BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
ANOUSONE VONGPHACHANH
PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN THÀNH LẬP DOANH NGHIỆP
CỦA VIỆT NAM VÀ LÀO DƯỚI GÓC ĐỘ SO SÁNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Chuyên ngành : Luật Kinh tế
Mã số
: 60.38.01.07
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. VŨ ĐẶNG HẢI YẾN
HÀ NỘI - NĂM 2016
LỜI CẢM ƠN
Trước hết, tôi xin được gửi lời cảm ơn đến các thầy cô giáo Trường
Đại học Luật Hà Nội, đặc biệt là các thầy cô giáo Khoa sau Đại học và Khoa
Luật Kinh tế đã tạo điều kiện và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên
cứu chương trình thạc sĩ luật học tại trường.
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất của mình đến người
hướng dẫn khoa học TS. Vũ Đặng Hải Yến, người đã tận tâm, nhiệt tình chỉ
bảo và giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này.
CHXHCN
: Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
ĐKDN
: Đăng ký doanh nghiệp
NĐT
: Nhà đầu tư
TDKD
: Tự do kinh doanh
TLDN
: Thành lập doanh nghiệp
TNHH
: Trách nhiệm hữu hạn
XHCN
: Xã hội chủ nghĩa
MỤC LỤC
2.1.1. Quy định của pháp luật Việt Nam và Lào về chủ thể có quyền
thành lập doanh nghiệp...........................................................................27
2.1.2. Những điểm tương đồng và khác biệt trong quy định của pháp luật
Việt Nam và Lào về chủ thể có quyền thành lập doanh nghiệp.............31
2.2. So sánh quy định về quyền lựa chọn loại hình, mô hình doanh
nghiệp.........................................................................................................32
2.2.1. Quy định của pháp luật Việt Nam và Lào về quyền lựa chọn loại
hình, mô hình doanh nghiệp....................................................................32
2.2.2. Những điểm tương đồng và khác biệt trong quy định của pháp luật
Việt Nam và Lào về quyền lựa chọn loại hình, mô hình doanh nghiệp. .37
2.3. So sánh quy định về quyền lựa chọn ngành, nghề kinh doanh......40
2.3.1. Quy định của pháp luật Việt Nam và Lào về quyền lựa chọn
ngành, nghề kinh doanh..........................................................................40
2.3.2. Những điểm tương đồng và khác biệt trong quy định của pháp luật
Việt Nam và Lào về quyền lựa chọn ngành, nghề kinh doanh................45
2.4. So sánh quy định về quyền lựa chọn địa điểm đặt trụ sở, địa điểm
kinh doanh của doanh nghiệp, lựa chọn tên của doanh nghiệp............47
2.4.1. Quy định của pháp luật Việt Nam và Lào về quyền lựa chọn địa
điểm đặt trụ sở, địa điểm kinh doanh của doanh nghiệp, quyền lựa chọn
tên của doanh nghiệp...............................................................................47
2.4.2. Những điểm tương đồng và khác biệt trong quy định của pháp luật
Việt Nam và Lào về quyền lựa chọn địa điểm đặt trụ sở, địa điểm kinh
doanh của doanh nghiệp, quyền lựa chọn tên của doanh nghiệp............51
2.5. So sánh quy định về quyền trong việc thực hiện thủ tục đăng ký
doanh nghiệp..............................................................................................53
2.5.1. Quy định của pháp luật Việt Nam và Lào về quyền trong việc thực
hiện thủ tục đăng ký doanh nghiệp..........................................................53
kinh doanh (TDKD) của công dân. Quyền TLDN cũng là một trong những
nội dung quan trọng được cả pháp luật quốc gia và pháp luật quốc tế quan tâm
và ghi nhận theo hướng ngày càng mở rộng nội dung quyền TLDN.
Năm 1986, Việt Nam bắt đầu thực hiện công cuộc đổi mới, phát triển
nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần tiến tới nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN), đó là cơ sở đề quyền TDKD nói chung và
quyền TLDN nói riêng được ghi nhận trong pháp luật. Quá trình xây dựng và
hoàn thiện pháp luật doanh nghiệp ở Việt Nam chứng kiến sự phát triển từng
bước của quyền TLDN. Luật Doanh nghiệp năm 2014, Luật Đầu tư năm 2014
được ban hành trên sở sở kế thừa và pháp triển quyền TLDN được ghi nhận
trong Luật Doanh nghiệp năm 1999, Luật Doanh nghiệp năm 2005 và Luật
Đầu tư năm 2005. Những quy định về quyền TLDN trong Luật Doanh nghiệp
năm 2014 và Luật Đầu tư năm 2014 được các học giả, NĐT và nhân dân đánh
giá là đáp ứng được các mong muốn của thực tế TLDN ở Việt Nam.
