CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
THIẾT KẾ VÀ SỬ DỤNG BÀI TẬP THỰC TIỄN
ĐỂ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ TRONG
DẠY HỌC PHẦN HÓA HỮU CƠ - HÓA HỌC 11
Quảng Bình, ngày 12 tháng 01 năm 2019
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
THIẾT KẾ VÀ SỬ DỤNG BÀI TẬP THỰC TIỄN
ĐỂ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ TRONG
DẠY HỌC PHẦN HÓA HỮU CƠ - HÓA HỌC 11
Người thực hiện: Dương Thị Vân Quỳnh
Chức vụ: Phó tổ trưởng chuyên môn
Đơn vị công tác: Trường THPT Trần Phú.
Quảng Bình, ngày 12 tháng 01 năm 2019
DANH MỤC NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT
SỬ DỤNG TRONG SKKN
NL
MỤC LỤC
1. PHẦN MỞ ĐẦU...................................................................................................... 1
1.1. Lý do chọn đề tài............................................................................................... 1
1.2. Mục đích nghiên cứu.........................................................................................2
1.3. Nhiệm vụ nghiên cứu.........................................................................................2
1.4. Đối tương và khách thể nghiên cứu................................................................2
1.4.1. Khách thể nghiên cứu....................................................................................2
1.5. Phạm vi nghiên cứu...........................................................................................3
1.6. Phương pháp nghiên cứu..................................................................................3
1.7. Đóng góp mới của đề tài....................................................................................3
2. PHẦN NỘI DUNG...................................................................................................4
Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI................................4
2.1.1. Cơ sở lý luận về bài tập thực tiễn..................................................................4
2.1.2. Cơ sở lý luận về năng lực giải quyết vấn đề.................................................4
2.1.3. Thực trạng của việc sử dụng BTTT..............................................................5
Chương 2: THIẾT KẾ VÀ SỬ DỤNG BÀI TẬP THỰC TIỄN ĐỂ PHÁT TRIỂN
NĂNG LỰC GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC
PHẦN HÓA HỮU CƠ - LỚP 11.................................................................................6
2.2.1. Nguyên tắc xây dựng BTTT..........................................................................6
2.2.2. Một số dạng BTHH thực tiễn........................................................................6
2.2.3. Tiến trình dạy học phát triển năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh.....7
2.2.4. Sử dụng BTTT trong dạy học Hóa học để phát triển NLGQVĐ................8
Chương 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM.................................................................17
2.3.1. Mục đích thực nghiệm..................................................................................17
2.3.2. Nhiệm vụ thực nghiệm.................................................................................17
2.3.3. Đối tượng và địa bàn thực nghiệm..............................................................17
2.3.4. Kết quả thực nghiệm....................................................................................18
3. PHẦN KẾT LUẬN................................................................................................19
3.1. Ý nghĩa, phạm vi áp dụng của đề tài, sáng kiến , giải pháp........................19
thực tiễn. Đây là một khả năng có ý nghĩa rất quan trọng đối với mỗi người và
không dễ dàng gì có được. Sự thành đạt của mỗi người không chỉ tùy thuộc vào
năng lực phát hiện kịp thời những vấn đề nảy sinh trong thực tiễn mà còn phải biết
giải quyết nó một cách hợp lí. Vì vậy, ngay từ khi còn ở ngồi trên ghế nhà trường,
học sinh cần phải được luyện tập năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề.
Hóa học là môn học thực nghiệm, kiến thức Hóa học được vận dụng rất nhiều
trong thực tế cuộc sống, do đó thông qua bài tập thực tiễn học sinh được mở rộng
tri thức, rèn luyện khả năng tư duy, tính kiên nhẫn… và vận dụng những kiến thức
được học vào giải quyết những vấn đề do thực tiễn đặt ra.
Tuy nhiên, chương trình dạy và học Hóa học phổ thông hiện nay còn nặng về
lí thuyết đã làm hạn chế khả năng tư duy và vận dụng sáng tạo của học sinh Việt
Nam so với bạn bè quốc tế. Do vậy, việc xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập
thực tiễn để phát triển năng lực giải quyết vấn đề của học sinh là cần thiết.
