Hoàn thiện nội dung phân tích tài chính các ngân hàng thương mại cổ phần niêm yết ở Việt Nam (Luận án tiến sĩ) - Pdf 53

MỞ ĐẦU
1.

Tính cấp thiết của đề tài

Trong quá trình phát triển KT-XH ở Việt Nam, các Ngân hàng thương mại
(NHTM) ngày càng đóng vai trò quan trọng và khẳng định được vị trí của mình là
trung gian tín dụng, trung gian thanh toán và tạo ra phương tiện thanh toán trong
nền kinh tế. Có thể nói hoạt động của NHTM liên quan đến hầu hết các lĩnh vực của
nền kinh tế. Nền kinh tế thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng vừa trải qua
khủng hoảng trầm trọng mà tâm điểm của cuộc khủng hoảng là hệ thống tài chính –
ngân hàng. Trên thế giới, một loạt ngân hàng lớn như Washington Mutual,
LehmonBrother đã bị sụp đổ. Còn ở Việt Nam, trước năm 2012, nền kinh tế và hệ
thống ngân hàng thực thi chính sách tăng trưởng đầy tham vọng và dẫn đến hệ lụy
là thanh khoản của hệ thống ngân hàng gặp khó khăn, lãi suất liên ngân hàng tăng
cao, nợ xấu tăng nhanh, hiệu quả và lợi nhuận giảm sút- một số ngân hàng âm vốn
điều lệ như Navibank, Habubank, GP bank. Trước tình hình đó ngành ngân hàng đã
và đang tiến hành tài cơ cấu hoạt động, điều này gây ra xáo trộn toàn hệ thống và
hao phí lớn sức lực, tiền của của xã hội. Do đó, về lâu dài cần có biện pháp quản lý
để các NHTM hoạt động hiệu quả, bền vững.
Theo số liệu của Ngân hàng Nhà Nước, tính đến 31/12/2017, trong nước có 35
NHTM thì có 31 NHTM cổ phần, trong số đó có 10 NHTM cổ phần niêm yết trên
thị trường chứng khoán. Do đó, tình hình tài chính của NHTM có ý nghĩa quan
trọng đối với các cổ đông, là cơ sở để họ ra quyết định. Đặc biệt với các NHTM cổ
phần (NHTMCP) niêm yết, các ngân hàng này có điều kiện thuận lợi trong việc huy
động vốn đầu tư nhưng phải đảm bảo các điều kiện về tài chính do Ủy ban chứng
khoán Nhà Nước đưa ra. Ngoài ra, hoạt động của các NHTMCP niêm yết rất nhạy
cảm với chấn động chính trị- kinh tế- xã hội và ngược lại, biến động tài chính của
các NHTMCP niêm yết tác động mạnh mẽ đến thị trường chứng khoán, đến toàn bộ
nền kinh tế.
Phân tích tài chính là công cụ để nhận thức các hiện tượng, quá trình và kết

dung phân tích tài chính NHTMCP.
- Mô tả thực trạng và đánh giá thực trạng nội dung phân tích tài chính của các
NHTMCP niêm yết ở Việt Nam.
- Đề xuất các giải pháp và điều kiện thực hiện giải pháp hoàn thiện nội dung phân
tích tài chính các NHTMCP niêm yết ở Việt Nam.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của luận án là: nội dung phân tích tài chính các
NHTMCP
- Phạm vi nghiên cứu
+ Về nội dung: Luận án tập trung nghiên cứu lý luận và thực trạng, đề xuất giải
pháp hoàn thiện nội dung phân tích tài chính của các NHTMCP nhằm cung cấp
thông tin phục vụ quản trị ngân hàng.
+Về không gian: Giới hạn tại các NHTMCP niêm yết ở Việt Nam hiện nay
+ Về thời gian: Luận án nghiên cứu trong giai đoạn 2013-2017

2


4. Phương pháp nghiên cứu
4.1. Phương pháp luận được sử dụng trong nghiên cứu
Tác giả sử dụng triết học Mác- Lênin, cụ thể sử dụng phép duy vật biện chứng
và phép duy vật lịch sử để làm phương pháp luận cho luận án. Phương pháp này là
nền tảng để tác giải lựa chọn các phương pháp nghiên cứu cụ thể nhằm giải quyết
các vấn đề đặt ra.
4.2. Phương thức tiếp cận
Để thực hiện được mục tiêu nghiên cứu đề ra, tác giả đã vận dụng kết hợp
phương pháp định tính và định lượng. Phương pháp định tính được sử dụng nhằm
mô tả và phân tích đặc điểm kinh doanh của NHTMCP, các nhân tố ảnh hưởng đến
nội dung phân tích tài chính NHTMCP. Phương pháp định tính được thực hiện
thông qua việc thu thập dữ liệu dưới dạng văn bản, quyết định (dữ liệu dạng chữ),

