Các biện pháp bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ ở việt nam - Pdf 53

TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI


Các biện pháp bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ ở Việt
Nam?
Sở hữu trí tuệ đang ngày càng trở thành một vấn đề được quan tâm.
Một doanh nghiệp muốn phát triển phải nghĩ đến chuyện bảo vệ thương hiệu
(nhãn hiệu hàng hóa) của mình. Một cử nhân luật khi ra trường ngày nay đòi
hỏi phải có một số kiến thức về quyền tác giả hay nhãn hiệu hàng hóa. Còn
đối với những người muốn gắn sự nghiệp với môn học này, khám phá các đặc
tính của các đối tượng sở hữu trí tuệ vẫn còn là một vấn đề khó khăn song đầy
hứng thú.
Tại sao phải học về sở hữu trí tuệ? Có phải đó là một lĩnh vực khó hiểu
và không có ứng dụng? Có phải đó là một khái niệm khá mới? Hay lĩnh vực
này được du nhập từ những khái niệm xa vời của nước ngoài và chỉ bảo vệ
chủ thể nước ngoài? Thực sự không phải vậy. Trong cuộc sống chúng ta gặp
rất nhiều vấn đề liên quan đến sở hữu trí tuệ. Nhà may Phong ở đầu phố đắt
khách, bạn mở cửa hiệu may, cũng treo biển “Nhà may Phong” cho cửa hiệu
của bạn, Nhà may Phong ở đầu phố có quyền yêu cầu bạn gỡ biển không? Bạn
đang xuất khẩu sang Nga một lô quần áo đang “mốt”, để tránh bị các nhà
buôn khác bắt chước kiểu dáng, bạn có nên đi đăng ký kiểu dáng công nghiệp
hay không? Bạn viết một bài báo, tòa soạn chỉnh sửa nội dung bài báo và đưa
vào đó những ý tưởng bạn không hề nghĩ tới. Tòa soạn có xâm phạm quyền
tác giả của bạn không? Bạn mang máy casette vào một buổi trình diễn âm
nhạc, thu băng và cho bạn bè sao chép lại. Băng đĩa sao chép có được coi là
băng đĩa lậu không? Đó là những vấn đề mà luật về sở hữu trí tuệ phải giải
quyết. Tuy báo chí không dùng nhiều danh từ “sở hữu trí tuệ”, song những
vấn đề có liên quan đến sở hữu trí tuệ lại rất phổ biến: hàng giả, hàng nhái,
sao chép lậu, cạnh tranh không lành mạnh, nhượng quyền thương hiệu, v.v.
Như vậy, “Quyền sở hữu trí tuệ” là gì? Theo khoản 1 điều 14 Luật sở
hữu trí tuệ 2005 đã nêu rõ khái niệm về “Quyền sở hữu trí tuệ”. Đó là một

của pháp luật có liên quan;
d) Khởi kiện ra tòa án hoặc trọng tài để bảo vệ quyền, lợi ích hợp
pháp của mình.
2. Tổ chức, cá nhân bị thiệt hại do hành vi xâm phạm quyền sở hữu
trí tuệ hoặc phát hiện hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ gây thiệt hại
cho người tiêu dùng hoặc cho xã hội có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước
có thẩm quyền xử lý hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ theo quy
định của Phần này và các quy định khác của pháp luật có liên quan.
3. Tổ chức, cá nhân bị thiệt hại hoặc có khả năng bị thiệt hại do hành
vi cạnh tranh không lành mạnh có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có
thẩm quyền áp dụng các biện pháp dân sự quy định tại Điều
5.A.2.1 của Phần này và các biện pháp hành chính theo quy định của pháp
luật về cạnh tranh.
Bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực công nghệ thông tin
(Điều 69, Luật Công nghệ thông tin năm 2006)
Việc bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực công nghệ thông tin phải
thực hiện theo các quy định khác trong Đề mục này và quy định sau đây:
1. Tổ chức, cá nhân truyền đưa thông tin trên môi trường mạng có
quyền tạo ra bản sao tạm thời một tác phẩm được bảo hộ do yêu cầu kỹ thuật
của hoạt động truyền đưa thông tin và bản sao tạm thời được lưu trữ trong
khoảng thời gian đủ để thực hiện việc truyền đưa thông tin;


2. Người sử dụng hợp pháp phần mềm được bảo hộ có quyền sao chép
phần mềm đó để lưu trữ dự phòng và thay thế phần mềm bị phá hỏng mà
không phải xin phép, không phải trả tiền bản quyền.

Bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực thương mại
(khoản 8, Điều 109, Luật Thương mại 2005)
(khoản 4, Điều 123, Luật Thương mại 2005)

pháp luật có liên quan.
Bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực điện ảnh
(Điều 7, Luật Điện ảnh năm 2006 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2009)
Nhà nước bảo hộ quyền tác giả và quyền liên quan, quyền sở hữu tác
phẩm của chủ sở hữu tác phẩm điện ảnh theo quy định của Bộ luật dân sự và
Đề mục này.
Bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực công nghệ cao
(khoản 3 Điều 8, Luật Công nghệ cao số 21/2008/QH12 ngày
01/7/2009)
(khoản 1 Điều 14, Luật Công nghệ cao số 21/2008/QH12 ngày
01/7/2009)
Nghiêm cấm hành vi vi phạm quyền sở hữu trí tuệ về công nghệ cao
Nhà nước khuyến khích tổ chức, cá nhân tham gia phát triển thị trường
công nghệ cao; cung ứng dịch vụ môi giới, tư vấn, đánh giá, định giá, giám
định công nghệ cao; tạo điều kiện thuận lợi cho tổ chức, cá nhân thực hiện
dịch vụ tư vấn kỹ thuật, đầu tư, pháp lý, tài chính, bảo hiểm, bảo vệ quyền sở
hữu trí tuệ và các dịch vụ khác nhằm thúc đẩy hoạt động công nghệ cao, tiêu
thụ, sử dụng sản phẩm công nghệ cao.
2. Cấm trưng bày, giới thiệu hàng hoá của thương nhân khác để so sánh
với hàng hoá của mình, trừ trường hợp hàng hoá đem so sánh là hàng giả,
hàng vi phạm quyền sở hữu trí tuệ theo quy định của pháp luật.
3. Hàng hoá là hàng giả, hàng vi phạm quyền sở hữu trí tuệ không được
phép tham gia hội chợ, triển lãm thương mại, trừ trường hợp trưng bày, giới
thiệu để so sánh với hàng thật.
4. Bên đặt gia cộng chịu trách nhiệm đối với tính hợp pháp về quyền sở
hữu trí tuệ của hàng hoá gia công, nguyên liệu, vật liệu, máy móc, thiết bị
dùng để gia công chuyển cho bên nhận gia công.
5. Thương nhân nhượng quyền bảo đảm quyền sở hữu trí tuệ đối với đối
tượng được ghi trong hợp đồng nhượng quyền;
6. Thương nhân nhận quyền ngừng sử dụng nhãn hiệu hàng hoá, tên

sản phẩm hoặc quy trình.
5. "Yếu tố xâm phạm" là yếu tố được tạo ra từ hành vi xâm phạm.
6. "Hành vi bị xem xét” là hành vi bị nghi ngờ là hành vi xâm phạm và
bị xem xét nhằm đưa ra kết luận có phải là hành vi xâm phạm hay không.
7. "Đối tượng bị xem xét” là đối tượng bị nghi ngờ và bị xem xét nhằm
đưa ra kết luận đó có phải là đối tượng xâm phạm hay không.


8. "Đơn yêu cầu xử lý xâm phạm” dùng để chỉ đơn yêu cầu áp dụng các
biện pháp để xử lý hành vi xâm phạm.
Điều 5.D.1.4: Áp dụng các biện pháp dân sự, hành chính, hình sự để
bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ
(Điều 4, Nghị định số 105/2006/NĐ-CP ngày 22/09/2006)
Tuỳ theo tính chất và mức độ, hành vi xâm phạm có thể bị xử lý bằng
biện pháp dân sự, hành chính hoặc hình sự theo các quy định của Quốc hội
trong Phần này và theo quy định sau đây:
1. Biện pháp dân sự được áp dụng để xử lý hành vi xâm phạm theo yêu
cầu của chủ thể quyền sở hữu trí tuệ hoặc của tổ chức, cá nhân bị thiệt hại do
hành vi xâm phạm gây ra, kể cả khi hành vi đó đã hoặc đang bị xử lý bằng
biện pháp hành chính hoặc biện pháp hình sự.
Thủ tục yêu cầu áp dụng biện pháp dân sự, thẩm quyền, trình tự, thủ tục
áp dụng biện pháp dân sự tuân theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.
2. Biện pháp hành chính được áp dụng để xử lý hành vi xâm phạm
thuộc một trong các trường hợp quy định tại Điều 5.A.3.1 Phần này, theo yêu
cầu của chủ thể quyền sở hữu trí tuệ, tổ chức, cá nhân bị thiệt hại do hành vi
xâm phạm gây ra, tổ chức, cá nhân phát hiện hành vi xâm phạm hoặc do cơ
quan có thẩm quyền chủ động phát hiện.
Hình thức, mức phạt, thẩm quyền, thủ tục xử phạt hành vi xâm phạm và
các biện pháp khắc phục hậu quả tuân theo các quy định của Quốc hội trong
Phần này và các quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quyền

