Tiểu luận kỹ năng của luật sư khi chuẩn bị bản luận cứ bào chữa cho bị cáo trong giai đoạn xét xử phúc thẩm vụ án hình sự - Pdf 53

LỜI MỞ ĐẦU……………………………………………………………………….
PHẦN NỘI DUNG…………………………………………………………………
I. Kỹ năng của luật sư khi chuẩn bị bản luận cứ bào chữa cho bị cáo trong giai
đoạn xét xử phúc thẩm vụ án hình sự
1. Nghiên cứu hồ sơ…………………………………………………………………
2. Thu thập thêm tài liệu mới ……………………………………………………..
3. Gặp trao đổi với bị cáo………………………………………………………….
4. Trao đổi đề xuất với Viện kiểm soát, Tòa án…………………………………..
5. Chẩn bị bản bào chữa…………………………………………………………..
II. Kỹ năng của luật sư khi chuẩn bị bản luận cứ bảo vệ cho người bị hại trong giai
đoạn xét xử phúc thẩm vụ án hình sự .
1. Tổng hợp các tài liệu có trong vụ án……………………………………………
2. Chuẩn bị các tài liệu liên quan phục vụ cho việc bảo vệ……………………….
3. Nghiên cứu hồ sơ vụ án………………………………………………………….
4. Xác định phương hướng viết bản bảo vệ……………………………………….
5. Trao đổi với thân chủ……………………………………………………………
6. Chuẩn bị bản bảo bảo vệ ……………………………………………………….
a . Phần mở đầu…………………………………………………………………….
b . Phần nội dung……………………………………………………………………
c. Phần kết luận…………………………………………………………………….
KẾT LUẬN…………………………………………………………………………

1


LỜI MỞ ĐẦU
Trước khi tham gia phiên tòa phúc thẩm vụ án hình sự với tư cách là người tham
gia tố tụng, luật sư phải hoàn tất bản luận cứ bào chữa cho bị cáo hoặc luận cứ bảo vệ
cho bị hại, người có quyền và nghĩa vụ liên quan, đây là một văn bản quan trọng thể hiện
quá trình làm việc nghiêm túc và hiệu quả của luật sư.
Luận cứ bào chữa hay luận cứ bảo vệ là văn bản thể hiện quan điểm của luật sư

chủ…. Phạm vi nghiên cứu hồ sơ cụ thể bao gồm:
a. Yêu cầu kháng cáo, kháng nghị.
b. Tính hợp pháp của bản án sơ thẩm ( Xem xét nội dung và tố tụng).
c. Các tài liệu, chứng cứ chứng minh cho việc kháng cáo.
Do tính chất của giai đoạn xét xử phúc thẩm, luật sư cần tập trung nghiên cứu
những căn cứ chứng minh sự vô tội của bị cáo hoặc những tình tiết giảm nhẹ trách
nhiệm hình sự. Trong quá trình nghiên cứu hồ sơ luật sư cần lưu ý phát hiện những vấn
đề thiếu sót trong đánh giá chứng cứ, vi phạm thủ tục tố tụng… của các giai đoạn tố
tụng trước.
2. Thu thập thêm tài liệu mới
Luật sư cần tìm hiểu bổ sung các tình tiết, các chứng cứ chưa được xem xét trong
bản án sơ thẩm. Tự mình hoặc trao đổi, hướng dẫn đương sự cung cấp các tài liệu mới
để bổ sung xem xét tại phiên tòa phúc thẩm. Việc thu thập và giao nộp thêm chứng cứ,
đồ vật, tài liệu mới luật sư cần bảo đảm tính hợp pháp về mặt hình thức và tính xác thực
tính về mặt nội dung thông qua những cách thức và những biện pháp mà pháp luật
không cấm .
Những tài liệu nói trên cần được sao y bản chính có chứng thực hợp pháp và cần
phải nộp trước khi phiên tòa phúc thẩm được mở.
3. Gặp trao đổi với thân chủ.
Trong quá trình gặp và trao đổi với thân chủ luật sư cần trao đổi để thống nhất
hướng bào chữa và về những hệ quả phát sinh từ phiên tòa phúc thẩm, khi phán quyết
có hiệu lực pháp luật để thân chủ của mình xác định tư tưởng, chuẩn bị cho việc khiếu
nại theo trình tự giám đốc thẩm hoặc chấp nhận bản án . Việc gặp và trao đổi với thân
chủ trước phiên tòa phúc thẩm cần một loạt các công việc , trong đó đòi hỏi luật sư phải
3