giả sử dụng trực tiếp để minh họa trong chương 2 và chương 3 của luận án.
Nhìn chung, nhận thức về tầm quan trọng của việc phân tích tài chính trong
mỗi NHTMCP niêm yết còn hạn chế. Hơn nữa, việc không thể kiểm định được kết
quả trả lời của những người tham gia khảo sát vì những câu trả lời này mang tính
chủ quan và phụ thuộc rất nhiều vào nhận thức của người trả lời. Do đó, số liệu
trong khảo sát có thể ảnh hưởng nhất định đến chất lượng của luận án.
5. Những đóng góp của luận án
- Về lý luận: Luận án góp phần hệ thống hoá và làm sáng tỏ cơ sở lý luận về
nội dung phân tích tài chính các NHTMCP phục vụ công tác quản trị của ngân
hàng, cung cấp thông tin cho nhà đầu tư và công tác giám sát tài chính của cơ quan
quản lý Nhà Nước đối với NHTMCP niêm yết
- Về thực tiễn: Luận án đã tổng kết và mô tả thực trạng nội dung phân tích tài
chính tại các NHTMCP niêm yết ở Việt Nam hiện nay.
- Về tính ứng dụng vào thực tiễn: Luận án đề xuất các giải pháp nhằm hoàn
thiện nội dung phân tích tài chính các NHTMCP niêm yết ở Việt Nam phù hợp với
đặc điểm đặc thù của các NHTMCP niêm yết ở nước ta hiện nay.
6. Kết cấu luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận án
kết cấu thành 3 chương:
Chương 1: Lý luận cơ bản về nội dung phân tích tài chính trong các ngân
hàng thương mại cổ phần niêm yết
Chương 2: Thực trạng nội dung phân tích tài chính trong các ngân hàng
thương mại cổ phần niêm yết ở Việt Nam
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện nội dung phân tích tài chính các ngân
hàng thương mại cổ phần niêm yết ở Việt Nam

4


TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

(1) Phân tích quá trình tạo lập và phân phối vốn; (2) Phân tích tình hình và khả năng
thanh toán; (3) Phân tích khả năng sinh lời; (4) Đánh giá doanh nghiệp. Ngoài ra,
nội dung phân tích có thể được chia nhỏ và tiến hành theo tài liệu sưu tầm được. Cụ

5


thể: (1) Phân tích bảng cân đối kế toán; (2) Phân tích báo cáo kết quả kinh doanh;
(3) phân tích báo cáo lưu chuyển tiền tệ; (4) Phân tích mức độ đảm bảo vốn cho sản
xuất kinh doanh; (5) cấu trúc tài chính và tình hình đầu tư; (6) Phân tích tình hình
khả năng thanh toán; (7)Phân tích hiệu quả kinh doanh và khả năng sinh lời; (8)
Phân tích hiệu quả đầu tư cổ phiếu; (9) Định giá doanh nghiệp. Tác giả Nguyễn
Trọng Cơ đã căn cứ vào đặc điểm tài chính của doanh nghiệp phi tài chính và mục
đích phân tích để đưa ra hệ thống nội dung phân tích tài chính doanh nghiệp. Tác
giả luận án đã phân biệt cơ chế quản lý tài chính trong doanh nghiệp cổ phần và
doanh nghiệp khác làm cơ sở đưa ra hệ thống chỉ tiêu phân tích riêng cho công ty cổ
phần. Ngoài các nội dung phân tích TCDN nói chung, tác giả đã đề xuất nội dung
“Phân tích hiệu quả đầu tư cổ phiếu” và hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu đánh giá
doanh nghiệp. Như vậy, theo tác giả Nguyễn Trọng Cơ có thể hệ thống và xây dựng
nội dung phân tích tài chính doanh nghiệp dựa vào chu trình tài chính hoặc tài liệu
phân tích.
Luận án tiến sĩ kinh tế:“Hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu phân tích tài chính trong
công ty cổ phần niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam”, (2011) của
Nguyễn Thị Quyên [45]: hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về hệ thống chỉ
tiêu phân tích tài chính trong các doanh nghiệp nói chung và công ty cổ phần niêm
yết nói riêng; phân tích sâu sắc và đánh giá đúng thực trạng hệ thống chỉ tiêu phân
tích tài chính của công ty cổ phần niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam.
Từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu phân tích tài chính của các
công ty cổ phần niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Luận án đã đưa ra
hệ thống chỉ tiêu phân tích tài chính trong công ty cổ phần niêm yết trên thị trường