Điều
5.A.3.4 khoản (4) Phần này do cơ quan xử lý xâm phạm xác định tại thời điểm
xảy ra hành vi xâm phạm, dựa trên các căn cứ theo thứ tự ưu tiên sau đây:
a) Giá niêm yết của hàng hoá xâm phạm;
b) Giá thực bán của hàng hoá xâm phạm;
c) Giá thành của hàng hoá xâm phạm (nếu chưa được xuất bán);
d) Giá thị trường của hàng hoá tương đương có cùng chỉ tiêu kỹ thuật,
chất lượng.
3. Giá trị hàng hóa xâm phạm được tính theo phần (bộ phận, chi tiết)
sản phẩm xâm phạm quy định tại điểm a khoản 1 Điều này hoặc tính theo giá
trị của toàn bộ sản phẩm xâm phạm quy định tại điểm b khoản 1 Điều này.
4. Trường hợp việc áp dụng các căn cứ quy định tại khoản 2 Điều này
không phù hợp hoặc giữa cơ quan xử lý xâm phạm và cơ quan tài chính cùng
cấp không thống nhất về việc xác định giá trị hàng hoá xâm phạm thì việc
định giá do hội đồng xác định giá trị hàng hoá xâm phạm quyết định.
Việc thành lập, thành phần, nguyên tắc làm việc của hội đồng xác định
giá trị hàng hoá xâm phạm thực hiện theo quy định của pháp luật.
Điều 5.D.1.29: Xử lý hàng hoá xâm phạm
(Điều 29, Nghị định số 105/2006/NĐ-CP ngày 22/09/2006)
1. Đối với hàng hoá giả mạo về sở hữu trí tuệ, nguyên liệu, vật liệu,
phương tiện được sử dụng chủ yếu để sản xuất, kinh doanh hàng hoá đó thì cơ
quan có thẩm quyền xử lý xâm phạm áp dụng một trong các biện pháp sau
đây:
a) Phân phối không nhằm mục đích thương mại hoặc đưa vào sử dụng
không nhằm mục đích thương mại theo quy định tại Điều 5.D.1.30 Chương
này.
b) Tiêu huỷ theo quy định tại Điều 5.D.1.31 Chương này.
c) Buộc chủ hàng, người vận chuyển, người tàng trữ loại bỏ các yếu tố
xâm phạm và đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam đối với hàng hoá quá cảnh là
hàng hoá giả mạo về nhãn hiệu, tái xuất đối với hàng hoá nhập khẩu là hàng

phạm cơ quan xử lý có thể xem xét đề nghị của các bên liên quan về việc xử
lý xâm phạm.
Điều 5.D.1.30: Buộc phân phối hoặc đưa vào sử dụng không nhằm
mục đích thương mại
(Điều 30, Nghị định số 105/2006/NĐ-CP ngày 22/09/2006)
1. Việc buộc phân phối hoặc buộc đưa vào sử dụng không nhằm mục
đích thương mại đối với hàng hoá giả mạo về sở hữu trí tuệ, hàng hoá xâm
phạm phải đáp ứng các điều kiện sau đây:
a) Hàng hoá có giá trị sử dụng;
b) Yếu tố xâm phạm đã được loại bỏ khỏi hàng hoá;
c) Việc phân phối, sử dụng không nhằm thu lợi nhuận và không ảnh
hưởng một cách bất hợp lý tới việc khai thác bình thường quyền của chủ thể