mẫn cảm và hiểu thấu đáo về vụ án, có như vậy luật sư mới viết được bản luận cứ tốt để
bào chữa cho thân chủ của mình tại phiên tòa phúc thẩm một cách tốt nhất.
4. Trao đổi đề xuất với Viện kiểm soát, Tòa án.



Thông thường, quan điểm pháp lý được luật sư và thân chủ thống nhất có những
hướng giải quyết và nội dung như sau:
Thứ nhất bào chữa theo hướng chứng minh sự không phạm tội của bị cáo
Luật sư cần phân tích những dấu hiệu cấu thành tội phạm đối với tội mà bị cáo đã
bị kết án trong phiên toà sơ thẩm theo hướng chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm, chỉ cần
chứng minh được một trong bốn yếu tố cấu thành tội phạm trong bản án sơ thẩm là
không có cơ sở, là luật sư đã có thể bảo vệ thành công cho thân chủ.
Để xác định cấu thành tội phạm, luật sư phải xem xét và nghiên cứu nhiều các yếu
tố có liên quan. Những yếu tố cấu thành tội phạm bao gồm :
-

Chủ thể: ở đây phải là con người cụ thể, có năng lực trách niệm hình sự và đạt

đến độ tuổi nhất định và đã thực hiện hành vi phạm tội.
-

Khách thể đó là những quan hệ xã hội bị tộ phạm xâm hại hoặc đe dọa gây thiệt

hại.Bất kỳ tội phạm nào cụng gâ thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho một quan hệ xã
hội nhất định và được luật hình sự bảo vệ, không có sự xâm hại quan hệ xã hội được luật
hình sự bảo vệ thì không có tội phạm.
-

Mặt Chủ quan của tội phạm là những biểu hiện tâm lý bên trong của tôi phạm

gồm: lỗi động cơ mục đích tội phạm.
-


minh là giá trị tài sản bị cáo trộm cắp không đến 2 triệu đồng thông qua việc chứng minh
sự thiếu chính xác của kết luận giám và cũng cần phải chứng minh thân chủ minh chưa
bị phạt vi phạm hành chính hoặc chưa bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản...
Một trong những vấn đề cần quan tâm khi bào chữa cho thân chủ theo hướng không
phạm tội, là luật sư cần tìm ra và chứng minh cơ quan tiến hành tố tụng đã vi phạm
nghiêm trọng thủ tụng tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo. Luật sư cần
bám sát vào những căn cứ quy buộc của án sơ thẩm và kết luận của Viện kiểm sát, phân
tích những điểm mâu thuẫn, không phù hợp, chỉ ra được tính thiếu căn cứ trong việc
giám định, những vì phạm về thủ tục tơ tụng khi thu thập chứng cứ dùng làm căn cứ
buộc tội bị cáo, từ đó đề xuất đường lối giải quyết vụ án theo hướng chấp nhận kháng
cáo của bị cáo, tuyên bị cáo không phạm tội và đình chỉ vụ án theo Điều 251 BLTTHS
năm 2003.
Luật sư cũng cần vận dụng nguyên tắc suy đoán vô tội khi để phản bác bản án sơ
thẩm được tuyên nếu có cơ sở chứng minh việc đánh giá chứng cứ một chiều mang nặng
tính suy diễn của các cơ quan tiến hành tố tụng. Trong một số trường hợp, bị cáo không
phạm tội như án sơ thẩm đã tuyên, nhưng có dấu hiệu phạm vào một tội khác, chẳng hạn
như Nguyễn Thanh H bị án sơ thầm tuyên phạt tội giết người theo khoản 1 điều 93 của
BLHS, nhưng nghiên cứu hồ sơ cho thấy Nguyễn Thanh H phạm tội giết người trong
trạng thái tinh thần bị kích động mạnh theo khoản 1 điều 95 của BLHS. Vậy vấn đề đặt
ra ở đây là trong bản luận cứ bào chữa cho bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm có nên đề nghị
chuyển sang áp dụng tội danh nhẹ hơn, hay chỉ cần đề nghị Tòa phúc thẩm tuyên bị cáo
không phạm tội như án sơ thẩm đã tuyên? Đây là một khía cạnh thuộc về kỹ năng và
nhạy cảm của luật sư, vì vậy cần có sự thống nhất trước với bị cáo để lựa chọn phương
án tối ưu. Tuy nhiên về nguyên tắc, khi đã trình bày trong bản luận cứ theo hướng không
6