Thu Phong [41] Luận án đi sâu vào phân tích một khía cạnh tình hình tài chính là
hiệu quả kinh doanh và không chỉ hoàn thiện chỉ tiêu, phương pháp phân tích mà cả
tổ chức phân tích. Tác giả cho rằng, khi đánh giá hiệu quả kinh doanh của công ty
cổ phần niêm yết trên thị trường chứng khoán không chỉ so sánh giá trị các chỉ tiêu
giữa các thời kì, so sánh với trung bình ngành mà cần so sánh với các hình thức đầu
tư khác như gửi tiết kiệm, đầu tư trái phiếu, kì phiếu hay so sánh với tỉ lệ lạm phát.
NCS cho rằng đây là quan điểm hợp lý.
Ngoài ra, còn rất nhiều luận án viết về phân tích TCDN thuộc các lĩnh vực
khác nhau như “Hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu phân tích tài chính trong các doanh
nghiệp xây dựng của Việt Nam”,(2002) của Nguyễn Ngọc Quang [43]; “Hoàn thiện
hệ thống chỉ tiêu phân tích tài chính tại tổng công ty Hàng không Việt Nam”,
(2008) của Trần Thị Minh Phương [42];“Hoàn thiện nội dung phân tích tài chính
trong các công ty cổ phần thuộc tổng công ty công nghiệp xi măng Việt
Nam”,(2014) của Phạm Thị Quyên [46]…Các luận án này ngoài những điểm tương
đồng về phương pháp phân tích, nội dung hay chỉ tiêu phân tích tài chính của doanh
nghiệp nói chung thì đều có những nội dung hay chỉ tiêu đặc trưng xuất phát từ đặc
điểm hoạt động sản xuất kinh doanh của đối tượng phân tích mà các tác giả lựa
chọn. Đối với doanh nghiệp xây dựng, tác giả Nguyễn Ngọc Quang đưa ra chỉ tiêu
đặc trưng: Tỉ lệ hoàn thành khối lượng xây dựng, tốc độ tăng trưởng giá trị sản

7


lượng xây dựng, thời hạn trung bình 1 công trình chưa được bàn giao. Đối với công
ty Hàng Không- vận tải kĩ thuật cao, tác giả Trần Thị Minh Hương xây dựng chỉ
tiêu riêng: nhóm chỉ tiêu doanh thu – chi phí tính chi tiết trên 1 đơn vị hành khách
(1 đơn vị vận chuyển); nhóm chỉ tiêu phản ánh năng lực hoạt động so với thiết kế.
Tác giả Phạm Thị Quyên thì lựa chọn quan điểm xây dựng nội dung phân tích tài
chính theo quy trình tài chính và hoàn thiện nội dung “Phân tích tình hình bảo toàn,
phát triển vốn cồ phần”- đặc trưng cho công ty cổ phần.


+ Đánh giá khái quát tình hình Tài sản – Nguồn vốn
+ Đánh giá tình hình vốn tự có
+ Đánh giá tình hình huy động vốn
+ Đánh giá tình hình dự trữ và khả năng thanh toán
+ Đánh giá tình hình hoạt động tín dụng
+ Đánh giá tình hình thu nhập và chi phí
+ Đánh giá tình hình thực hiện chỉ tiêu Lợi nhuận và khả năng sinh lời
Luận án đã hệ thống lí luận, trình bày thực trạng và hoàn thiện các phương
pháp phân tích hoạt động kinh doanh tương tự phân tích TCDN như phương pháp
so sánh, phân chia, Dupont.
Như vậy, NCS có thể kế thừa các chỉ tiêu phân tích mà tác giả Lê Thị Xuân đã
hệ thống hóa và xây dựng thêm về các nội dung: phân tích tình hình tài sản- nguồn
vốn, phân tích tình hình vốn tự có.
Tuy nhiên, theo NCS, các nhóm chỉ tiêu mà tác giả xây dựng vừa theo quy
trình tài chính như nói đến Tài sản- nguồn vốn, thu nhập chi phí lại vừa theo các
hoạt động kinh doanh như tình hình huy động vốn, hoạt động tín dụng, như vậy sẽ
khó bao quát đủ các nội dung phân tích. Ngoài ra, tác giả Lê Thị Xuân chưa đề cập
sâu đến một số khía cạnh quan trọng về hoạt động của ngân hàng như an toàn hoạt
động ngân hàng, rủi ro trong kinh doanh ngân hàng (tác giả mới đề cập đến rủi ro
tín dụng khi phân tích hoạt động tín dụng), chưa phân tích dòng tiền. Luận án chủ
yếu hoàn thiện về chỉ tiêu phân tích nên phương pháp phân tích tác giả hệ thống và
hoàn thiện chưa đầy đủ như chưa đề cập đến phương pháp phân tích nhân tố,
phương pháp phân tích định lượng. Đối tượng nghiên cứu của tác giả là NHTM ở
Việt Nam nói chung, không phải NHTMCP niêm yết ở Việt Nam.
Một số tác giả viết luận án tiến sĩ về phân tích một khía cạnh tài chính của
NHTM mà NCS có thể kế thừa như: Luận án “Phân tích nhân tố ảnh hưởng đến
hiệu quả hoạt động của NHTM ở Việt Nam”, (2008) của Nguyễn Việt Hùng [11];
luận án “Hiệu quả hoạt động kinh doanh của các NHTM Việt Nam sau M&A”,
(2016) của Nguyễn Quang Minh [17]. Các luận án này đã nêu ra những vấn đề lí