Năm 1986, nước Cộng hòa dân chủ nhân dân (CHDCND) Lào, cũng
tiến hành công cuộc đổi mới, phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành
phần tiến tới xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. Đây cũng
chính là cơ sở để quyền TDKD nói chung và quyền tự do TLDN nói riêng
được quy định trong pháp luật. Tuy nhiên, do một số hạn chế về kĩ thuật lập
pháp, kinh nghiệm xây dựng và hoàn thiện pháp luật nên các quyền TLDN
chưa được thể hiện rõ ràng trong Luật Kinh doanh năm 1994, Luật Doanh
nghiệp năm 2005 và Luật Khuyến khích đầu tư năm 2009. Năm 2014, Quốc
hội Lào ban hành Luật Doanh nghiệp năm 2014, với nhiều quy định về quyền
TLDN. Tuy nhiên, các quy định này chưa được xây dựng theo hướng mở rộng
2
tối đa quyền dành cho nhà đầu tư (NĐT) trong khi thực hiện thủ tục TLDN,
bởi sự chi phối của cơ chế quản lý hành chính, quản lý kinh tế mang tính
lập doanh nghiệp theo Luật Doanh nghiệp năm 2014, Luận văn thạc sĩ luật
học, Hà Nội,… ngoài ra còn một số sách, báo tạp chí khác cũng nghiên cứu
về quyền TDKD nói chung và quyền TLDN nói riêng.
Ở Lào, quyền TDKD nói chung và quyền TLDN nói riêng là một vấn
đề mới được các học giả quan tâm nghiên cứu, đặc biệt là từ khi Lào gia nhập
các điều ước quốc tế về quyền con người. Có thể kể đến một số công trình nổi
bật sau đây: Viện nghiên cứu lập pháp - Bộ Tư pháp (2009), Quyền tự do kinh
doanh của công dân Lào trong lịch sử lập hiến, Đề tài khoa học cấp Bộ,
Viêng Chăn; Sommay Phanyasith (2015), Quyền tự do kinh doanh trong Luật
Doanh nghiệp năm 2014, Luận văn thạc sĩ luật học, Viêng Chăn; Bounsavath
Sioudomphan (2015), Thực hiện quyền thành lập doanh nghiệp theo pháp
luật doanh nghiệp Lào, Luận văn thạc sĩ luật học, Học viện Chính trị quốc gia
Hồ Chí Minh, Hà Nội… ngoài ra, còn một số sách báo, tạp chí cũng có đề cập
đến vấn đề này.
Mặc dù là một vấn đề liên tục được các học giả Việt Nam và Lào quan
tâm nghiên cứu, tuy nhiên, hiện nay vẫn chưa có một công trình nào nghiên
cứu pháp luật về quyền TLDN của Việt Nam và Lào dưới góc độ so sánh, để
rút ra những kinh nghiệm cho Lào trong việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật
về quyền TLDN. Chính vì vậy, việc nghiên cứu đề tài trên là hết sức cần thiết.
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của luận văn
* Đối tượng nghiên cứu của luận văn
Đối tượng nghiên cứu của luận văn chính là những vấn đề lý luận về
quyền TDKD nói chung, quyền TLDN nói riêng; các quy định hiện hành của
pháp luật Việt Nam và Lào về quyền TLDN dưới góc độ luật học so sánh.
* Phạm vi nghiên cứu của luận văn
Phạm vi nghiên cứu về mặt không gian, chính là những vấn đề về
quyền TDKD nói chung, quyền TLDN nói riêng trong quá khứ và trong hiện
tại; các quy định của pháp luật Việt Nam và Lào, trong đó chủ yếu là các quy
định hiện hành của pháp luật Việt Nam và Lào về quyền TLDN.
quyền TLDN?
(vi) Những kinh nghiệm của pháp luật Việt Nam về quyền TLDN?
5
6. Các phương pháp nghiên cứu áp dụng để thực hiện luận văn
Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận của Chủ nghĩa Mác
-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước pháp quyền, nền kinh tế thị
trường XHCN; quan điểm, chủ trương của Đảng, Nhà nước Việt Nam và Lào
về quyền công dân và quyền công dân trong lĩnh vực kinh tế, nền kinh tế thị
trường định hướng XHCN.
