TƯ TƯỞNG hồ CHÍ MINH về TRÍ THỨC với VIỆC xây DỰNG và PHÁT TRIỂN đội NGŨ TRÍ THỨC VIỆT NAM TRONG THỜI kỳ đổi mới tt - Pdf 53

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN


NGUYỄN ĐÌNH NINH

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ TRÍ THỨC
VỚI VIỆC XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN
ĐỘI NGŨ TRÍ THỨC VIỆT NAM
TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI

Chuyên ngành: TRIẾT HỌC
Mã số: 62.22.03.01

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – 2018


Luận án được hoàn thành tại:
ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Cán bộ hướng dẫn khoa học:
PGS.TS. TRỊNH DOÃN CHÍNH

Chủ tịch hội đồng:
Phản biện 1:
Phản biện 2:
Phản biện 3:


PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong lịch sử xã hội loài ngƣời, cùng với các lực lƣợng và yếu tố khác của
xã hội thì đội ngũ trí thức và các tri thức khoa học là một bộ phận hữu cơ của tiến
trình lịch sử, đồng thời là động lực góp phần thúc đẩy xã hội phát triển. Trong đó,
trí thức có vai trò đặc biệt quan trọng.
Thực tiễn trong suốt chiều dài lịch sử của dân tộc, đất nƣớc và con ngƣời
Việt Nam luôn có truyền thống hiếu học, thông minh, cần cù và sáng tạo không
ngừng vƣơn lên để đạt những tầm cao trí tuệ, góp phần thúc đẩy phát triển văn
minh dân tộc và nhân loại. Quan tâm, chăm lo, đào tạo và bồi dƣỡng nhân tài luôn
đƣợc chính quyền các thời đại lịch sử coi là một trong những quốc sách hàng đầu.
Câu nói nổi tiếng “Hiền tài là nguyên khí quốc gia….”1 của Thân Nhân Trung đã
đi vào lịch sử và trở thành một triết lý đặc sắc của dân tộc Việt Nam. Sự ra đời của
Quốc tử giám (trƣờng Đại học đầu tiên khu vực Đông Nam Á) của Việt Nam từ
thế kỷ XI vừa là sự khẳng định, đồng thời là sự cụ thể quan điểm coi đào tạo con
ngƣời, nâng cao dân trí là quốc sách hàng đầu. Bắt đầu từ đây, trải qua các triều
đại Lý, Trần, Lê, Mạc, Nguyễn… lần lƣợt các tên tuổi lớn gắn với lịch sử Việt
Nam xuất hiện. Những nhà trí thức lớn, tên tuổi và đóng góp của họ trên các lĩnh
vực đã vƣợt qua giới hạn của không gian và thời gian, là những minh chứng sinh
động cho cho vai trò của trí thức qua các thời đại lịch sử dân tộc.
Trong thời đại Hồ Chí Minh, truyền thống hiếu học, tôn sƣ trọng đạo, trọng
dụng nhân tài tiếp tục đƣợc phát huy mà Hồ Chí Minh là biểu hiện sâu sắc nhất,
sinh động nhất cả về mặt tƣ tƣởng và vận dụng thực tiễn. Trong hệ thống tƣ tƣởng
của Ngƣời, quan điểm về quan tâm, chăm lo và trọng dụng nhân tài đã góp phần
làm cho cách mạng Việt Nam có những bƣớc tiến lớn trên tất cả các lĩnh vực
chính trị, quân sự, văn hóa, kinh tế xã hội.
Bƣớc vào thời kỳ đổi mới, tƣ tƣởng của Ngƣời về trí thức và vai trò của trí
thức tiếp tục đƣợc phát triển và đƣợc cụ thể bằng các đƣờng lối, chủ chƣơng của
đảng, chính sách và pháp luật của nhà nƣớc. Đặc biệt là sự ra đời của Nghị quyết
Trung ƣơng VII (khóa X), đây là một trong những quyết sách lớn của Đảng và nhà