Trong chương trình Hóa học lớp 11, kiến thức hóa hữu cơ có nội dung rất
phong phú, đa dạng và gần gũi với thực tế. Các kiến thức hóa hữu cơ không chỉ sẽ
giúp học sinh tìm hiểu những nội dung liên quan đến kiến thức sau này mà quan
trọng hơn nó giúp học sinh giải thích được nhiều hiện tượng sẽ gặp trong thực tế
đời sống. Vì vậy, việc sử dụng bài tập thực tiễn về hóa hữu cơ lớp 11 để phát triển
năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh ở trung học phổ thông là vấn đề mang tính
cấp thiết, cần được quan tâm nghiên cứu.
Xuất phát từ những vấn đề nêu trên, tôi chọn đề tài: “Thiết kế và sử dụng bài
tập thực tiễn để phát triển năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh trong dạy học
phần Hóa hữu cơ - Hóa học 11”
1.2. Mục đích nghiên cứu
Việc nghiên cứu đề tài này nhằm thiết kế và sử dụng hệ thống các bài tập gắn
với thực tiễn trong dạy học hóa hữu cơ lớp 11. Thông qua các bài tập thực tiễn này,
học sinh sẽ phát triển năng lực giải quyết vấn đề. Từ đó sẽ tạo hứng thú học tập
cho học sinh và nâng cao hiệu quả quá trình dạy và học Hóa học ở trường THPT.
2.1.1. Cơ sở lý luận về bài tập thực tiễn
Dạy học Hóa học gắn liền với thực tiễn là mong muốn của rất nhiều GV Hóa
học. Bởi Hóa học là môn khoa học thực nghiệm, gắn liền với cuộc sống con người.
Nếu HS thấy được sự gần gũi giữa kiến thức bộ môn với thực tế các em sẽ yêu
thích môn Hóa học hơn, hứng thú tìm hiểu khoa học, có thêm kĩ năng sống, ý thức
bảo vệ môi trường tốt hơn và có NL vận dụng kiến thức tốt hơn. Theo tôi, việc đưa
các kiến thức Hóa học gắn liền với thực tiễn trong quá trình dạy học đem lại nhiều
lợi ích:
- Học sinh tiếp nhận kiến thức đó một cách tự nhiên, nhớ kiến thức được lâu
hơn, hiểu được tầm quan trọng của kiến thức trong thực tiễn, từ đó tăng hứng thú
học tập và tìm hiểu kiến thức.
- Kích thích học sinh tìm hiểu, giải thích các hiện tượng thực tiễn đời sống,
đặt các giả thuyết và nghiên cứu.
- Có kiến thức thực tiễn sẽ thúc đẩy việc gắn kiến thức lý thuyết và thực hành
trong nhà trường với thực tiễn đời sống, đẩy mạnh thực hiện dạy học theo phương
châm “ học đi đôi với hành”.
Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân nên việc gắn bài học với các nội dung có
liên quan tới thực tiễn còn gặp nhiều khó khăn, hạn chế. Nhiều bài tập Hóa học còn
rất xa vời thực tiễn cuộc sống và sản xuất, quá chú trọng đến các tính toán phức
tạp. Để phần nào đáp ứng được nhu cầu đổi mới phương pháp giảng dạy và học tập
môn Hóa học phổ thông theo hướng gắn với thực tiễn nên trong đề tài tôi tuyển
chọn và xây dựng thêm một số kiến thức lý thuyết và bài tập Hóa học dạng này,
đồng thời đưa chúng vào trong dạy học với phương pháp phù hợp nhằm góp phần
nâng cao hứng thú học tập cho HS THPT.
2.1.2. Cơ sở lý luận về năng lực giải quyết vấn đề
2.1.2.1. Khái niệm năng lực giải quyết vấn đề
Năng lực giải quyết vấn đề là tổ hợp các NL thể hiện ở các kĩ năng (thao tác
tác duy và hoạt động) trong hoạt động học tập nhằm giải quyết có hiệu quả những
nhiệm vụ của bài toán.