phạm tội thì cần giữ nguyên quan điểm đó, mà không cần thiết trình bày chuyển sang tội
danh khác nhẹ hơn nếu như về nhận thức khi kháng cáo, bị cáo chưa được thống nhất và
trao đổi kỹ về trường hợp này. Luật sư cần phải có kỹ năng và có kiến thức pháp luật tốt

chỉ nên tập trung vào các tình tiết làm cơ sở để đề nghị Tòa phúc thẩm giảm nhẹ TNHS
7


cho bị cáo khi bản án sơ thẩm chưa đề cập đến hoặc tuy có đề cập đến nhưng việc áp
dụng trong bản án sơ thẩm chưa thỏa đáng với bị cáo.
Thứ ba, bào chữa theo hướng để xuất Tòa phúc thẩm hủy bản án sơ thẳm để điểu
tra lại hoặc xét xử lại.
Trong bản án sơ thẩm bị kháng cáo hoặc kháng nghị, luật sư phát hiện thấy những sai
phạm nghiêm trọng về thủ tục tố tụng hoặc áp dụng không đúng pháp luật, đánh giá
không toàn diện về chứng cứ hoặc luật sư thu thập được một số chứng cứ tài liệu mới,
cần phải được đánh giá, xem xét lại bản chất vụ án, luật sư cớ thể đề xuất hủy bán án sơ
thẩm để điều tra lại hoặc xét xừ lại. Căn cứ vào điều 250 BLTTHS, việc hủy án sơ thẩm
nêu trên xuất phát từ việc điều tra của cấp sơ thẩm không đầy đủ mà cấp phúc thẩm
không thể bổ sung được. Những trường hợp cụ thể dẫn đến việc hủy án sơ thẩm là:
thành phần HĐXX sơ thầm không đúng luật định hoặc có vi phạm nghiêm trọng về thủ
tụng tố tụng; người được Tòa án cấp sơ thẫm tuyên bố không có tội nhưng có căn cứ
cho rằng người đó đã phạm tội. Luật sư cần lưu ý, nếu trong trường hợp đề xuất hủy án
sơ thẩm để điều tra lại hoặc xét xừ lại thì có thể đề xuất xem xét về tình tranh và thời
hạn tạm giam của bị cáo đề cáp phúc thẩm lưu ý, xem xét. Luật sư cần lưu ý khi trình
bày quan điểm pháp lý theo một trong ba hướng trên, luật sư cần nêu rõ căn cứ pháp lý,
trích dẫn điều luật một cách rõ ràng.
c) Phần đề xuất, kết luận
Phần đề xuất, kết luận chủ yếu đưa ra các kiến nghị cụ thể của luật sư. Ví dụ, nếu đề
nghị tuyên bị cáo không phạm tội, cần đề nghị trả tự do cho bị cáo tại phiên tòa; nếu xin
giảm nhẹ hình phạt hoặc xin hưởng án treo thì cần đề nghị tập trung áp dụng các điều
46, 47 và 60 BLHS; Nếu đề nghị hủy án sơ thẩm, luật sư cần nêu rõ những điểm còn
chưa rõ trong việc quy buộc trách nhiệm hình sự của bị cáo, kiến nghị những điểm cụ
thể liên quan đến việc thu thập hồ sơ, tài liệu, công tác giám định và khắc phục những vi
phạm nghiêm trọng về thủ tục tố tụng.