Minh về trí thức và vấn đề xây dựng đội ngũ trí thức trong thời kỳ đổi mới ở
các chủ đề sau: Chủ đề thứ nhất, đó là các công trình, các tài liệu trong và
ngoài nước nghiên cứu, trình bày những vấn đề lý luận chung về trí thức và vai
trò của trí thức. Về chủ đề này, có các tác phẩm C.Mác và Ph.Ănghen Toàn tập
của Nhà xuất bản Sự Thật - Hà Nội; Trí thức Nga của nhiều tác giả, Nxb. Tri
Thức, Hà Nội, 2009 do La Thành – Phạm Nguyên Trƣờng dịch; Nhận diện quyền
lực của Noam Chomsky, Nxb. Tri thức, Hà Nội, 2012; Thân Nhân Trung “Hiền
tài là nguyên khí quốc gia” của Hội khoa học lịch sử Việt Nam, Nxb. Chính trị
quốc gia, Hà Nội, 2013; Trí thức Việt Nam thời xưa của GS Vũ khiêu, Nxb. Thuận
Hóa, Huế, 2014; Khuyến tài của Phạm Tất Dong, Nxb. Dân trí, Hà Nội, 2013; Ba
thế hệ trí thức người Việt (1862 - 1954) của GS. Trịnh Văn Thảo, Nxb. Thế giới, Hà
Nội, 2013; Quyền lực tri thức trong tư tưởng chính trị của Alvin Toffler do TS. Ông
Văn Năm chủ biên, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2013; Luận ngữ với
cuộc sống hiện đại của Khổng tử, Nxb. Thanh Niên, Hà Nội, Hà Nội, 2012 do
Dƣơng Minh Hào dịch; Từ điển Triết học, Nxb. Tiến bộ Mátxcơva (bản dịch ra
tiếng Việt của Nxb.Tiến bộ và Nxb Sự thật), 1986; Nhân tài nguồn tài nguyên số 1
của Triệu Vĩnh Hiền, Trƣơng Hạo Đàm, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2013;
Một số vấn đề về triết học - con người - xã hội của GS.TS. Nguyễn Trọng Chuẩn,


3

Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 2002; …..
Chủ đề thứ hai, đó là các công trình, các tác phẩm nghiên cứu tư tưởng
Hồ Chí Minh về trí thức. Về chủ đề này, có các tác phẩm Xây dựng đội ngũ trí
thức thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo tư tưởng Hồ Chí Minh
của Học viện chính trị - Hành chính quốc giam, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội,
2012; Trí thức hóa công nhân Việt Nam trong hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay
của TS. Bùi Thị Kim Hậu, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2012; Tư
tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục và vận dụng vào đào tạo đại học hiện nay của

truyền thống trọng dụng trí thức của dân tộc Việt Nam và những quan điểm về trí
thức của nhân loại. Hai là, trình bày, làm rõ những nội dung chủ yếu và đặc điểm cơ
bản của tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về trí thức. Ba là, trình bày, phân tích, chỉ ra thực
trạng xây dựng, phát triển đội ngũ trí trong thời gian qua, từ đó đề xuất những
phƣơng hƣớng và giải pháp nhằm vận dụng tốt tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về trí thức
vào xây dựng, phát triển đội ngũ trí thức Việt Nam trong thời kỳ đổi mới.
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của luận án
Luận án tập trung nghiên cứu nội dung tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về trí thức và
sự vận dung của Đảng ta trong xây dựng, phát triển đội ngũ trí thức Việt Nam trong
thời kỳ đổi mới (chủ yếu từ Đại hội Đại biểu toàn quốc lần VI năm 1986 đến nay).
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu:
Luận án đƣợc thực hiện dựa trên cơ sở thế giới quan và phƣơng pháp luận
triết học mác - xít; đồng thởi luận án cón sử dụng tổng hợp các phƣơng pháp nghiên
cứu nhƣ: phân tích và tổng hợp, quy nạp và diễn dịch, đối chiếu so sánh, phƣơng
pháp thống kê. Luận án đƣợc tiếp cận dƣới góc độ triết học văn hóa và giá trị học.
6. Cái mới của luận án
Một là, luận án đã góp phần hệ thống hóa và làm rõ hơn nội dung và ý nghĩa,
giá trị lịch sử của tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về trí thức, cũng nhƣ sự cần thiết phải tiếp
tục vận dụng vào thực tiễn ở Việt Nam hiện nay. Hai là, qua phân tích thực trạng và
những vấn đề đặt ra đối với việc xây dựng, phát triển đội ngũ trí thức trong thời kỷ
đổi mới, những phƣơng hƣớng, giải pháp mà luận án đề xuất nhằm tiếp tục xây
dựng và phát triển đội ngũ trí thức theo tƣ tƣởng Hồ Chí Minh có ý nghĩa thực tiễn,
thiết thực với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam hiện nay.
7. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
Về ý nghĩa khoa học: Luận án đã góp phần hệ thống hóa và làm rõ các nội
dung cơ bản trong quan điểm của Hồ Chí Minh về trí thức, từ khái niệm đến quan
điểm về vị trí, vai trò, nhiệm vụ của trí thức cho tới nhiệm vụ đào tạo, xây dựng,
phát huy và phát triển trí thức. Trên cơ sở đó vận dụng tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về
trí thức vào quá trình xây dựng và phát triển đội ngũ trí thức Việt Nam trong thời
kỳ đổi mới.