Các phương pháp nghiên cứu cụ thể được vận dụng để nghiên cứu đề
tài là phương pháp phân tích, tổng hợp, đặc biệt là phương pháp so sánh. Luận
văn sử dụng phương pháp so sánh luật học để tìm ra những điểm tương đồng
và khác biệt về quyền TLDN giữa pháp luật Việt Nam và Lào. Tuy nhiên, kết
quả nghiên cứu của luận văn là sự kết hợp nhuần nhuyễn các phương pháp
nghiên cứu nói trên.
7. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
* Ý nghĩa khoa học: Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ là học liệu có
thể được sử dụng cho việc giảng dạy và tiếp tục nghiên cứu về quyền TLDN ở
cả Việt Nam và Lào.
* Ý nghĩa thực tiễn: Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể được sử
dụng làm cơ sở để các cơ quan xây dựng pháp luật của Việt Nam và Lào xây
dựng, hoàn thiện các quy định pháp luật về quyền TLDN.
8. Bố cục (các chương) của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1. Một số vấn đề lý luận cơ bản về quyền thành lập doanh
nghiệp.
chủ nghĩa; kinh doanh trong công nghiệp, kinh doanh trong nông nghiệp, kinh
doanh trong thương nghiệp, kinh doanh trong giao thông - vận tải, kinh doanh
dịch vụ,… Tuy nhiên, dù phân chia thế nào thì mục đích cuối cùng mà kinh
doanh cần phải có là nó phải làm tăng thêm giá trị vật chất cho xã hội và đối
với từng nhà kinh doanh thì đó chính là lợi nhuận.
1
Bùi Ngọc Cường (1996), Quyền tự do kinh doanh trong pháp luật kinh tế Việt Nam, Luận văn thạc sĩ luật
học, Hà Nội, tr. 10.
7
Dưới góc độ pháp lý thì kinh doanh được định nghĩa rất khác nhau giữa
pháp luật giữa các quốc gia trên thế giới. Ở Việt Nam, định nghĩa kinh doanh
bắt đầu được quy định trong pháp luật từ Luật Công ty năm 1990, tại Điều 3
của Luật này; đến Luật Doanh nghiệp năm 1999 cũng tái khẳng định lại định
nghĩa kinh doanh và đến Luật Doanh nghiệp năm 2005 thì kinh doanh được
định nghĩa như sau: “Kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc
tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến cung ứng dịch vụ
trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi” (khoản 2 Điều 4). Tuy nhiên, đến
Luật Doanh nghiệp năm 2014 thì kinh doanh không còn được định nghĩa
trong Luật này nữa.
Ở nước CHDCND Lào, định nghĩa kinh doanh lần đầu tiên được đề cập
một cách rõ ràng, đầy đủ tại khoản 2 Điều 2 Luật Doanh nghiệp năm 2005:
“Kinh doanh là một hoạt động nhằm thực hiện một hoặc một vài công việc
của quá trình từ đầu tư, sản xuất, cung ứng dịch vụ nhằm tìm kiếm lợi nhuận
và phục vụ lợi ích chung của xã hội”. Cho đến Luật Doanh nghiệp năm 2014
của nước CHDCND Lào thì định nghĩa kinh doanh được cụ thể tại khoản 1
Điều 3 Luật này quy định: “Kinh doanh là một hoạt động trong một hoặc tất
đó, mục đích lợi nhuận là mục đích cố hữu của kinh doanh, nếu một hoạt
động nào không vì mục đích lợi nhuận thì không thể gọi là kinh doanh3.
Như vậy, kinh doanh là một hoạt động mang tính nghề nghiệp, vì mục
đích lợi nhuận. Do vậy, kinh doanh là động lực để xã hội con người tồn tại và
phát triển, bởi lẽ hoạt động kinh doanh tạo ra của cải vật chất, tinh thần cho xã
hội. Chính vì lẽ đó, kinh doanh được khích lệ phát triển từ khi xã hội con người
chuyển sang nền kinh tế hàng hóa. Để khích lệ kinh doanh phát triển thì phải
đưa kinh doanh trở thành quyền TDKD. Vậy quyền TDKD là gì?
(ii) Khái niệm, đặc điểm quyền TDKD. Trước hết, quyền TDKD là một
quyền công dân hay ở phạm vi rộng hơn chính là quyền con người. Tức là,
quyền TDKD là quyền con công dân được ghi nhận trong pháp luật quốc gia.
Khi vượt khỏi phạm vi quốc gia thì quyền TDKD chính là quyền con người.