của Phan Thị Hằng Nga [18] đã đưa ra các chỉ tiêu đánh giá năng lực tài chính của
NHTM. Tác giả Phan Thị Hằng Nga và Lã Thị Lâm đã đưa ra quan điểm về năng
lực tài chính của NHTM; hệ thống hóa các chỉ tiêu phản ánh năng lực tài chính của
NHTM theo các khía cạnh: vốn chủ sở hữu, tỉ lệ an toàn vốn tối thiểu, quy mô- chất
lượng tài sản, khả năng thanh khoản, khả năng sinh lời, nguồn vốn huy động; sau đó
sử dụng các chỉ tiêu này để đánh giá năng lực tài chính của các NHTM Việt Nam.
Tác giả Phan Thị Hằng Nga còn sử dụng phương pháp định lượng để đánh giá năng
lực tài chính của NHTM Việt Nam theo tiêu chuẩn Camel. Các chỉ tiêu trên cũng
phần nào phản ánh tình hình tài chính của NHTM, tuy nhiên theo NCS các chỉ tiêu
này mới phản ánh khái quát, chưa chi tiết và đặc biệt các tác giả chưa đề cập đến
phân tích các rủi ro tài chính của NHTM.
Có nhiều tác giả viết về quản trị rủi ro của NHTM mà NCS có thể kế thừa để
hệ thống hóa về nội dung phân tích rủi ro tài chính của NHTMCP như: Luận án

10


“Rủi ro thanh khoản tại các NHTM Việt Nam” (2016) của Nguyễn Bảo Huyền [12]
đã hệ thống lý luận cơ bản về rủi ro thanh khoản và quản lý rủi ro thanh khoản của
NHTM; Luận án “Quản lý rủi ro tín dụng tại NHTMCP công thương Việt Nam”
(2013) của Nguyễn Đức Tú [50] đã khái quát hóa những nguyên lý cơ bản về rủi ro
và quản lý rủi ro tín dụng của NHTM; Luận án “Quản lý rủi ro lãi suất trong hoạt
động kinh doanh của NHTM Việt Nam” (2011) của Tạ Ngọc Sơn [47] đã phân tích,
đánh giá tình hình quản lý rủi ro lãi suất của các NHTM Việt Nam trong giai đoạn
2007-2009; xây dựng giải pháp hoàn thiện công tác quản lý rủi ro lãi suất tại các
NHTM. Tác giả đưa ra 3 phương pháp đo lường rủi ro lãi suất: khe hở nhạy cảm lãi
suất (GAP), độ nhạy cảm lãi suất (PVBP), giá trị có thể tổn thất (VAR).
2. Khoảng trống và câu hỏi nghiên cứu của luận án
 Khoảng trống nghiên cứu:
Qua nghiên cứu tổng quan các công trình nghiên cứu ở trên, NCS nhận thấy:

- Kết quả và tồn tại, nguyên nhân của tồn tại trong thực trạng nội dung phân
tích tài chính của các NHTMCP niêm yết ở Việt Nam?
- Cần hoàn thiện nội dung phân tích tài chính các NHTMCP niêm yết ở Việt
Nam như thế nào để cung cấp thông tin hữu ích cho nhà quản trị ngân hàng và phù
hợp với định hướng phát triển ngành ngân hàng của Đảng và Chính phủ?

12


CHƯƠNG 1. LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ NỘI DUNG PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH
CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN
1.1. TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN
1.1.1. Khái niệm, phân loại ngân hàng thương mại
1.1.1.1. Khái niệm ngân hàng thương mại
Trong nền kinh tế thị trường, hệ thống các trung gian tài chính giữ vai trò quan
trọng đối với nhiều chủ thể và trong các hoạt động khác nhau. NHTM được xem là
trung gian tài chính quan trọng nhất. Đến nay có nhiều quan điểm khác nhau về
khái niệm NHTM
Ở Mỹ, NHTM là công ty kinh doanh tiền tệ, chuyên cung cấp dịch vụ tài chính
và hoạt động trong ngành công nghiệp dịch vụ tài chính.
Đạo luật ngân hàng Pháp (1941) cũng đã định nghĩa: NHTM là những xí
nghiệp hay cơ sở mà nghề nghiệp thường xuyên là nhận tiền bạc của công chúng
dưới hình thức kí thác hoặc dưới các hình thức khác và sử dụng tài nguyên đó cho
chính họ trong các nghiệp vụ về chiết khấu, tín dụng và tài chính.
Theo giáo sư Peter S Rose “Ngân hàng là một trung gian tài chính nhận tiền
gửi và cung cấp vốn vay, cung cấp một hệ thống các dịch vụ của một định chế tài
chính” [63,tr.3].
Ở Việt Nam, theo Luật các TCTD 47/2010/QH12 (có hiệu lực từ ngày
1/1/2011) thì:[44]
Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng có thể được thực hiện tất cả các hoạt