cũng nhƣ vật chất của nhân loại, từ trƣớc tới nay, trên thế giới và trong nƣớc có
nhiều định nghĩa, cách hiểu khác nhau về trí thức. Các định nghĩa và cách hiểu đó
thƣờng đƣợc bổ xung và phát triển tùy theo từng thời kỳ lịch sử, lĩnh vực nghiên
cứu, đặc điểm phát triển của từng quốc gia, dân tộc.
Những cách hiểu và định nghĩa về trí thức nhƣ trên cho thấy một quan niệm
thống nhất: trí thức là ngƣời có tri thức, có nhân cách, biết suy nghĩ khác biệt và
độc lập trƣớc các vấn đề xã hội dƣới ánh sáng của tri thức. Trí thức chỉ truy cầu
một mục đích: chân lý, để từ đó chuẩn bị cho mình một thế đứng riêng và trong
trƣờng hợp cần thiết, sẵn sàng dấn thân nhằm bảo vệ các giá trị thuộc về chân lý
và truyền thống nhân bản của cộng đồng. Từ vị thế này, trí thức mới có thể tác
động và ảnh hƣởng đến sự phát triển và tồn vong của xã hội và quốc gia.
Từ các cách hiểu trên, có thể khái quát: trí thức là một tầng lớp xã hội đặc
biệt, có trình độ học vấn cao, trình độ chuyên môn sâu, có đạo đức, lao động trí
2

La Thành – Phạm Nguyên Trường dịch, Về trí thức Nga, Nxb. Tri thức, Hà Nội, 2009, Tr. 279.


6

tuệ - sáng tạo khoa học, nghiên cứu, ứng dụng và phổ biến tri thức khoa học trong
hoạt động thực tiễn, có tinh thần dấn thân góp phần quan trọng trong việc thúc
đẩy phát triển mọi mặt của đời sống xã hội.
Từ đó, có thể thấy, trí thức có một số đặc điểm là: trí thức là một tầng lớp
đặc biệt, xuất thân từ nhiều giai cấp, thành phần xã hội khác nhau; trí thức là
những ngƣời lao động trí óc, có trình độ học vấn cao, chuyên môn sâu, hiểu biết
rộng và nhân cách tiêu biểu; trí thức là những ngƣời lao động trí óc sáng tạo ra các
giá trị tinh thần và vật chất không chỉ phục vụ cho giai cấp cầm quyền mà còn
phục vụ cho toàn xã hội; trí thức là sản phẩm của tự do và dân chủ, tự do là một
đặc tính của trí thức.


Về đặc trƣng: trí thức là những ngƣời lao động trí óc phức tạp; là một tầng
lớp xã hội đặc thù, có tính độc lập tƣơng đối cao.
Về vị trí, nhiệm vụ của trí thức: trí thức là lực lƣợng quan trọng trong sự
nghiệp cách mạng do giai cấp công nhân lãnh đạo. Với tính cách là những ngƣời
lao động trí óc, họ là những nhà khoa học, các nhà nghiên cứu, nhà giáo dục, nhà
văn, nhà thơ, luật sƣ, bác sĩ… có nhiệm vụ ngày càng lớn trong xã hội công
nghiệp phát triển.
Vai trò của trí thức: trí thức có những đóng góp to lớn trong nghiên cứu lý
luận, tổng kết thực tiễn, xây dựng hệ tƣ tƣởng chính trị của giai cấp công nhân; trí
thức có vai trò quan trọng trong lãnh đạo và quản lý nhà nƣớc; trí thức có vai trò
nâng cao dân trí, phát triển khoa học kỹ thuật phục vụ xã hội.
Về xây dựng đội ngũ trí thức: cải tạo trí thức cũ, chuyên gia tƣ sản; sử dụng trí
thức, chuyên gia tƣ sản; chú trọng việc đào tạo tầng lớp trí thức mới từ công nông.
Ngày nay, khi thế giới bƣớc vào nền kinh tế tri thức, sự thay đổi diễn ra từng
ngày thì tƣ tƣởng của V.I.Lênin không hề cũ đi mà lại đƣợc thực tiễn lịch sử minh
chứng. Trƣớc thềm của thế kỷ XXI, khi mà tri thức khoa học trở thành một trong
những đông lực thúc đẩy lịch sử, bất cứ nƣớc nào coi nhẹ tri thức, học vấn, trí tuệ
sẽ không tránh khỏi nguy cơ tụt hậu.
1.2. NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG, ẢNH HƢỞNG ĐẾN SỰ HÌNH
THÀNH TƢ TƢỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ TRÍ THỨC
1.2.1. Quá trình hoạt động thực tiễn cách mạng với sự hình thành tư
tưởng Hồ Chí Minh về trí thức
Có thể nói, quá trình hình thành tƣ tƣởng của Ngƣời vế trí thức luôn gắn liền
với quá trình hoạt động thực tiễn cách mạng của Hồ Chí Minh qua từng giai đoạn.
Vì thế, có thể khái quát quá trình hình thành tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về trí thức
thành các giai đoạn chính: giai đoạn từ năm 1911 đến năm 1930; giai đoạn từ năm
1930 đến năm 1945; giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1954; giai đoạn từ năm 1954
đến năm 1969, trong đó:
Giai đoạn từ năm 1911 đến năm 1930, là giai đoạn Hồ Chí Minh hình

