sa, Biển Sầm Sơn.
- Trẻ biết được các tài nguyên biển như: nước, động vật, cát,..Các hoạt
động của con người và động vật trên biển (Nhặt rác, tắm biển, canh gác biển...).
- Trẻ cảm nhận được vẻ đẹp của biển đảo, biết được nguồn tài nguyên
biển phong phú, giáo dục trẻ giữ gìn bảo vệ tài nguyên, môi trường, biển, đảo.
Với đề tài này giáo viên cần tiến hành hoạt động như sau:
Hoạt động của cô
Hoạt động của trẻ
Hoạt động 1: Ổn định tổ chức
- Cho trẻ chơi trò chơi: “Tiếng sóng vỗ”:
- Trẻ chơi trò chơi.
Hoạt động 2: Giíi thiÖu bµi míi
- Hay hôm nay cô sẽ đưa các con đi thăm biển qua màn
ảnh nhỏ(cho trẻ xem Vidieo Clip về động vật dưới biển,
biển Sầm Sơn).
- Trẻ kể.
+ Qua đoạn băng các con nhìn thấy những gì?
+ Các con vật dưới biển như thế nào?
+ Các con đã được đi tắm biển chưa?.
+ Biển làm con ấn tượng nhất là gì?
-Trẻ kể nội dung bức
• Tranh 1:
làm gĩ để bảo vệ biển đảo của mình?
* Làm tranh về môi trường biển đảo
Hôm nay, cô sẽ cho lớp mình xé, xếp dán, vẽ tạo
thành bức tranh với chủ đề: Môi trường biển đảo
Bây giờ chúng mình sẽ chia làm 4 đội mỗi đội sẽ có 30
giây để suy nghĩ, hết 30 giây mỗi đội sẽ phải đưa ra đề
tài về bức tranh của đội mình.
* Hỏi ý tưởng của từng đội và gợi ý một số cách làm
tranh:
+ Nhóm của con sẽ làm tranh có đề tài gì?
+ Lựa chọn nội dung gì để thể hiện trong tranh?
+ Nhóm con sẽ làm như thế nào? Dùng kĩ năng gì để
tạo thành bức tranh? Và sử dụng những nguyên vật liệu
gì? (Cho trẻ nhắc lại một số kĩ năng vẽ,tô mầu..)
+ Đội 1: Tranh về động vật dưới biển
+ Đội 2: Tranh về đoàn thuyền đánh cá
+ Đội 3: Tranh về các chú bộ đội hải quân
+ Đội 4: Tranh về biển Sầm Sơn quê em
Cho từng nhóm trẻ đi lấy đồ dùng và nguyên vật liệu cô
đã chuẩn bị sẵn về nhóm phối hợp với nhau tạo thành
bức tranh chung.
* Trẻ thực hiện
Cô quan sát, động viên khích lệ các nhóm tích cực hoàn
thành bức tranh với thời gian 15 phút
* Triển lãm tranh Bé yêu biển đảo
- Cho trẻ đặt tên cho bức tranh của đội mình. Cô viết
tên dưới bức tranh trẻ vừa đặt
- Cho trẻ giới thiệu nội dung bức tranh của đội mình
Phụ lục 5.
Phụ lục 5.1.Hình ảnh minh họa hoạt động tạo hình vẽ về biển quê em
Phụ lục 5.2.Hình ảnh minh họa hoạt động làm quen với tác phẩm văn
học
* Tích hợp trong hoạt động ngoài trời.
Tôi chỉ đạo giáo viên cho trẻ nhặt lá rụng và rác trên sân trường, phân loại
rác khi tham gia dọn vệ sinh ở sân trường. Ngoài ra tổ chức các hoạt động tập
thể dọn vệ sinh bảo, nhặt rác vệ môi trường
Phụ lục 5.3.Hình ảnh minh họa trẻ cùng cô dọn vệ sinh, nhặt rác trong
trường và ngoài bãi biển
Cho trẻ ghép hình con vật biển từ lá cây, vỏ sò, vỏ ốc, tạo thảm cỏ, vườn
hoa trên bãi biển, Chơi với cát, nước, sỏi, gió, Chơi với vỏ ốc, vỏ sò biển.
Chơi trò chơi : “Tạo sóng biển bằng tay”.
Sau mỗi hoạt động lao động, hoạt động ngoài trời tổ chức cho trẻ rửa tay, trước
khi rửa tay cần hỏi trẻ cách làm thế nào để tiết kiệm nước: vặn vòi vừa phải, rửa xong
vặn chặt vòi nước, rửa gọn gàng không làm nước vung bẩn ra ngoài bồn, sử dụng vừa
đủ xà phòng… Giáo viên nhắc nhở trẻ ở các vùng hải đảo xa xôi luôn thiếu nguồn nước
sạch trong sinh hoạt. Nên khi thực hiện vệ sinh cá nhân phải đi đúng chỗ và biết sử dụng
nước vừa đủ, tiết kiệm, tránh lãng phí.
* Tích hợp trong hoạt động góc.
Đối với trẻ ở lứa tuổi này, học mà chơi, chơi mà học trong giờ Hoạt động
góc trẻ được thực hành trải nghiệm nhiều vai chơi khác nhau trong cuộc sống
của người lớn, nên tôi hướng dẫn trẻ chơi các trò chơi tập thể qua đó tôi tích
hợp nội dung giáo dục tài nguyên môi trường biển, hải đảo cho trẻ như:
- Xem tranh, ảnh, mô hình về biển, đảo.