Năng lực giải quyết vấn đề là khả năng của một cá nhân hiểu và giải quyết
ứng được yêu cầu của bài kiểm tra.
Chính vì thế vốn hiểu biết thực tế của HS về các hiện tượng có liên quan đến
Hóa học trong đời sống hàng ngày còn ít.
Giải pháp của chúng tôi đưa ra là thiết kế và sử dụng BTTT trong các bài học
nhiều hơn, có thể dùng trong nhiều trường hợp như nghiên cứu tài liệu mới, củng
cố, hoàn thiện, vận dụng kiến thức, kĩ năng, kiểm tra, đánh giá kiến thức.
Chương 2: THIẾT KẾ VÀ SỬ DỤNG BÀI TẬP THỰC TIỄN ĐỂ PHÁT
TRIỂN NĂNG LỰC GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ CHO HỌC SINH TRONG
DẠY HỌC PHẦN HÓA HỮU CƠ - LỚP 11
2.2.1. Nguyên tắc xây dựng BTTT
- Phải đảm bảo tính chính xác, tính khoa học, tính hiện đại.
Trong một bài tập HH thực tiễn, bên cạnh nội dung HH, còn có những dữ liệu
thực tiễn. Những dữ liệu đó cần phải được đưa vào một cách chính xác, không tuỳ
tiện thay đổi nhằm mục đích dễ tính toán.
Đối với một số bài tập về sản xuất HH, nên đưa vào các dây chuyền công
nghệ đang được sử dụng ở Việt Nam hoặc trên thế giới, không nên đưa các công
nghệ đã quá cũ và lạc hậu hiện không dùng hoặc ít dùng.
- Phải gần gũi với kinh nghiệm của HS.
Những vấn đề thực tiễn có liên quan đến HH thì rất nhiều và rộng. Nếu BTTT
có nội dung về những vấn đề gần gũi với kinh nghiệm đời sống và môi trường
xung quanh HS thì sẽ tạo cho họ động cơ và hứng thú mạnh mẽ khi tiếp nhận và
giải quyết vấn đề.
- Phải sát với nội dung học tập.
Các BTTT cần có nội dung sát với chương trình mà HS được học. Nếu BTTT
có nội dung hoàn toàn mới về kiến thức HH thì sẽ không tạo được động lực cho
HS để giải bài tập đó.
2.2.2. Một số dạng BTHH thực tiễn
Dựa vào tính chất của bài tập, có thể chia thành:
bỏng bằng bông tẩm glixerol”. Hãy giải thích tại sao lại làm như vậy.
2.2.3. Tiến trình dạy học phát triển năng lực giải quyết vấn đề cho học
sinh
Bước 1: Đặt vấn đề. GV hoặc HS phát hiện vấn đề, nhận dạng vấn đề, nêu
vấn đề cần giải quyết.
Bước 2: Tạo tình huống có vấn đề. Tình huống có vấn đề thường xuất hiện
khi:
- Nảy sinh mâu thuẫn giữa điều HS đã biết và điều đang gặp phải.
- Gặp tình huống bế tắc trước nội dung mới.
- Gặp tình huống, xuất phát từ nhu cầu nhận thức tại sao.
Bước 3: GQVĐ. GV hoặc HS đề xuất cách GQVĐ khác nhau (nêu giả thuyết
khác nhau), thực hiện cách giải quyết đã đề ra (kiến thức giả thuyết).
Bước 4: Kết luận vấn đề. Phân tích để chọn cách giải quyết đúng (lựa chọn
giả thuyết đúng và loại bỏ giả thuyết sai). Nêu kiến thức hoặc kĩ năng, thái độ thu
nhận được từ GQVĐ trên.