thống văn hóa, trọng trí thức, trọng hiền tài của dân tộc Việt Nam mà còn ảnh
hưởng, tiếp thu các giá trị và tinh hoa văn hóa nhân loại: Hồ Chí Minh tiếp thu
có chọn lọc tƣ tƣởng văn hóa Đông - Tây để phục vụ sự nghiệp cách mạng,
Ngƣời nhiều lần nhắc lại lời của Lênin: “Chỉ có những ngƣời cách mạng chân
chính mới thu hái đƣợc những hiểu biết quý báu của các đời trƣớc để lại”[3,
tr.23]. Đối với văn hóa phƣơng Đông, Ngƣời biết chắt lọc những gì tinh túy nhất
trong các học thuyết triết học, hoặc trong tƣ tƣởng các bậc tiền nhân. Đối với các
giá trị tinh hoa văn hóa phƣơng Tây, có thể thấy từ sự ảnh hƣởng tƣ tƣởng của
các cuộc đại cách mạng Pháp, Mỹ “tự do, bình đẳng, bác ái” trong tƣ tƣởng trí
thức của Ngƣời. …
Đặc biệt, tư tưởng Hồ Chí Minh về trí thức còn được phát triển về chất,
trên cơ sở thế giới quan và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin: Trong
kho tàng lý luận cách mạng, Hồ Chí Minh đã chắt lọc, hấp thụ và vận dụng sáng
tạo những giá trị quan điểm về con ngƣời mới có ý thức và đạo đức, có trình độ
văn hóa và khoa học tiên tiến, có kỹ năng lao động cần thiết, có óc thẩm mỹ, có
sức khỏe tốt… từ những nghiên cứu về con ngƣời của C.Mác và Ph.Ăng-ghen và
V.I.Lenin để lại. Từ thực tiễn những năm bôn ba tìm đƣờng cứu nƣớc, đến khi


9

tiếp cận tƣ tƣởng chủ nghĩa Mác - Lênin và Cách mạng Tháng Mƣời Nga, hơn ai
hết, Ngƣời hiểu rõ đặc điểm và yêu cầu của cách mạng Việt Nam; do đó, Ngƣời
đã nhanh chóng tìm mọi cách để trở về mở các lớp huấn luyện, truyền bá tƣ
tƣởng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin vào một bộ phận trí thức cách mạng yêu
nƣớc. Bắt đầu từ việc cần thiết phải tạo ra đƣợc đội ngũ cán bộ chính trị, quân sự
có trình độ, phƣơng pháp cách mạng, ý thức tổ chức, kỷ luật, công tác tổ chức,
quản lý mang bản chất tiến bộ của giai cấp công nhân…theo quan điểm của chủ
nghĩa Mác - Lênin, đến tuyên truyền chủ nghĩa Mác - Lênin nhằm nâng cao giác
ngộ quần chúng trong đấu tranh cách mạng và thành lập Đảng cộng sản, giáo

Chương 2
NỘI DUNG VÀ ĐẶC ĐIỂM
CỦA TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ TRÍ THỨC
2.1. NHỮNG NỘI DUNG CHỦ YẾU TRONG TƢ TƢỞNG HỒ CHÍ
MINH VỀ TRÍ THỨC
2.1.1. Tư tưởng Hồ Chí Minh về trí thức và đặc điểm trí thức
Qua những bài nói, bài viết trong nhiều tác phẩm khác nhau thể hiện những
quan điểm sâu sắc của Ngƣời về trí thức, có ý nghĩa to lớn cả về lý luận và thực
tiễn. Trong đó, những vấn đề nhƣ trí thức là gì, đặc điểm và vai trò của trí thức với
xã hội, vấn đề giáo dục, đào tạo và sử dụng, phát huy đội ngũ trí thức nhƣ thế
nào?..., là những nội dung quan trọng trong tƣ tƣởng Hồ Chí Minh.
Trước hết là khái niệm về trí thức trong tư tưởng Hồ Chí Minh.
Theo quan điểm của Hồ Chí Minh, trí thức là khái niệm để chỉ những
ngƣời có đầy đủ những phẩm chất nhƣ: một là, trí thức là ngƣời có hiểu biết và
học vấn cao; hai là, trí thức là những ngƣời biết áp dụng những tri thức, hiểu
biết vào thực tế và ba là, trí thức là những ngƣời có tài, có đức, biết đem tri
thức, hiểu biết phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc, là những ngƣời “có thể làm
đƣợc những việc ích nƣớc, lợi dân”4. Đây vừa là tiêu chuẩn, vừa là những yêu
cầu cần và đủ của ngƣời trí thức cách mạng theo tƣ tƣởng của Hồ Chí Minh. Từ
những phân tích trên, theo tƣ tƣởng Hồ Chí Minh, có thể định nghĩa: trí thức là
những người lao động trí óc, có trình độ học vấn cao, hiểu biết rộng, đạo đức
và nhân cách tốt, có tinh thần cống hiến, phục vụ nhân dân, phục vụ đất nước,
phục vụ xã hội.
Quan điểm về lực lượng hay đội ngũ trí thức trong tư tưởng Hồ Chí Minh.
Cùng với quan điểm về trí thức, trong tƣ tƣởng của mình, Hồ Chí Minh còn
đƣa ra quan điểm về lực lƣợng hay đội ngũ trí thức.
Theo Hồ Chí Minh, trí thức chỉ là một tầng lớp, giới có phƣơng thức lao
động đặc biệt trong xã hội chứ chƣa phải là một giai cấp. Họ là những ngƣời lao
động sáng tạo ra của cải vật chất và tinh thần, góp phần quan trọng vào cải tạo,
xây dựng và phát triển xã hội bằng lao động trí óc. Nhƣ vậy, trong tƣ tƣởng Hồ