- Trò chơi: chọn hành động đúng về bảo vệ môi trường biển: “xếp tranh về
quy trình làm muối”; “Tai ai tinh”, “phân biệt âm thanh của biển”.
- Vẽ, tô màu, cắt dán tranh, ảnh về các phương tiện giao thông trên biển.
“Chọn động vật, thực vật có ở biển”.
- Làm sách tranh (cắt, dán trảnh ảnh) về biển, đảo Việt Nam.
quả như sau:
Phụ lục 6. Bảng khảo sát cuối năm
1. Bảng 1. Khảo sát chất lượng giáo viên dạy lớp 5 tuổi cuối năm
2. Bảng2. Khảo sát chất lượng trên trẻ: 82 cháu
* Đối với hoạt động giáo dục:
Khích lệ được trí tưởng tượng, sự tò mò của trẻ, trẻ có hứng thú học, tiếp thu kiến
thức nhanh về tài nguyên, môi trường biển, hải đảo. Trẻ rất thích tham gia làm đồ dùng
đồ chơi từ các nguyên liệu vở ngao, sò, yêu lao động, yêu quê hương, đất nước, thích
tạo ra cái đẹp. Bước đầu trẻ có khái niệm về tài nguyên, môi trường biển, hải đảo của
nước ta. Góp phần phát triển toàn diện 5 mặt giáo dục: Đức, trí, thể, mỹ và lao động
cho trẻ. Đáp ứng được yêu cầu, đòi hỏi ngày càng cao của quá trình đổi mới giáo
dục và những yêu cầu cấp bách hiện nay về nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện
cho trẻ ở trường mầm non.
* Đối với bản thân: Có nhiều kinh nghiệm, vững vàng, tự tin, trong quá trình chỉ
đạo giáo viên nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho trẻ. Đặc biệt là chỉ đạo
giáo viên nâng cao chất lượng lồng ghép, tích hợp nội dung giáo dục bảo vệ tài
nguyên và môi trường biển, hải đảo đạt hiệu quả cao.
* Đối với đồng nghiệp: Thành công sáng kiến kinh nghiệm của tôi đã được hội đồng
khoa học nhà trường đánh giá cao, được các đồng nghiệp ở trường áp dụng rộng rãi trong
quá trình tổ chức thực hiện chuyên đề và thu được kết quả rất tốt. Giáo viên cũng đã có
những kiến thức sâu hơn trong công tác tích hợp các nội dung giảng dạy và nâng cao
nghiệp vụ chuyên môn.Lồng ghép các bài thơ, bài hát, câu chuyện, trò chơi học tập để
giáo dục bảo vệ tài nguyên và môi trường biển, hải đảo, Xây dựng kế hoạch tích hợp
các nội dung vào từng chủ đề, hoạt động phù hợp, lô gic.
* Đối với nhà trường: Chất lượng thực hiện chuyên đề có nhiều chuyển biến mạnh
mẽ, không ngừng được củng cố, nâng cao và duy trì thường xuyên. Góp phần nâng cao
chất lượng giáo dục toàn diện của nhà trường ngày càng vững chắc.
3. KẾT LUẬN, ĐỀ XUẤT
Ngoài ra, nội dung giáo dục nên mở rộng theo hướng đồng tâm, phát triển từ gần
đến xa, từ đơn giản đến phức tạp, gắn với thực tiễn nơi trẻ sống.
Tìm hiểu đặc điểm tâm sinh lý của lứa tuổi từng trẻ để có những phương pháp biện
pháp giáo dục cụ thể. Xác định được nhiệm vụ của mình là đem tình thương, lòng yêu
trẻ bằng trách nhiệm của mình. Tình yêu thương ấy thể hiện ở lòng nhiệt tình say mê
công việc bằng lòng yêu nghề, yêu trẻ, yêu trẻ như chính con mình.
Luôn sáng tạo, sưu tầm tranh ảnh, thơ ca, hò vè để góc tuyên truyền biển, đảo và
thư viện của bé ngày càng phong phú hơn, tôi thay đổi theo từng chủ đề để tạo sự mới lạ
hấp dẫn trẻ.
Phải thường xuyên thực hiện giờ nêu gương hàng ngày
Cô giáo phải thật sự là tấm gương sáng để trẻ noi theo, luôn giàu tình yêu thương,
luôn thận trọng trong mọi hành vi của mình, thân thiện yêu thương để tạo tâm lý thoả
mái cho trẻ thực hiện tốt mọi hành vi cũng như hoạt động giao tiếp, nhằm giúp trẻ từng
bước hình thành nhân cách cho trẻ. Bên cạnh đó môi trường và cảnh quan sư phạm
cũng góp phần hình thành cho trẻ những hành vi văn minh để dần dần hoàn thiện nhân
cách tốt đẹp của truyền thống con người Việt Nam.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Nga Thạch, ngày 10 tháng 4 năm 2018
XÁC NHẬN CỦA
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của mình viết,
THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ
không sao chép nội dung của người khác
Người viết sáng kiến
Phạm Thị Hồng
Hoàng Thị Thanh
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Tài nguyên môi trường biển vấn đề và một số giải pháp - Ths.Nguyễn
mẫu giáo
Một số biện pháp tổ bằng
Cấp đánh
giá xếp loại
(Phòng, Sở,
Tỉnh…)
Kết quả
đánh giá xếp
loại (A,B
hoặc C)
Năm học
đánh giá
xếp loại
PGD&ĐT
C
2009-2010
PGD&ĐT
B
2010-2011
SGD&ĐT
C
2012-2013
PGD&ĐT
A
2012-2013
PGD&ĐT
B
2015-2016