Quyền TDKD cùng với các quyền công dân hay quyền con người mang tính
tự nhiên, không phụ thuộc vào bất cứ yếu tố chủ quan, khách quan nào. Việc
cần làm đối với các nhà nước cũng như cộng đồng quốc tế là thể chế hóa
quyền TDKD nói riêng và các quyền con người nói chung thành quyền công
3
Bùi Ngọc Cường (2001), Xây dựng và hoàn thiện pháp luật kinh tế nhằm đảm bảo quyền tự do kinh doanh
ở nước ta, Luận án tiến sĩ luật học, Hà Nội, tr. 17.
9
dân, quyền con người khi ghi nhận nó trong pháp luật quốc gia, pháp luật
quốc tế 4.
Dưới góc độ pháp lý, quyền TDKD là một phạm trù pháp lý, được nhìn
nhận trên cả phương diện khách quan và phương diện chủ quan:
- Ở phương diện chủ quan (phương diện chủ thể): Quyền TDKD được
hiểu là khả năng hành động một cách có ý thức của cá nhân hay pháp nhân
một nhu cầu tất yếu của sự phát triển kinh tế - xã hội. Điều đó có nghĩa,
quyền TDKD không phụ thuộc vào ý chí chủ quan của bất kỳ chủ thể nào,
cho dù đó là Nhà nước. Bởi khi nào xã hội còn phát triển thì quyền TDKD
vẫn tồn tại một cách tất yếu5.
1.1.1.2. Khái niệm, đặc điểm của doanh nghiệp
Khái niệm doanh nghiệp là một khái niệm có rất nhiều cách thức tiếp
cận khác nhau. Dưới đây là một số cách tiếp cận về khái niệm doanh nghiệp:
- Quan niệm về tổ chức: Doanh nghiệp là một tổng thể các phương tiện,
máy móc, thiết bị và con người được tổ chức lại nhằm đạt được một mục đích
nhất định.
- Quan niệm về lợi nhuận: Doanh nghiệp là một tổ chức sản xuất, thông
qua đó, trong khuôn khổ một tài sản nhất định, người ta kết hợp nhiều yếu tố
sản xuất khác nhau, nhằm tạo ra những sản phẩm và dịch vụ để bán trên thị
trường và thu khoản chênh lệch giữa giá thành và giá bản sản phẩm.
- Quan niệm về chức năng: Doanh nghiệp là một đơn vị sản xuất kinh
doanh nhằm thực hiện một, một số, hoặc tất cả các công đoạn trong quá trình
đầu tư từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc thực hiện các dịch vụ nhằm
mục đích sinh lợi.
- Dưới góc độ pháp lý: Doanh nghiệp mà một pháp nhân có tên riêng,
có tài sản riêng, có trụ sở giao dịch, được thành lập theo quy định của pháp
luật bởi chủ thể có quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp nhằm thực hiện
mục đích thu lợi nhuận.
+ Theo Luật Doanh nghiệp 2014 của Việt Nam, doanh nghiệp được
định nghĩa: “Doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao
dịch, được đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích
kinh doanh” (khoản 7 Điều 4). Như vậy, định nghĩa về doanh nghiệp của Việt
Nam có sự tương đồng với quan niệm chung của thế giới.
5
Bùi Ngọc Cường (1996), Quyền tự do kinh doanh trong pháp luật kinh tế Việt Nam, Luận văn thạc sĩ luật
quyền TLDN.
1.1.2. Khái niệm, đặc điểm của thành lập doanh nghiệp, quyền thành
lập doanh nghiệp
1.1.2.1. Khái niệm, đặc điểm của thành lập doanh nghiệp
12
Cùng như các khái niệm khác, TLDN là một khái niệm được tiếp cận
dưới rất nhiều góc độ, quan điểm khác nhau. Dưới đây là một số góc độ tiếp
cận khái niệm thành lập doanh nghiệp:
- Dưới góc độ kinh tế: TLDN được hiểu là việc chuẩn bị các điều kiện
vật chất cần và đầy đủ để hình thành một tổ chức kinh doanh gọi là doanh
nghiệp. Theo đó, để TLDN, NĐT phải chuẩn bị về tài chính, kế hoạch kinh
doanh, trụ sở, nhà xưởng, dây chuyền sản xuất, thiết bị kỹ thuật, công nghệ,
đội ngũ nhân công, nhà quản lý,… Đây là một công việc mang tính nền tảng,
tiền đề và quyết định rất nhiều tới sự thành công của doanh nghiệp khi được
thành lập6.