2.2.4. Sử dụng BTTT trong dạy học Hóa học để phát triển NLGQVĐ
2.2.4.1. Giới thiệu bài học
Khi dạy bài axit cacboxylic ta có thể vào bài bằng một câu hỏi thực tế: Trong
lớp chúng ta có em nào từng bị kiến đốt chưa? Và để xử lí vết đốt của kiến người
ta thương bôi vào chỗ bị đốt một ít xà phòng có tính kiềm hoặc một ít nước vôi ?
Em hãy giải thích tại sao lại làm như vậy?
Phân tích:
Bước 1: Đặt vấn đề : Tại sao phải bôi nước vôi hoặc xà phòng có tính kiềm?
Bước 2: Tạo tình huống có vấn đề: Khi kiến đốt ta vậy nó đã “tiêm” cho ta
chất độc gì mà gây cho ta ngứa ngáy, phỏng rộp.
Bước 3: GQVĐ: Nước vôi và xà phòng thì có tính kiềm? Vậy chất độc từ
kiến đốt là axit
Bước 4: Kết luận vấn đề : Khi kiến đốt chúng tiết ra chất Hóa học đó là axit
ONa
+ Na2CO 3
+NaHCO 3
Qua bài này học sinh lĩnh hội được những kiến thức:
- Phenol ít tan trong nước lạnh
- Phenol có tính axit yếu
- Biết làm việc khi tiếp xúc với phenol (phenol rất độc).
2.2.4.3. Sử dụng trong các bài ôn tập, luyện tập
Khi dạy bài ôn tập ancol- axit cacboxylic có thể đặt câu hỏi;
Vì sao khi lên men rượu thì cần ủ kín còn lên men giấm lại để thoáng?
Phân tích:
Bước 1: Đặt vấn đề: Vì sao khi lên men rượu thì cần ủ kín còn lên men giấm
lại để thoáng?
Bước 2: Tạo tình huống có vấn đề: Men rượu hoạt động như thế nào ?
Men giấm hoạt động như thế nào ?
Bước 3: GQVĐ: Men rượu hoạt động không cần oxi không khí, men giấm
cần oxi không khí để oxi hoá rượu thành giấm.
Bước 4: Kết luận vấn đề: Men rượu hoạt động không cần oxi không khí, nó
chuyển hoá đường thành rượu và khí cacbonic.
men rựơu
C6H12O6 → 2C2H5OH + 2CO2
Men giấm cần oxi không khí để oxi hoá rượu thành giấm.
men giấm
C2H5OH + O 2 → CH 3COOH + H 2 O
2.2.4.4. Sử dụng trong các bài kiểm tra
ĐỀ KIỂM TRA HÓA HỌC 11 - LẦN 2
Voxi = 7,6x 22,4 = 170,24 (l)
(1 điểm)
Vkk = Voxi x 100/20 = 851,2 (l)
(2 điểm)
2.2.4.5. Một số BTTT trong chương trình hóa hữu cơ lớp 11
Bài 1. Etilen được dùng để kích thích trái cây mau chín. Nó cũng là một
trong các sản phẩm sinh ra khi trái cây chín. Điều gì xảy ra khi để những trái cây
chín bên cạnh trái cây xanh?( Bài aken)
Phân tích: Khi để những trái cây chín cạnh những trái cây xanh thì C2H4
sinh ra từ trái cây chín sẽ kích thích những trái cây xanh chín nhanh hơn.
Bài 2. “Ga” (gas) chứa trong các bình thép để đun nấu trong gia đình và “ga”
dẫn từ các mỏ khí thiên nhiên vừa dùng trong bếp núc, vừa dùng làm nhiên liệu
công nghiệp khác nhau như thế nào? Bật lửa “ga” dùng loại “ga” nào? ( Bài:
Nguồn hiđrôcacbon thiên nhiên)
Phân tích: “Ga” dùng để đun nấu và nạp bật lửa là hỗn hợp butan và một
phần propan được nén thành chất lỏng trong bình thép.
“Ga” dùng làm nhiên liệu trong công nghiệp (xăng, dầu hoả…) là hỗn hợp
các ankan lỏng.