do các cổ đông góp vốn. Vốn của NHTMCP được chia thành các phần bằng nhau
gọi là cổ phần. NHTMCP đủ điều kiện và đã đưa cổ phiếu ra giao dịch trên thị
trường chứng khoán gọi là NHTMCP niêm yết.
NHTM liên doanh là ngân hàng được thành lập dưới hình thức góp vốn liên
doanh giữa các đối tác thuộc các thành phần kinh tế khác nhau.
NHTM nước ngoài bao gồm: chi nhánh ngân hàng được thành lập theo pháp
luật và thuộc sở hữu của nước ngoài và ngân hàng 100% vốn của nhà đầu tư nước
ngoài được Chính phủ nước sở tại cấp giấy phép hoạt động và tuân thủ theo pháp
luật của nước đó.
Trong luận án này, tác giả tập trung nghiên cứu nội dung phân tích tài chính
của NHTMCP.
 Theo quy mô hoạt động, NHTM được chia thành 2 loại:
NHTM duy nhất là NHTM chỉ có một hội sở hoạt động duy nhất trên phạm vi
lãnh thổ quốc gia.
NHTM mạng lưới là loại hình NHTM có hội sở trung ương và các chi nhánh
hoạt động trên lãnh thổ quốc gia và ở nước ngoài.
 Theo lĩnh vực hoạt động, NHTM được chia thành 2 loại:
NHTM chuyên doanh: là NHTM chỉ phục vụ cho một hay một số nhóm ngành
kinh tế như: nông nghiệp, xuất nhập khẩu và đầu tư…

14


NHTM đa ngành: là NHTM phục vụ cho mọi ngành kinh tế trên địa bàn
nhất định.
 Theo chiến lược kinh doanh: NHTM được chia thành 3 loại:
NHTM bán buôn: là NHTM chỉ giao dịch và cung ứng dịch vụ cho đối tượng
khách hàng doanh nghiệp chứ không giao dịch với khách hàng cá nhân
NHTM bán lẻ: là NHTM giao dịch và cung ứng dịch vụ cho đối tượng khách
hàng cá nhân


- Người gửi tiền: thu được lợi ích từ vốn tạm thời nhàn rỗi với khoản lãi tiền
gửi. Hơn nữa, NHTMCP còn đảm bảo an toàn cho các khoản tiền gửi.
- Người đi vay: thỏa mãn được nhu cầu vốn cho sản xuất kinh doanh hoặc tiêu
dùng, mà không phải tốn kém nhiều thời gian cho việc tìm kiếm nơi cung cấp.
- NHTMCP: sẽ thu được lợi nhuận từ chênh lệch giữa lãi suất cho vay và lãi
suất tiền gửi. Lợi nhuận này là cơ sở để tồn tại và phát triển ngân hàng.
- Đối với nền kinh tế: chức năng này góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế,
điều hòa lưu thông tiền tệ, ổn định sức mua đồng tiền và kiềm chế lạm phát.
1.1.2.2. Chức năng trung gian thanh toán
NHTMCP trở thành trung gian thanh toán lớn nhất hiện nay ở hầu hết các
quốc gia. Các NHTMCP thay mặt người mua thanh toán giá trị hàng hóa, dịch vụ
cho người bán nhằm tiết kiệm chi phí đi lại, vận chuyển tiền của cả 2 bên. Để thanh
toán qua ngân hàng nhanh chóng, thuận tiện và tiết kiệm chi phí, ngân hàng đã đưa
ra nhiều hình thức thanh toán như thanh toán bằng séc, ủy nhiệm chi, ủy nhiệm thu,
thẻ... cung cấp mạng lưới thanh toán điện tử hiện đại và cung cấp tiền giấy khi
khách hàng cần. Các NHTMCP thực hiện thanh toán bù trừ với nhau thông qua
Ngân hàng Trung ương, hoặc thông qua các trung tâm thanh toán. Công nghệ thanh
toán hiện đại qua ngân hàng được mở rộng, nhiều hình thức thanh toán được chuẩn
hóa góp phần tạo tính thống nhất trong thanh toán không chỉ giữa các ngân hàng
trong một quốc gia, mà còn giữa các ngân hàng trên toàn thế giới. Chức năng trung
gian tài chính – tài chính gián tiếp- của các NHTMCP đã khắc phục được hầu hết
các nhược điểm của thanh toán dùng tiền mặt – tài chính trực tiếp - giữa các chủ thể
trong nền kinh tế, giúp các quan hệ tài chính minh bạch, lành mạnh, an toàn hơn
đồng thời cũng khiến cho dòng vốn của nền kinh tế luân chuyển nhanh hơn, hiệu
quả hơn, lợi ích của tất cả các bên đều được đảm bảo và gia tăng khi chuyển dòng
vốn qua các NHTMCP. Chính vì vậy, các NHTMCP ngày càng phát triển và là 1
thành tố không thể thiếu được trong nền kinh tế thị trường.
Chức năng trung gian thanh toán có ý nghĩa quan trọng đối với hoạt động kinh tế:
- Nhờ tập trung công việc thanh toán của xã hội vào ngân hàng nên mọi khoản