trọng trong liên minh cách mạng công - nông - trí.
2.1.3. Tư tưởng Hồ Chí Minh về đào tạo và sử dụng trí thức
Trước hết là tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác đào tạo, bồi dưỡng trí
thức. Bồi dƣỡng nhân tài, trí thức cho đất nƣớc, rèn luyện các thế hệ cách mạng
luôn là mối quan tâm hàng đầu của Hồ Chí Minh. Do đó, có thể nói, một trong
những nội dung nổi bật trong tƣ tƣởng của Hồ Chí Minh về trí thức, đó là công tác
đào tạo, bồi dƣỡng trí thức. Tƣ tƣởng của Ngƣời về đào tạo, bồi dƣỡng trí thức luôn
thể hiện phong phú, sâu sắc, thiết thực và sinh động, thể hiện trên các nội dung:
Mục đích đào tạo, bồi dưỡng trí thức: Trước hết, là để tạo ra một lớp cán
bộ trí thức có trình độ cao, chuyên môn nghiệp vụ giỏi, có khả năng lãnh đạo,
những ngƣời thực sự có tài và có đức, có tinh thần vì nƣớc vì dân cho Đảng.
Thứ hai, Hồ Chí Minh muốn tạo ra những con ngƣời mới, những trí thức mới
từ công nông, trí thức cũ để họ góp phần tạo ra một nền văn hóa mới, xã hội

5

Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 15, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr. 617.


12

mới. Thứ ba, đào tạo, bồi dƣỡng trí thức để nâng cao dân trí, bồi dƣỡng nhân
tài cho đất nƣớc.
Về nội dung đào tạo, bồi dưỡng trí thức: Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, giáo
dục, bồi dƣỡng trí thức phải đáp ứng yêu cầu của sự phát triển xã hội, trong đó có
sự nghiệp cách mạng. Giáo dục phải bao gồm cả đức dục, trí dục, mỹ dục, kỹ
thuật tổng hợp. Phải kết hợp chặt chẽ văn hóa, khoa học kỹ thuật với chính trị.
Sản phẩm tạo ra từ nền giáo dục đó là những con ngƣời vừa “hồng”, vừa
“chuyên”, những con ngƣời có đầy đủ cả đức và tài. Với quan niệm về xây dựng
con ngƣời mới, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm đến việc nâng cao trình độ

13

đúng tài của họ thì cũng không đƣợc việc. Bốn là, phải khéo trong sử dụng trí
thức, trọng dụng nhân tài. Theo Ngƣời, đây vừa là vấn đề lý luận, vừa là vấn đề
thực tiễn, vừa là vấn đề khoa học, vừa là vấn đề nhạy cảm, là vấn đề khó từ xƣa.
Trƣớc và trong khi dùng, bao giờ ngƣời cũng đánh giá đúng về họ. Phải dùng
ngƣời cho đúng chỗ, đúng việc. Năm là, phải phân phối hợp lý, bố trí hợp lý trí
thức, nhân tài ở các cấp. Và điều quan trọng là dù phân công công tác ở đâu, trí
thức nhân tài phải khăng khít với dân, có phẩm chất tốt, có sáng kiến, tinh thần
và chí khí vững vàng, nhãn quan chính trị sáng suốt, không đố kỵ với những
ngƣời tài đức khác. Sáu là, phải luôn luôn dùng lòng nhân ái giúp cán bộ, nhân
sĩ, trí thức, động viên những ngƣời tài đức để họ phấn khởi hoàn thành công việc
đƣợc giao. Khen ngợi khi họ làm đƣợc việc, thành tâm giúp họ sữa chữa sai lầm
và kiểm tra công việc của họ. Nếu không, sẽ dẫn tới tình trạng buông lỏng quản
lý cán bộ. Bảy là, phải giữ gìn, bảo vệ ngƣời tài đức, không để cho những phần
tử cơ hội tranh chỗ của họ, hất họ đi để cho mình hoặc ngƣời thân thay thế.
Bên cạnh đó, để tập hợp và phát huy vai trò của trí thức, Ngƣời đặt ra các
yêu cầu đối với Đảng, chính quyền các cấp phải biết lựa chọn những ngƣời tài đức
để động viên, bồi dƣỡng và sử dụng, trọng dụng họ.
Trước hết, phải lựa chọn những ngƣời có khả năng, có nhân cách, hăng hái
và nhiệt tình với công việc, với sự nghiệp nghiên cứu khoa học, những ngƣời có
mối quan hệ tốt với nhân dân, “luôn luôn chú ý đến lợi ích của dân chúng”7, và
“những ngƣời có thể phụ trách giải quyết các vấn đề, trong những hoàn cảnh khó
khăn”8. Muốn lựa chọn tốt, phải biết đánh giá đúng con ngƣời. Đánh giá đúng cán
bộ, đánh giá đúng những ngƣời tài đức là một yếu tố quan trọng trong lựa chọn.
Mặt khác, Chủ tịch Hồ Chí Minh đòi hỏi Đảng và Nhà nƣớc phải có chính sách
cụ thể sử dụng trí thức, trọng dụng nhân tài. Hơn nữa, Hồ Chí Minh yêu cầu các
cấp lãnh đạo phải có thái độ đối xử tốt với trí thức, nhân tài. Ngƣời căn dặn những
ngƣời làm lãnh đạo đừng để cho ngƣời trí thức phải bất mãn, Ngƣời nói: “Một
ngƣời mà trong óc đã có uất ức, bất mãn, thì lời hay, lẽ phải khó lọt vào bộ óc đó.