Bài 3. Ở các cây xăng ta thường nhìn thấy ghi A83, A90, A92. Các con số
83, 90, 92 có ý nghĩa gì vậy? Tại sao ở các cây xăng người ta cấm sử dụng lửa và
điện thoại di động?( Bài: Nguồn hiđrôcacbon thiên nhiên)
Phân tích: Các con số ghi đấy chính là chỉ số octan của các loại xăng bán.
Xăng có thành phần chính là các ankan lỏng, do ankan lỏng dễ bay hơi nên ở các
điểm bán xăng luôn có hơi xăng, khi sử dụng điện thoại di động thì khi điện
thoại reo sẽ phát ra tia lửa điện có thể kích thích hơi xăng trong không khí cháy,
:
:
= 8 : 4 :1 :1 :1.
CTĐGN của phẩm đỏ: C8H4ONBr
Bài 7. Parametađion (thành phần chính của thuốc chống co giật) chứa
53,45%C; 7,01%H; 8,92%N; còn lại là O. Thực nghiệm cho biết trong phân tử
Parametađion chỉ có 1 nguyên tử nitơ. Hãy xác định công thức phân tử của
Parametađion. ( Bài: CTPT hợp chất hữu cơ )
Phân tích: C7H11NO3
Bài 8. Vì sao khi dùng axeton để lau sơn móng tay lại cảm thấy móng tay rất
mát? ( Bài: Anđehit- xeton)
Phân tích: Axeton rất dễ bay hơi, quá trình bay hơi thu nhiệt của móng tay
làm móng tay cảm thấy mát.
Bài 9. a) Vì sao rượu càng để lâu càng ngon?
b) Để rượu nho có chất lượng tốt,người ta thường chứa rượu trong các
thùng gỗ và chôn sâu dưới lòng đất, càng sâu càng tốt. Hãy giải thích tại sao?
( bài ancol )
Phân tích: a) Quá trình lên men rượu từ đường là một quá trình phức tạp,
diễn ra theo nhiều giai đoạn, trong đó có qua các giai đoạn trung gian tạo anđehit.
Anđehit làm giảm chất lượng, mùi vị của rượu, vì vậy nếu hàm lượng anđehit
càng thấp thì rượu càng ngon.
Rượu càng để lâu thì quá trình lên men rượu càng xảy ra hoàn toàn, các sản
phẩm anđehit trung gian sẽ chuyển thành rượu, do đó rượu càng để lâu càng
ngon.
b) Thùng rượu được chôn sâu dưới đất để không khí không bị biến đổi nhiều
Bài 13. a)Vì sao với xăng chỉ cần châm lửa là bắt cháy, còn dầu hoả phải
dùng bấc mới đốt được? ( Bài nguồn hi đro cac bon thiên nhiên )
b) Vì sao không nên dùng xăng để rửa tay tuy nó có thể rửa sạch các vết dầu
mỡ? ( Bài nguồn hi đro cac bon thiên nhiên )
Phân tích: a) Xăng và dầu hoả đều được chế tạo từ dầu mỏ và chứa các
hidrocacbon nhưng với số nguyên tử cacbon khác nhau. Xăng chứa các phân tử có
số cacbon 5-11, còn dầu hoả là 11-16. Sự cháy của xăng và dầu hoả thuộc loại cháy
do bay hơi và liên quan đến sự dẫn lửa và điểm bắt lửa. Điểm bắt lửa của một
nhiên liệu lỏng là nhiệt độ thấp nhất để trên bề mặt nhiên liệu lỏng tạo thành hỗn
hợp cháy của hơi với không khí.
Xăng có điểm bắt lửa thấp hơn nhiệt độ môi trường, khoảng - 46 oC nên trên
bề mặt của xăng ở nhiệt độ thường tồn tại hỗn hợp cháy với không khí. Khi hỗn
hợp này chỉ cần tiếp xúc với ngọn lửa hoặc tia lửa là sẽ bắt cháy. Sau khi lớp hơi
trên mặt xăng lỏng cháy, xăng lại tiếp tục bay hơi mạnh và sự cháy tiếp tục dược
duy trì.