Chức năng trung gian tín dụng - trung gian thanh toán – chức năng tạo tiền
của NHTMCP trong nền kinh tế hiện nay được thể hiện khái quát qua sơ đồ 1 sau:

17


Sơ đồ 1.1. Hệ thống tài chính trực tiếp và gián tiếp
Tài chính gián tiếp

Vốn

Các trung gian tài
chính (gồm
NHTM)
Vốn

Người tiết kiệm

Người sử dụng vốn

- Cá nhân, gia đình
- Doanh nghiệp, tổ
chức

Vốn

Thị trường
tài chính

Vốn


Giấy tờ có giá là công cụ Nợ do ngân hàng phát hành để huy động vốn trên thị
trường. Nguồn vốn này tương đối ổn định. Lãi suất của loại này phụ thuộc vào sự
cấp thiết của việc huy động vốn nên thường cao hơn lãi suất tiền gửi có kỳ hạn
thông thường. Các giấy tờ có giá do NHTMCP phát hành gồm kỳ phiếu, trái phiếu,
chứng chỉ tiền gửi có mệnh giá.
Nguồn vốn đi vay nhằm tạo khả năng thanh toán cho NHTMCP. NHTMCP có
thể vay từ các TCTD trong nước, các ngân hàng nước ngoài, NHNN. Khi vay vốn
các NHTMCP phải thực hiện quy định về chế độ tín dụng hiện hành và hợp đồng
tín dụng với cương vị là người đi vay.
1.1.3.2. Hoạt động tín dụng và đầu tư:
 Tín dụng ngân hàng là giao dịch tài sản giữa ngân hàng với bên đi vay (là
các tổ chức kinh tế, cá nhân trong nền kinh tế) trong đó ngân hàng chuyển giao tài
sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời gian nhất định theo thoả thuận, và bên đi
vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện cả vốn gốc và lãi cho ngân hàng khi đến
hạn thanh toán. Tín dụng là nghiệp vụ có vị trí rất quan trọng trong hoạt động kinh
doanh của mỗi NHTMCP.
Xuất phát từ đặc trưng của hoạt động ngân hàng là kinh doanh trên lĩnh vực
tiền tệ nên tài sản giao dịch trong tín dụng ngân hàng chủ yếu là dưới hình thức tiền
tệ. Tuy nhiên, trong một số hình thức tín dụng, như cho thuê tài chính thì tài sản
trong giao dịch tín dụng cũng có thể là các tài sản khác như tài sản cố định.
Tín dụng là nghiệp vụ sinh lời lớn nhất của ngân hàng thương mại thông qua
thu lãi cho vay. Lãi cho vay, theo chuẩn mực kế toán Việt Nam VAS 14 thuộc loại
doanh thu cung cấp dịch vụ, và nó gắn liền với thời hạn sử dụng vốn vay của khách
hàng vay.
Tín dụng là nghiệp vụ tiềm ẩn nhiều rủi ro. Để chống đỡ với các rủi ro có thể
xảy ra, các NHTMCP phải tiến hành phân loại nợ để làm cơ sở cho việc đánh giá
chất lượng tín dụng và trích lập dự phòng rủi ro tín dụng theo định kỳ.
 Đầu tư của ngân hàng thương mại được chia làm 2 loại là đầu tư vào tài sản
cố định và đầu tư tài chính. Nhưng khi nói đến hoạt động đầu tư của ngân hàng,