quyền sở hữu trí tuệ, trong đó ưu tiên mục đích nhân đạo, từ thiện hoặc phục
vụ lợi ích xã hội;
d) Người được phân phối, tiếp nhận để sử dụng không phải là khách
hàng tiềm năng của chủ thể quyền sở hữu trí tuệ.
2. Quy định tại khoản 1 Điều này cũng áp dụng đối với nguyên liệu, vật
liệu, phương tiện được sử dụng chủ yếu để sản xuất, kinh doanh hàng hoá giả
mạo về sở hữu trí tuệ, hàng hóa xâm phạm.
Điều 5.D.1.31: Buộc tiêu huỷ
(Điều 31, Nghị định số 105/2006/NĐ-CP ngày 22/09/2006)
Biện pháp buộc tiêu huỷ hàng hoá giả mạo về sở hữu trí tuệ, hàng hoá
xâm phạm, nguyên liệu, vật liệu, phương tiện được sử dụng chủ yếu để sản
xuất, kinh doanh hàng hoá đó được áp dụng trong trường hợp không hội đủ
các điều kiện để áp dụng biện pháp buộc phân phối hoặc đưa vào sử dụng
không nhằm mục đích thương mại quy định tại Điều 5.D.1.30 Chương này.
Điều 5.D.1.32: Tịch thu
(Điều 32, Nghị định số 105/2006/NĐ-CP ngày 22/09/2006)

dừng làm thủ tục hải quan đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu bị nghi ngờ
xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ.
2. Việc ủy quyền nộp đơn thực hiện như sau:
a) Cá nhân, pháp nhân và chủ thể khác của Việt Nam, cá nhân nước
ngoài thường trú tại Việt Nam uỷ quyền cho tổ chức dịch vụ đại diện sở hữu
công nghiệp thực hiện việc nộp đơn;
b) Pháp nhân nước ngoài có văn phòng đại diện tại Việt Nam, cá nhân
hoặc pháp nhân nước ngoài có cơ sở sản xuất, kinh doanh tại Việt Nam được
uỷ quyền cho văn phòng đại diện, cơ sở sản xuất kinh doanh tại Việt Nam
hoặc tổ chức dịch vụ đại diện sở hữu công nghiệp thực hiện việc nộp đơn;
c) Cá nhân nước ngoài không thường trú tại Việt Nam và không có cơ
sở sản xuất, kinh doanh tại Việt Nam, pháp nhân nước ngoài không có đại
diện hợp pháp và không có cơ sở sản xuất kinh doanh tại Việt Nam chỉ có thể
uỷ quyền cho tổ chức dịch vụ đại diện sở hữu công nghiệp thực hiện việc nộp
đơn.
3. Khi đề nghị tạm dừng, người nộp đơn phải cung cấp cho cơ quan hải
quan các tài liệu sau:
a) Đối với trường hợp đề nghị dài hạn:
- Đơn đề nghị (theo mẫu quy định);
- Bản sao văn bằng bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp hoặc tài liệu khác
chứng minh quyền sở hữu công nghiệp đang được bảo hộ tại Việt Nam hoặc
bản sao giấy chứng nhận đăng ký hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng đối
tượng sở hữu công nghiệp; bản sao giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả,
quyền liên quan hoặc tài liệu khác chứng minh quyền tác giả, quyền liên quan;
- Giấy uỷ quyền nộp đơn (trường hợp uỷ quyền);
- Mô tả chi tiết hàng hoá xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, bao gồm ảnh
chụp (nếu có), các đặc điểm phân biệt hàng thật với hàng xâm phạm quyền;


- Danh sách những người xuất khẩu, nhập khẩu hợp pháp hàng hoá có

Điều 5.D.1.35 : Cơ quan hải quan có thẩm quyền tiếp nhận đơn
(Điều 35, Nghị định số 105/2006/NĐ-CP ngày 22/09/2006)
(khoản 2 Điều 49, Nghị định số 154/2005/NĐ-CP ngày 15/12/2005)
1. Chi cục Hải quan có thẩm quyền tiếp nhận đơn yêu cầu áp dụng biện
pháp kiểm tra, giám sát hoặc tạm dừng làm thủ tục hải quan tại cửa khẩu
thuộc thẩm quyền quản lý của Chi cục Hải quan đó.