trƣớc thiên hạ, vui sau thiên hạ”; tinh thần cao thƣợng, trọng nghĩa khinh tài; tinh
thần cống hiến vì khoa học, vì chân lý và sự tiến bộ của xã hội. Trong quan điểm
trí thức cách mạng của Hồ Chí Minh, đây cũng chính là những đặc điểm nổi bật
mà Ngƣời thƣờng xuyên yêu cầu đối với trí thức và tích cực bồi dƣỡng, đào tạo
cac thế hệ trí thức trong sự nghiệp cách mạng.
Tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về trí thức là kết quả của sự bổ sung, đổi mới và
phát triển các quan điểm về trí thức qua nhãn quan và tƣ duy Hồ Chí Minh.
Trong đó, những quan điểm có vai trò cơ sở quan trọng cho tƣ tƣởng Hồ Chí
Minh về trí thức đó là truyền thống của dân tộc và chủ nghĩa Mác - Lênin.
Trước hết, có thể thấy rất nhiều nội dung đã đƣợc Ngƣời phát triển từ những
giá trị truyền thống vào điều kiện mới với tinh thần chủ động và sáng tạo. Tiêu
biểu có thể thấy nhƣ từ mệnh đề “trung quân ái quốc” của kẻ sĩ xƣa, đã đƣợc Hồ
Chí Minh phát triển thành trung với nƣớc, hiều với dân của ngƣời trí thức cách
mạng. Khi đề cập đến thái độ, trách nhiệm của ngƣời trí thức, từ những phẩm
chất cao thƣợng của Ngƣời trí thức Việt Nam xƣa, theo Hồ Chí Minh, trong
điều kiện xã hội mới, trí thức không chỉ có “đầu óc dân tộc và đầu óc cách
mạng” mà còn phải “kiên quyết” và “phải hòa vào với dân tộc” trong sự nghiệp
cách mạng giải phóng dân tộc, giải phóng con ngƣời… Đặc biệt, Hồ Chí Minh
đã phát triển một cách sáng tạo quan điểm về trí thức của chủ nghĩa Mác Lênin vào điều kiện cụ thể Việt Nam - một nƣớc vốn là thuộc địa, nửa phong
10

Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 5, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr. 297.


15

kiến, kinh tế kém phát triển và dân trí thấp bằng việc định ra những mô thức và
phẩm chất, năng lực của ngƣời trí thức phù hợp với từng giai đoạn phát triển
của đất nƣớc. Hơn nữa, Ngƣời còn vạch ra những phẩm chất, năng lực cần có
của mỗi giới, mỗi lứa tuổi để định hƣớng quá trình phát triển trí thức Việt Nam.

có giá trị định hƣớng cao, đƣợc Hồ Chí Minh diễn đạt dản dị nhƣng súc tích nhƣ
những châm ngôn.