Nghiên cứu nội dung phạm vi kháng cáo. Nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có
trong hồ sơ vụ án chứng minh cho yêu cầu kháng cáo, kiểm tra tính phù hợp mâu thuận
giữa các chứng cứ có trong hồ sơ. Việc nghiên cứu các tài liệu chứng cứ cần phải gắn với
yêu cầu kháng cáo. Nghiên cứu tính hợp pháp của bản án sơ thẩm ( xem xét nội dung và
tố tụng)
4. Xác định phương hướng viết bản luận cứ bảo vệ
Để xây dựng bản bảo vệ cho người bị hại trong giai đoạn xét xử phúc thẩm thì luật sư
phải xác định phạm vi kháng cáo của bị cáo và thống nhất với thân chủ về hướng bảo vệ.
Lưu ý hướng bảo vệ này phải nằm trong phạm vi kháng cáo. Trường hợp bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp cho bị hại về việc yêu cầu bồi thường thiệt hại thì luật sư có thể định
hướng xác định hành vi phạm tội và trách nhiệm dân sự của bị cáo.
9


Xuất phát từ những trường hợp trên khi tham gia bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho
bị hại ngoài việc thực hiện các quyền theo quy định của pháp luật, luật sư cần phải nhấn
mạnh một số điểm sau:
Nguyên nhân, bối cảnh xảy ra vụ án, tính chất nghiêm trọng cho xã hội và hành vi thực
hiện tội phạm, mối quan hệ giữa bị hại và bị cáo;
Các hậu quả thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài sản do tội phạm gây ra, kèm theo các tài
liệu, chứng cứ, kết quả giám định tổn hại về sức khoẻ do Hội đồng giám định pháp y kết
luận, kết quả giám định thiệt hại về tài sản, giám định tài chính kế toán, những tổn hại về
mặt tinh thần, gia cảnh của bị hại vào thời điểm xét xử sơ thẩm, thái độ của bị cáo trong
việc xử lý mối quan hệ sau khi thực hiện hành vi phạm tội đối với bị hại, từ đó đánh giá
về bản chất hành vi, tư cách và thái độ ăn năn, hối cải, có khả năng phục thiện hay không
của bị cáo;
Trường hợp xáx định hướng bảo vệ là bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại, cần
ưu tiên đề xuất và nêu các căn cứ pháp lý trong việc yêu cầu các mức bồi thường và
trách nhiệm về mặt dân sự đối với bị cáo, đồng thời yêu cầu áp dụng các biện pháp bảo
đảm bồi thường như kê biên tài sản, phong toả tài khoản cá nhân... Yêu cầu về trách

phải bồi thường cho thân chủ.
+ Cáo buộc hành vi phạm tội của bị cáo
Việc cáo buộc bị cáo đòi hỏi bản luận cứ bảo vệ phải chỉ ra được những tình tiết
tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1, điều 48 Bộ luật hình sự, các tình tiết
định khung tăng nặng hơn so với khung mà viện kiểm sát truy tố. Ở vị trí người bảo vệ,
kỹ năng bảo vệ phải được thực hiện ngược lại với vị trí của người bào chữa theo hướng
giảm nhẹ.
Trường hợp do bị cáo và gia đình bị cáo ngay từ khi xảy ra vụ án đã có thái độ
đúng mức xem xét, hỗ trợ cho gia đình bị hại, tìm mọi biện pháp để khắc phục hậu quả
của vụ án, bồi thường một phần hoặc toàn bộ thiệt hại và các tổn thất khác do bị cáo gây
ra, tự nhận thức được hành vi phạm tội, có thái độ, ăn năn, hối cải, có thể đề xuất giảm
nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, giảm mức bồi thường thiệt hại còn lại, lui lại tiến độ
thanh toán, bồi thường cho phù hợp với hoàn cảnh kinh tế, sinh hoạt của bị cáo…
Tuy nhiên , trong quá trình phát biểu quan điểm khi bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp cho người bị hại, luật sư cần hiểu mặc dù các yêu cầu tăng nặng, giảm nhẹ về trách
nhiệm hình sự và về bồi thường thiệt hại có nhiều điểm trùng hợp, thậm chí nhất trí tán
đồng với quan điểm của kiểm sát viên, nhưng xét về bản chất nghề nghiệp vẫn có những
khác biệt nhất định giữa tư cách kiểm sát viên và luật sư. Vì vậy, ngôn ngữ, văn phong
cần chừng mực, sự quan tâm đến số phận của bị hại không nên dùng những từ ngữ mạnh,
chỉ trích, mạt sát, xúc phạm danh dự nhân phẩm của bị cáo. Cần chủ yếu phân tích, đánh
giá các chứng cứ có ý nghĩa xác định hành vi phạm tội và liên quan đến trách nhiệm dân
sự của bị cáo, khéo léo trong vai trò cào buộc bị cáo của một luật sư để tránh đồng nhất
11