2. Cục Hải quan tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có thẩm quyền
tiếp nhận đơn yêu cầu áp dụng biện pháp kiểm tra, giám sát hoặc tạm dừng
làm thủ tục hải quan tại cửa khẩu thuộc thẩm quyền quản lý của Cục Hải quan
đó.
3. Tổng cục Hải quan có thẩm quyền tiếp nhận đơn yêu cầu áp dụng
biện pháp kiểm tra, giám sát hoặc tạm dừng làm thủ tục hải quan tại các cửa
khẩu thuộc thẩm quyền quản lý của từ hai Cục Hải quan tỉnh, thành phố trực
thuộc trung ương trở lên.
4. Chủ thể quyền sở hữu trí tuệ cũng có thể thực hiện việc nộp đơn cho
từng Chi cục Hải quan hoặc Cục Hải quan trong các trường hợp quy định tại
khoản 2, khoản 3 Điều này.
Điều 5.D.1.36: Thủ tục xử lý đơn
(Điều 36, Nghị định số 105/2006/NĐ-CP ngày 22/09/2006)
(khoản 3 Điều 49, Nghị định số 154/2005/NĐ-CP ngày 15/12/2005)
1. Trong thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu
kiểm tra, giám sát hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu hoặc trong thời hạn hai
mươi tư giờ làm việc, kể từ thời điểm nhận được đơn yêu cầu tạm dừng làm
thủ tục hải quan, cơ quan hải quan có trách nhiệm xem xét, ra thông báo chấp
nhận đơn, nếu người nộp đơn đã thực hiện nghĩa vụ quy định tại Điều
5.A.3.12 khoản (1)(a),(b),(c) và (2) Phần này. Trong trường hợp từ chối đơn,
cơ quan hải quan phải trả lời bằng văn bản cho người nộp đơn yêu cầu, nêu rõ
lý do.

(Điều 38, Nghị định số 105/2006/NĐ-CP ngày 22/09/2006)
Thủ tục kiểm soát hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu liên quan đến sở hữu
trí tuệ tuân theo quy định tại Chương này và các quy định có liên quan của
pháp luật về hải quan.
Điều 5.D.1.39: Thời hạn hiệu lực của đơn đề nghị dài hạn
(khoản 1 Điều 49, Nghị định số 154/2005/NĐ-CP ngày 15/12/2005)
Thời hạn hiệu lực của đơn đề nghị dài hạn là 01 (một) năm kể từ ngày
cơ quan hải quan chấp nhận đơn. Thời hạn nói trên có thể được gia hạn thêm
01 (một) năm nhưng không được quá thời hạn bảo hộ đối tượng sở hữu trí tuệ
liên quan và người nộp đơn có trách nhiệm nộp lệ phí gia hạn theo quy định
của Bộ Tài chính.
Điều 5.D.1.40: Thủ tục thực thi quyền sở hữu trí tuệ
(Điều 50, Nghị định số 154/2005/NĐ-CP ngày 15/12/2005)
1. Sau khi chấp nhận đơn yêu cầu, Tổng cục Hải quan và Cục Hải quan
cung cấp cho các Chi cục Hải quan thuộc phạm vi yêu cầu nêu trong đơn các
thông tin đã được ghi nhận về hàng hoá giả mạo nhãn hiệu hoặc xâm phạm
quyền sở hữu trí tuệ và chỉ đạo việc tổ chức thực hiện.
2. Trường hợp chấp nhận đơn yêu cầu, căn cứ các thông tin được ghi
nhận nêu trong đơn yêu cầu và chỉ đạo của Tổng cục Hải quan, Cục Hải quan
tỉnh, thành phố, Chi cục Hải quan có trách nhiệm triển khai việc kiểm tra để
phát hiện hàng hoá nghi ngờ giả mạo nhãn hiệu và hàng hóa xâm phạm quyền


sở hữu trí tuệ. Khi phát hiện lô hàng nghi ngờ giả mạo nhãn hiệu hoặc xâm
phạm quyền sở hữu trí tuệ, Chi cục trưởng Hải quan tạm dừng làm thủ tục hải
quan và thông báo ngay bằng văn bản cho người nộp đơn, đồng thời yêu cầu
trong thời hạn 03 (ba) ngày làm việc, kể từ ngày ra thông báo phải nộp tiền
tạm ứng hoặc chứng từ bảo lãnh (nếu chưa nộp).
a) Trong thời hạn 03 (ba) ngày làm việc, kể từ thời điểm tạm dừng, nếu
người nộp đơn không đề nghị tiếp tục tạm dừng làm thủ tục hải quan và không