16

Tính cách mạng trong tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về trí thức thể hiện vai trò to
lớn của nó đối với sự nghiệp bồi dƣỡng, đào tạo trí thức mới phục vụ cho cách
mạng Việt Nam. Đó trƣớc hết chính là sự đắc dụng đối với cải tạo trí thức cũ, xây
dựng trí thức mới với những phẩm chất vừa đáp ứng yêu cầu thực tiễn cách mạng,
vừa tuân theo xu thế phát triển tƣ tƣởng của thời đại. Hơn nữa, tƣ tƣởng Hồ Chí
Minh về trí thức hƣớng đến mục tiêu cuối cùng là cải tạo xã hội, là thực hiện thắng
lợi sự nghiệp cách mạng của dân tộc.
2.2.4. Tính nhân văn trong tư tưởng của Hồ Chí Minh về trí thức
Trƣớc hết, tính nhân văn trong tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về trí thức thể hiện ở
sự thấu hiểu chân giá trị của trí thức và đề cao đúng mực vị trí, vai trò của trí thức
trong xã hội, đặc biệt là vai trò của trí thức đối vời sự nghiệp cách mạng.
Thứ hai, tính nhân văn trong tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về trí thức thể hiện ở sự
quan tâm chu đáo, toàn diện đối với trí thức.
Thứ ba, tính nhân văn trong tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về trí thức còn đƣợc thể
hiện ở việc sử dụng, phát huy trí thức một cách hiệu quả, hợp lý vào nhiệm vụ
phục vụ cách mạng.
Tính nhân văn trong tƣ tƣờng Hồ Chí Minh về trí thức trở thành nhân tố
quan trọng góp phần làm sâu sắc hệ thông tƣ tƣởng cách mạng của Hồ Chí Minh,
trở thành nền tảng tƣ tƣởng, kim chỉ nam đối với Đảng và Nhà nƣớc trong đào tạo,
phát triển trí thức phục vụ đất nƣớc, phục vụ dân tộc. Đặc biệt là đối với sự nghiệp
xây dựng, phát triển đội ngũ trí thức Việt Nam trong thời kỳ đổi mới.
Kết luận chương 2
Trƣớc yêu cầu của thực tiễn cách mạng, với lòng yêu nƣớc nồng nàn, phẩm
chất trí tuệ, nhãn quan chính trị sắc xảo và bằng thực tiễn hoạt động xã hội phong

ĐỔI MỚI
3.1.1. Khái quát quá trình đổi mới ở Việt Nam
Quá trình đổi mới ở Việt Nam bắt đầu diễn ra từ Đại hội Đảng VI (tháng
12/1986), khi Đại hội chính thức đưa ra Đường lối đổi mới toàn diện đất nước.
Đây là kết quả của của một quá trình hình thành đƣờng lối mà trƣớc đó đã có
những bƣớc đột phá cục bộ về đổi mới tƣ duy kinh tế. Qua các kỳ Đại hội VII,
VIII, IX, X, XI và đến Đại hội XII (tháng 1/2016), trên cơ sở tổng kết, đánhgiá
thành tựu sau 30 năm đổi mới, Nghị quyết Đại hội XII khẳng định: “Những thành
tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử qua 30 năm đổi mới khẳng định đƣờng lối đổi mới
của Đảng ta là đúng đắn, sáng tạo”12.
Nhƣ vậy, quá trình hình thành tƣ duy mới về chủ nghĩa xã hội và con đƣờng
đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam không ngừng đƣợc phát triển qua các kỳ Đại
hội Đảng. Kết quả là, tƣ duy đổi mới về cơ bản đã đƣợc hình thành và đƣợc thể
hiện sinh động trong các lĩnh vực của đời sống xã hội, ngày càng khẳng định tính
đúng đắn quan điểm và sự nghiệp đổi mới của Đảng ta trên con đƣờng xây dựng
11
12

Bảo tàng Hồ Chí Minh, Hồ Chí Minh tiểu sử, Nxb. Chính trị quốc gia - sự thật, Hà Nội, 2008, tr. 81.

Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb. Chính trị quốc
gia, Hà Nội, 2016, tr. 427.


18

đất nƣớc và bảo vệ lý luận chủ nghĩa Mác – Lênin, tƣ tƣởng Hồ Chí Minh.
3.1.2. Thực trạng xây dựng và phát triển đội ngũ trí thức trong sự
nghiệp đổi mới ở Việt Nam hiện nay
Trƣớc hết là những thành tựu đạt đƣợc trong xây dựng đội ngũ trí thức thời

Trên cơ sở thực trạng những thành tựu đạt đƣợc cùng với những hạn chế,
nguyên nhân hạn chế trong xây dựng, phát triển, phát huy đội ngũ trí thức của


19

Đảng và Nhà nƣớc, luận án đề xuất những phƣơng hƣớng cơ bản và những giải
pháp chủ yếu để xây dựng đội ngũ trí thức có số lƣợng hợp lý, chất lƣợng cao, đáp
ứng yêu cầu cao của sự nghiệp đổi mới trong những năm tiếp theo.
3.2.1. Phát triển, phát huy đội ngũ trí thức gắn liền với hai nhiệm vụ
chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, gắn với
mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh”
Đây chính là vấn đề xây dựng trí thức nằm trong mối quan hệ giữa đổi mới,
ổn định và phát triển của đất nƣớc - một trật tự có tính nguyên tắc trong quá trình
thực hiện đổi mới. Đổi mới phải xuất phát từ chính con ngƣời và đƣợc thực hiện
bởi con ngƣời. Thực tiễn đã khẳng định giới tinh hoa có vai trò đặc biệt quan trọng
đối với đổi mới trong quá trình phát triển của một ngành, lĩnh vực, địa phƣơng,
quốc gia, nhìn rộng hơn là của cả xã hội và nhân loại. Trong tiến trình đổi mới,
cuộc cách mạng khoa học và công nghệ đã đƣa trí thức trở thành nguồn lực đặc
biệt, tạo lên sức mạnh của đất nƣớc. Đảng Cộng sản Việt Nam ngày càng đánh giá
cao về đội ngũ trí thức và chỉ rõ hơn mối quan hệ biện chứng giữa xây dựng đội
ngũ trí thức với các thành tố của hệ thống chính trị với sự nghiệp đổi mới.
Mặt khác, trí thức là một sản phẩm đặc biệt, đƣợc phát hiện thông qua môi
trƣờng hoạt động thuận lợi, ở đó mọi ngƣời đƣợc giải phóng tƣ tƣởng, các nhà
khoa học đƣợc ra sức thi đua tài năng, đƣợc tự do trình bày những ý tƣởng sáng
tạo khoa học và phát huy tối đa năng khiếu. Vì mục đích của khoa học là chân lý,
là sự thật khách quan. Tạo môi trƣờng thuận lợi để trí thức hoạt động và cống hiến
vì dân chủ trong nghiên cứu là điểm cốt yếu, nhạy cảm nhất trong nghiên cứu,
sáng tạo của trí thức. Do đó, Đảng phải tiếp tục hoàn thiện Quy chế quản lý các
nhiệm vụ khoa học và công nghệ; quy chế hoạt động của Hội đồng khoa học các