mình với vài trò của Kiểm sát viên còn quyền quyết định tội danh và hình phạt là thuộc
về Hội đồng xét xử.
+ Kháng cáo chuyển tội danh sang tội khác nặng hơn.
Khi chuẩn bị bản luận cứ để bảo vệ cho bị hại theo hướng kiến nghị tòa phúc
thẩm sửa án sơ thẩm chuyển sang tội danh nặng hơn thì luật sư cần căn cứ vào các dấu

có) và các chi phí cho việc lắp chân giả, tay giả, mắt giả, mua xe lăn, xe đẩy, nạng chống
và khắc phục thẩm mỹ… để hỗ trợ hoặc thay thế một phần chức năng của cơ thể bị mất
hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại (nếu có).
Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại. Nếu trước khi sức
khỏe bị xâm phạm người bị thiệt hại có thu nhập thực tế, nhưng do sức khỏe bị xâm
phạm họ phải đi điều trị và do đó khoản thu nhập thực tế của họ bị mất hoặc bị giảm sút,
thì họ được bồi thường khoản thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút đó; Chi phí hợp
lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian
điều trị;
Trong trường hợp sau khi điều trị, người bị thiệt hại mất khả năng lao động và
cần có người thường xuyên chăm sóc (người bị thiệt hại không còn khả năng lao động do
bị liệt cột sống, mù hai mắt, liệt hai chi, bị tâm thần nặng và các trường hợp khác do cơ
quan nhà nước có thẩm quyền quy định bị suy giảm khả năng lao động vĩnh viễn từ 81%
trở lên) thì phải bồi thường chi phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại. Khoản
chi phí bù đắp tổn thất về tinh thần do sức khỏe bị xâm phạm.
+ Thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm
Luật sư cần phải lưu ý những chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng chăm
sóc người bị thiệt hại trước khi chết; Chi phí hợp lý cho việc mai táng bao gồm: các
khoản tiền mua quan tài, các vật dụng cần thiết cho việc khâm liệm, khăn tang, hương,
nến, hoa, thuê xe tang và các khoản chi khác phục vụ cho việc chôn cất hoặc hỏa táng
nạn nhân theo thông lệ chung. Không chấp nhận yêu cầu bồi thường chi phí cúng tế, lễ
bái, ăn uống, xây mộ, bốc mộ...Những khoản tiền cấp dưỡng cho những người mà người
bị thiệt hại có nghĩa vụ cấp dưỡng trước khi chết; Khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần
do tính mạng bị xâm phạm.
+ Thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm
Thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm gồm có thiệt hại do danh
dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân bị xâm phạm bao gồm những chi phí hợp lý để hạn
chế, khắc phục thiệt hại; thu nhập thực tế bị giảm sút; Bù đắp tổn thất về tinh thần do
danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm hại.
- Viết bản luận cứ bảo vệ người bị hại khi người bị hại kháng cáo Tòa án

chuẩn bị cho mình những hoạt động và kỹ năng cần thiết để bảo vệ tốt nhất
quyền và lợi ích hợp pháp cho thân chủ của mình./.

14




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status