Dầu hoả có điểm bắt lửa 28-45oC cao hơn nhiệt độ môi trường. ở nhiệt độ
thường trên bề mặt dầu hoả không có hỗn hợp cháy nên không dễ bắt lửa để cháy.
Khi tẩm dầu hoả vào bấc đèn, dầu sẽ ngấm vào bấc. Bấc đèn dễ cháy và làm nhiệt
độ xung quanh sợi bấc vượt quá điểm bắt lửa của dầu hoả làm cho dầu hoả trên bề
mặt bấc đèn bốc cháy. Dầu hoả liên tục ngấm lên sợi bấc bảo đảm duy trì sự cháy.
b) Xăng có thể rửa sạch các chất dầu mỡ nhưng đồng thời cũng làm mất lớp
mỡ bảo vệ trên da, làm cho da tay khô ráp, nứt nẻ tạo điều kiện cho vi khuẩn xâm
nhập. Ngoài ra, trong xăng còn chứa cả phenol, toluen và các hợp chất thơm khác
gây độc hại cho có thể. Hơn nữa, xăng dễ bay hơi, nếu tiếp xúc nhiều gây ngộ độc.
Bài 14. Vì sao khi đốt xăng, cồn thì cháy hết sạch, còn khi đốt gỗ, than đá lại
còn tro? (Bài nguồn hi đro cac bon thiên nhiên )
Phân tích: Xăng và cồn chứa những hợp chất hữu cơ dễ cháy (hidrocacbon,
rượu) nên khi đốt các thành phần của chúng đều cháy hết tạo CO2 và H2O.
Gỗ và than đá lại có thành phần hết sức phức tạp. Trong gỗ có những thành
phần dễ cháy như xelulozơ, nhựa... nhưng gỗ còn chứa các khoáng chất không
hành sau đó anđehit lai bị biến đổi thành các hợp chất khác, cuối cùng là cacbon
đioxit. Mỗi giai đoạn đảm nhận bởi một loại men xúc tác. Nhưng quyết định là giai
đoạn biến rượu thành anđêhít nếu quá trình này không kịp thì người sẽ bị say.
Người uống nhiều hay ít là tuỳ vào lượng men anđehit có trong máu nhiều hay ít
Bài 19. Tại sao người ta dùng fomon để ngâm xác động vật? ( Bài an đehit axton )
Phân tích: Fomon là dung dịch anđehit fomic trong nước có nồng độ khoảng
37-40%. Fomon làm cho protein đông cứng lại và không thối rữa. Ngoài ra, do
tính độc đối với vi khuẩn, anđehit fomic trong dung dịch còn có tính sát trùng.
Bài 20. Vì sao khi bóc vỏ hành, chúng ta lại bị chảy nước mắt? ( Bài tự chon
nâng cao anđehit )
Phân tích : Các nhà sinh học đã tìm thấy chất propylthial CH 3-CH2CH=SO,
một anđehit có lưu huỳnh ở trong nước hành. Khi tiếp xúc với bề mặt ướt của mắt
chất này phản ứng với nước tạo thành axit sunfurơ - chất làm cay và chảy nước
mắt.
Chương 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM
2.3.1. Mục đích thực nghiệm
Bước đầu nghiên cứu hiệu quả của việc áp dụng đề tài vào thực tiễn dạy học
Hóa học ở trường THPT nơi tôi công tác.
2.3.2. Nhiệm vụ thực nghiệm
- Biên soạn tài liệu thực nghiệm theo hệ thống bài tập đã được đề xuất.
- Đánh giá hiệu quả sử dụng bài tập đã được đề xuất.