b) Chi cục Hải quan xác định tình trạng pháp lý về sở hữu trí tuệ đối
với hàng hoá bị tạm dừng làm thủ tục hải quan trên cơ sở các chứng cứ, lập
luận và tài liệu chứng minh của chủ lô hàng, chủ sở hữu. Chứng cứ, lập luận
và tài liệu chứng minh của người nộp đơn chỉ được xem xét khi cung cấp cho
Chi cục Hải quan trong thời hạn tạm dừng làm thủ tục hải quan;
c) Trường hợp Chi cục Hải quan căn cứ các chứng cứ, lập luận và tài
liệu đã cung cấp mà không xác định được tình trạng pháp lý về sở hữu trí tuệ
của hàng hoá bị tạm dừng làm thủ tục hải quan, có quyền yêu cầu người nộp
đơn gửi văn bản trưng cầu giám định tại tổ chức giám định về sở hữu trí tuệ để
cho ý kiến kết luận.
Điều 5.D.1.42: Tiếp tục làm thủ tục hải quan đối với hàng hoá bị tạm
dừng làm thủ tục hải quan và xử lý các bên liên quan
(Điều 52, Nghị định số 154/2005/NĐ-CP ngày 15/12/2005)
1. Chi cục trưởng Hải quan ra quyết định tiếp tục làm thủ tục hải quan
cho lô hàng bị tạm dừng làm thủ tục hải quan đối với các trường hợp sau:
a) Kết thúc thời hạn tạm dừng mà Chi cục Hải quan không nhận được
đơn yêu cầu xử lý hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ của người nộp đơn
hoặc văn bản của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền hoặc toà án xác
nhận đã tiếp nhận đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp về xâm phạm quyền sở
hữu trí tuệ liên quan đến lô hàng bị tạm dừng làm thủ tục hải quan;
b) Kết quả xác định tình trạng pháp lý về sở hữu trí tuệ khẳng định rằng
lô hàng bị tạm dừng làm thủ tục hải quan không xâm phạm quyền sở hữu trí
tuệ;
c) Quyết định của các cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp về
sở hữu trí tuệ, trong đó khẳng định lô hàng bị tạm dừng thủ tục hải quan
không phải là hàng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ;
d) Quyết định tạm dừng làm thủ tục hải quan bị đình chỉ hoặc thu hồi
theo quyết định giải quyết khiếu nại;

Chủ sở hữu quyền sở hữu trí tuệ có trách nhiệm chủ động cung cấp
thông tin liên quan tới hàng hoá xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ cho cơ quan
hải quan; phối hợp với Cục Sở hữu trí tuệ, Cục Bản quyền tác giả văn học
nghệ thuật và Tổng cục Hải quan trong việc bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ
liên quan cho công chức hải quan nhằm nâng cao khả năng nhận biết, chủ
động kiểm tra, ngăn chặn hàng hoá xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ tại cửa
khẩu.
Điều 5.D.1.45: Trách nhiệm của các cơ quan có thẩm quyền
(Điều 55, Nghị định số 154/2005/NĐ-CP ngày 15/12/2005)
1. Tổng cục Hải quan có trách nhiệm tổ chức triển khai thực hiện các
biện pháp kiểm soát biên giới về sở hữu trí tuệ theo đúng quy định pháp luật.
2. Cục Sở hữu trí tuệ thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ và Cục Bản
quyền tác giả văn học nghệ thuật thuộc Bộ Văn hoá - Thông tin có trách
nhiệm cung cấp cho Tổng cục Hải quan các thông tin liên quan đến các đối
tượng sở hữu trí tuệ đang được bảo hộ tại Việt Nam và phối hợp với Tổng cục


Hải quan chỉ đạo nghiệp vụ và tổ chức bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ về
sở hữu trí tuệ cho các đơn vị Hải quan trực tiếp thực hiện các biện pháp kiểm
soát biên giới về sở hữu trí tuệ.
3. Cục Sở hữu trí tuệ, Cục Bản quyền tác giả văn học nghệ thuật, các cơ
quan quản lý sở hữu trí tuệ địa phương có trách nhiệm thực hiện giám định về
sở hữu trí tuệ theo yêu cầu của cơ quan hải quan và các bên liên quan theo
thẩm quyền và thủ tục quy định của pháp luật sở hữu trí tuệ.




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status