bao dung, thông thoáng, dân chủ hơn trong hoạt động nghiên cứu và sáng tạo. Phải
coi đội ngũ trí thức cùng với giai cấp công nhân, nhân dân lao động là lực lƣợng
cơ bản để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. “Tôn trọng và phát huy tự do tƣ tƣởng
trong hoạt động nghiên cứu sáng tạo. Trọng dụng trí thức trên cơ sở đánh giá đúng
phẩm chất, năng lực và kết quả cống hiến. Bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, đãi ngộ
xứng đáng những cống hiến của trí thức”14
3.2.3. Xây dựng đội ngũ trí thức dựa trên sức mạnh tổng hợp của toàn
xã hội, của cả hệ thống chính trị
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói: “Dựa vào dân thì không có việc
gì khó”15. Kế thừa lời dạy của Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam chỉ rõ:
“Xây dựng đội ngũ trí thức lớn mạnh, có chất lƣợng cao, đáp ứng yêu cầu phát
triển đất nƣớc”16 và “Xây dựng đội ngũ trí thức là trách nhiệm chung của toàn xã
hội, của cả hệ thống chính trị, trong đó trách nhiệm của Đảng và Nhà nƣớc giữ vai
trò quyết định”17.
13

Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Hội nghị lần thứ 7 Ban chấp hành Trung ương khóa X, Nxb.
Chính trị quốc gia Hà Nội, 2008, tr. 90.
14
Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị Quốc
gia - sự thật, Hà Nội, 2011, tr.242
15
Hồ Chí Minh về giáo dục và đào tạo, Nxb. Lao động – Xã hội, Hà Nội. 2007, tr. 533.
16
Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị Quốc
gia, Hà Nội, 2011, tr. 241
17
Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Hội nghị lần thứ 7 Ban chấp hành Trung ương khóa X, Nxb.
Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2008, tr. 91.


hợp, cuốn hút họ lao động sáng tạo. Quan điểm đó tiếp tục đƣợc Đại hội Đảng
XII khẳng định “Bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, đãi ngộ và tôn vinh xứng đáng
những cống hiến của trí thức. Có cơ chế, chính sách đặc biệt để thu hút nhân tài
của đất nƣớc”18.
3.3.3. Tạo chuyển biến căn bản trong đào tạo, bồi dưỡng, phát triển
trí thức

18

Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb. Chính trị quốc
gia, Hà Nội, 2016, tr. 161


22

Chính sách giáo dục và đào tạo có vai trò to lớn trong việc xây dựng đội ngũ
trí thức Việt Nam. Nhóm giải pháp này nhằm khắc phục những yếu kém, hạn chế
của công tác đào tạo, bồi dƣỡng trí thức thời gian qua là chƣa gắn chặt chẽ dạy
chữ với dạy ngƣời, giữa số lƣợng và chất lƣơng, mất cân đối về cơ cấu, đào tạo
chƣa xuất phát từ yêu cầu của cuộc sống, thiếu sự gắn kết giữa các cơ sở đào tạo
với các xí nghiệp, doanh nghiệm, các tổng công ty. Cƣơng lĩnh xây dựng đất nƣớc
trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) khẳng
định: “Giáo dục và đào tạo có sứ mệnh nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân
lực, bồi dƣỡng nhân tài, góp phần quan trọng phát triển đất nƣớc, xây dựng nền
văn hóa và con ngƣời Việt Nam. Phát triển giáo dục và đào tạo cùng với phát triển
khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu”19 thể hiện sự kế thừa tƣ tƣởng Hồ
Chí Minh xuyên suốt trong đƣờng lối cách mạng của Đảng thời kỳ đổi mới. Chủ
trƣơng đó tiếp tục đƣợc Đại hội XII khẳng định: “Giáo dục là quốc sách hàng đầu.
Phát triển giáo dục và đào tạo nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dƣỡng
nhân tài”20.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status