- Phân tích kết quả thực nghiệm từ đó rút ra kết luận năng lực giải quyết vấn
đề khi sử dụng BTTT
2.3.3. Đối tượng và địa bàn thực nghiệm
Chúng tôi chọn 02 lớp 11 ban nâng cao ( hai lớp này tương đương về số lượng
học sinh và chất lượng học tập)
Gọi x là thể tích rượu 300 pha được, thể tích etanol nguyên chất cần dùng là:
3x
3x
= 300 . Giải được x = 1000 ml (4 điểm)
ml. Vậy
10
10
Cách pha: Lấy 400ml rượu 750 cho vào bình định mức dung tích 1000ml,
thêm nước cho đủ. ( 2 điểm)
2.3.4. Kết quả thực nghiệm
Bảng tổng hợp điểm
Đối tượng
Số HS
Đối chứng
41
Thực nghiệm
42
Điểm dưới 5
Điểm 5-6
Điểm 7 - 8
3. PHẦN KẾT LUẬN
3.1. Ý nghĩa, phạm vi áp dụng của đề tài, sáng kiến , giải pháp
Qua một thời gian dài tìm tòi, nghiên cứu và thử nghiệm đề tài xây dựng và
thiết kế bài tập thực tiễn để giải quyết năng lực giải quyết vấn đề cho HS, sau đó
đưa vào dạy học các bài học phù hợp, làm cho việc tổ chức các hoạt động dạy và
học được thực hiện theo hướng tích cực, chúng tôi có cơ sở để khẳng định được
hiệu quả của nó:
- Giúp học sinh nhớ lâu kiến thức hơn, hứng thú hơn, có khả năng giải thích
được một số vấn đề thực tiễn thông qua kiến thức đã học.
- Thông qua khả năng giải quyết vấn đề của HS, giáo viên có thể đánh giá khả
năng tiếp thu kiến thức của HS ở mức độ nào, để kịp thời uốn nắn.
- Kết quả học tập được nâng cao rõ rệt: số lượng học sinh khá - giỏi tăng lên,
số học sinh trung bình, yếu và kém giảm xuống.
Để nâng cao hiệu quả dạy và học môn hóa học ở trường trung học phổ thông
chúng ta có nhiều phương pháp, biện pháp khác nhau trong đó BTTT đóng một vài
trò quan trọng trong việc phát triển năng lực GQVĐ cho học sinh.
BTTT là một trong những dạng bài tập hay nhằm tăng tính thực tiễn của môn
học, lôi cuốn được nhiều học sinh, làm cho học sinh yêu thích môn hóa học từ đó
khơi dậy niềm đam mê học tập và động lực học tập trong các em. Thực tế cho thấy
rằng, việc học môn hóa học ở trường trung học phổ thông ở trường chúng tôi
trong những năm gần đây đã có nhiều chuyển biến tốt.
3.2. Kiến nghị, đề xuất
a. Đối với nhà trường
- Cần tổ chức hội thảo về đổi mới phương pháp dạy học ở trường phổ thông
để giáo viên trong nhà trường học hỏi kinh nghiệm giảng dạy.
- Sau mỗi bài soạn phải có những câu hỏi, bài tập tích hợp có nội dung liên
quan đến bài học nhằm tăng tính thực tiễn của bộ môn và có tính giáo dục.
b. Đối với Bộ Giáo dục & Đào tạo
Sắp xếp số tiết trong phân phối chương trình được nhiều hơn, qua đó tăng thời
lượng và lượng bài tập để rèn luyện cho học sinh, để có thể truyền tải cơ bản
dục học, Đại học Giáo dục, Đại học Quốc gia Hà Nội.
10. Nguyễn Xuân Trường (Chủ biên) (2007), Sách giáo viên - Hoá học 11,
Nxb Giáo dục.
11. Nguyễn Xuân Trường (Chủ biên) (2007), Bài tập Hóa học 11, Nxb Giáo
dục.
12. Tống Thị Trang (2014), Phát triển năng lực giải quyết vấn đề cho học
sinh thông qua hệ thống bài tập hoá học phần đại cương và hi đrocacbon hoá học
11 nâng cao, Luận văn Thạc sĩ Khoa học giáo dục, Đại học sư phạm Hà Nội.
13. Vụ THPT (2008), Phân phối chương trình môn Hóa học THPT, thực hiện
từ năm học 2008-2009, Bộ GD-ĐT