đến tiền mặt phát sinh đều đặn và tăng lên. Như vậy trong quá trình phân tích tài
chính NHTMCP, việc đánh giá khả năng huy động, thanh toán bằng tiền mặt sẽ
khác với các DN thông thường.
 Thứ hai, hoạt động của NHTMCP là chấp nhận và quản lý rủi ro.
Các hoạt động của NHTMCP tạo ra tài sản có đặc điểm là tỉ lệ tài sản được tài
trợ bằng vốn chủ sở hữu khá nhỏ, các tài sản ngoại bảng chiếm tỉ lệ cao và các tài
sản nhìn chung có mức độ rủi ro cao. Tuy nhiên, muốn hoạt động, NHTMCP phải
biết chấp nhận rủi ro để lấy một mức giá cho sự chấp nhận đó đồng thời luôn chú
trọng quản lý rủi ro.
 Thứ ba, NHTMCP là kênh dẫn vốn quan trọng trong nền kinh tế
Hoạt động chủ yếu của NHTMCP là cấp tín dụng cho khách hàng có nhu cầu
trên cơ sở nguồn vốn của những người gửi tiền. Do đó, NHTMCP phải chịu trách
nhiệm xã hội trước nhiều nhóm người có lợi ích liên quan. Số lượng khách hàng gửi
tiền và vay tiền vô cùng lớn và đa dạng về độ tuổi, lĩnh vực, ngành nghề hoạt

20


động,...Nếu NHTMCP hoạt động không hiệu quả, không thể chi trả lãi và gốc cho
người gửi tiền thì sẽ tác động tiêu cực rất lớn đến xã hội. NHTMCP tài trợ vốn cho
sự phát triển kinh tế của một quốc gia. Vì vậy, hoạt động của NHTMCP chịu sự
quản lý chặt chẽ của pháp luật Nhà Nước mà đại diện là Ngân hàng Nhà nước.
Ngoài ra, trong quá trình hội nhập và mở cửa thị trường tài chính, các NHTMCP
cần phải tuân thủ các thông lệ chung của quốc tế.
 Thứ tư, hoạt động của NHTMCP có tính cạnh tranh cao
Ngày nay, hoạt động của ngân hàng đã trở thành ngành công nghiệp ngân
hàng. Số lượng NHTM tăng lên nhanh chóng, mỗi NHTMCP không chỉ cạnh tranh
với NHTM trong nước mà còn chi nhánh NHTM nước ngoài. Các sản phẩm của
ngân hàng mang tính tương đồng, dễ bắt chước. Khả năng cạnh tranh của ngân hàng
phụ thuộc vào mức độ hoàn hảo của các sản phẩm dịch vụ mà nó cung cấp. Vì vậy,

Theo các nhà khoa học Học viện tài chính: “Phân tích tài chính doanh nghiệp
là tổng thể các phương pháp cho phép đánh giá tình hình tài chính đã qua và hiện
nay, dự đoán tình hình tài chính trong tương lai của doanh nghiệp, giúp các nhà
quản lý đưa ra các quyết định quản lý hữu hiệu, phù hợp với mục tiêu họ quan tâm”
[7, tr8]
Theo các nhà khoa học của Đại học kinh tế quốc dân: “Phân tích tình hình tài
chính là một hệ thống các phương pháp nhằm đánh giá tình hình tài chính của
doanh nghiệp trong một thời gian hoạt động nhất định. Trên cơ sở đó, giúp các nhà
quản trị doanh nghiệp đưa ra các quyết định chuẩn xác trong quá trình kinh doanh”
[39, tr29]
Theo quan điểm của Josette Peyrard: “Phân tích tài chính có thể được định
nghĩa như một tổng thể các phương pháp cho phép đánh giá tình hình tài chính quá
khứ và hiện tại, giúp cho việc ra quyết định quản trị và đánh giá doanh nghiệp một
cách chính xác” [60, tr12]
NHTMCP cũng là một doanh nghiệp nên từ các cách tiếp cận trên về phân tích
tài chính doanh nghiệp, NCS cho rằng: phân tích tài chính NHTMCP là quá trình
sử dụng hệ thống phương pháp để đánh giá tình hình tài chính của NHTMCP trong
quá khứ và hiện tại, từ đó dự đoán tình hình tài chính của NHTMCP trong tương
lai, qua đó giúp các đối tượng quan tâm đưa ra các quyết định kinh tế phù hợp với
lợi ích của họ.
Phân tích tài chính NHTMCP có 3 chức năng cơ bản là chức năng đánh giá,
chức năng dự báo và chức năng điều chỉnh.
Chức năng đánh giá, phân tích tài chính NHTMCP phải làm rõ những vấn đề
như sự vận động các nguồn lực tài chính trong NHTMCP diễn ra như thế nào, tác
động ra sao đến quá trình kinh doanh, chịu ảnh hưởng của những yếu tố nào; xem
xét những kết quả đạt được có đúng hay vượt mục tiêu, kế hoạch đề ra; quan hệ
kinh tế giữa NHTMCP với các đối tượng có liên quan đã diễn ra như thế nào?...
Chức năng dự báo, phân tích tài chính NHTMCP sẽ giúp các chủ thể quản lý
thấy được tiềm lực tài chính, sự vận động của vốn trong tương lai, đặc biệt phải


thời thực hiện được mục tiêu của chính sách trong mỗi thời kì.
Đối với Ủy ban chứng khoán Nhà Nước, phân tích tài chính giúp họ đánh giá
được sức mạnh tài chính của các NHTMCP niêm yết cũng như chất lượng “hàng
hóa” giao dịch trên thị trường chứng khoán. Từ đó, Ủy ban chứng khoán ra các
quyết định đảm bảo sự phát triển của thị trường như hủy niêm yết hay cho phép
niêm yết bổ sung…

23


Đối với người lao động trong NHTMCP, phân tích tài chính nhằm đánh giá
tình hình kinh doanh, triển vọng phát triển trong tương lai của NHTMCP. Qua đó
giúp người lao động định hướng việc làm.
Tóm lại, mục tiêu phân tích cụ thể đối với các đối tượng khác nhau là khác
nhau. Tuy nhiên, mục tiêu chung của phân tích tài chính NHTMCP là cung cấp
thông tin về tình hình tài chính của NHTMCP phục vụ cho việc ra quyết định của
các đối tượng liên quan.
1.2.2. Nhân tố ảnh hưởng đến nội dung phân tích tài chính ngân hàng thương
mại cổ phần
1.2.2.1. Nhân tố khách quan
Hoạt động kinh doanh đặc thù của NHTMCP
Hoạt động kinh doanh của NHTMCP chứa đựng rất nhiều rủi ro. Rủi ro của
NHTMCP tổng hợp từ rủi ro của tất cả các nhóm đối tượng có liên quan trong nền
kinh tế gồm: Chính phủ, doanh nghiệp và hộ gia đình thông qua các chính sách kinh
tế vĩ mô của nhà nước, hoạt động đầu tư của các đối tượng khách hàng, trình độ dân
trí, năng lực quản trị, điều hành chính của ngân hàng và cả những bất ổn của tự
nhiên, chính trị... Hơn nữa, rủi ro trong hoạt động kinh doanh NHTMCP nếu xảy ra
sẽ gây ảnh hưởng lớn cho nền kinh tế hơn bất kỳ rủi ro của loại hình doanh nghiệp
nào vì tính chất lây lan có thể làm rung chuyển toàn bộ nền kinh tế cũng như các thể
chế chính trị. Chính đặc điểm đặc thù về lĩnh vực kinh doanh và mức độ lây lan rủi

của NHTMCP gọi là cổ đông. Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về nợ và các nghĩa vụ
tài sản khác của ngân hàng trong phạm vi vốn góp của mình. Cổ đông có quyền tự
do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác. Mọi hoạt đông chuyển
nhượng cổ phần diễn ra với tư cách cá nhân nên không ảnh hưởng đến vốn điều lệ
và hoạt động của NHTMCP. Tuy nhiên, giao dịch cổ phiếu của NHTMCP trên thị
trường là tấm gương phản chiếu tình hình tài chính của ngân hàng. Ngược lại, tình
hình tài chính của NHTMCP thay đổi có thể ảnh hưởng lớn đến hoạt động của thị
trường chứng khoán. Nhà đầu tư, các tổ chức tài chính trung gian có thể định giá
NHTMCP thông qua giá trị của cổ phiếu.
- Ngoài hình thức huy động vốn góp ban đầu, NHTMCP có thể phát hành các
loại chứng khoán (cổ phiếu, trái phiếu) ra công chúng để huy động vốn. Đợt phát
hành của NHTMCP có thành công hay không phụ thuộc rất nhiều vào đánh giá của
nhà đầu tư đối với tình hình tài chính của NHTMCP. Việc phân phối lợi nhuận sau
thuế thuộc quyền quyết định của Đại hội cổ đông của công ty, NHTMCP có nhu cầu
tăng vốn có thể ưu tiên giữ lại lợi nhuận.
Vì vậy, phân tích tài chính NHTMCP cần đảm bảo cung cấp thông tin cho đối
tượng quan trọng là nhà đầu tư và cơ quan quản lý hoạt động của thị trường chứng
khoán. Ngoài nội dung phân tích NHTM nói chung còn nội dung phân tích đặc thù
là phân tích tình hình cổ phiếu của NHTMCP.
Các quy định của cơ quan quản lý Nhà Nước
NHTMCP hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực đặc thù – trung gian tài chính lĩnh vực kinh doanh mang tính hệ thống cao và phải chịu sự quản lý nghiêm ngặt

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status