- Dưới góc độ pháp lý: TLDN được hiểu là một thủ tục pháp lý được
thực hiện tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để xác định tư cách pháp lý
cho doanh nghiệp mà NĐT bỏ vốn thành lập. Như vậy, sau khi lập kế hoạch
kinh doanh và xác định loại hình doanh nghiệp dự định thành lập, NĐT sẽ
phải chuẩn bị những giấy tờ cần thiết mà Nhà nước yêu cầu như: Giấy đề nghị
đăng ký doanh nghiệp, văn bản xác nhận vốn pháp định, chứng chỉ hành nghề
(nếu cần), giấy phép kinh doanh, giấy chứng nhận đủ điều kiện đăng ký kinh
doanh, dự thảo điều lệ doanh nghiệp (nếu cần), danh sách thành viên (nếu
cần),… Những giấy tờ nói trên đều được thể hiện trong bộ hồ sơ ĐKDN và có
giá trị thẩm định, kiểm tra về khả năng quản lý, định hướng phát triển doanh
nghiệp, năng lực của NĐT cũng như tiềm lực tài chính để hoạt động hiệu quả
trong nền kinh tế thị trường, đủ sức cạnh tranh mang lại lợi ích cho NĐT và
thống các quyền TDKD (quyền được bảo đảm sở hữu đối với tài sản; quyền
thành lập doanh nghiệp; quyền tự do cạnh tranh theo pháp luật; quyền tự định
đoạt trong lĩnh vực giải quyết tranh chấp). Vị trí, vai trò quan trọng đó của
quyền TLDN là do tổ chức, cá nhân muốn trở thành nhà kinh doanh có tư
cách pháp lý thì họ phải tiến hành đăng ký TLDN tại cơ quan nhà nước có
thẩm quyền. Khi tiến hành hoạt động đăng ký TLDN thì cá nhân, tổ chức đó
mới được phép tiến hành các hoạt động kinh doanh và khi tiến hành các hoạt
động sản xuất kinh doanh thì mới phát sinh các quyền như: quyền được bảo
đảm sở hữu đối với tài sản; quyền tự do cạnh tranh theo pháp luật; quyền tự
định đoạt trong lĩnh vực giải quyết tranh chấp8.
Quyền TLDN là một khái niệm không được định nghĩa trong pháp luật,
mà cụ thể là pháp luật doanh nghiệp của Việt Nam và pháp luật doanh nghiệp
của nước CHDCND Lào. Do vậy, có thể hiểu quyền TLDN như sau: Quyền
8
Lê Thị Hướng (2015), Quyền thành lập doanh nghiệp trong pháp luật hiện hành, Khóa luận tốt nghiệp, Hà
Nội, tr. 10.
14
TLDN là quyền của tổ chức, cá nhân trong việc tạo lập tư cách pháp lý thông
qua các thủ tục thành lập và đăng ký doanh nghiệp9.
Nội hàm của quyền TLDN là sự bao hàm cả quyền tự do trong việc lựa
chọn ngành, nghề kinh doanh, hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh và địa
điểm kinh doanh. Về nguyên tắc, không ai có quyền can thiệp, ngăn cản quyền
TLDN của cá nhân, tổ chức có quyền TLDN. Bên cạnh quyền của tổ chức, cá
nhân là nghĩa vụ của cơ quan nhà nước, đó là phải tạo những điều kiện bảo
đảm cho tổ chức, cá nhân có quyền TLDN thực hiện quyền của mình. Việc các
chủ thể kinh doanh muốn TLDN phải thực hiện thủ tục đăng ký TLDN tại cơ
(quyền được bảo đảm sở hữu đối với tài sản; quyền tự do cạnh tranh theo
pháp luật; quyền tự định đoạt trong lĩnh vực giải quyết tranh chấp) nhưng
quyền TLDN là cơ sở tiền để để mở rộng và thực hiện các quyền TDKD khác.
Nói tóm lại, các khái niệm, đặc điểm về kinh doanh, quyền TDKD;
doanh nghiệp; TLDN, quyền TLDN được đề cập ở trên đã làm rõ những vấn
đề có liên quan đến quyền TLDN. Thông qua những khái niệm đặc điểm đó
có thể hiểu một cách cặn kẽ hơn về quyền TLDN.
1.2. Căn cứ xác định và nội dung của quyền thành lập doanh nghiệp
1.2.1. Căn cứ xác định nội dung quyền thành lập doanh nghiệp
Như trên đã trình bày, khái niệm quyền TLDN không được định nghĩa
trong bất kỳ một văn bản pháp lý nào. Do vậy, việc xác định đúng đắn, đầy đủ
những yếu tố hợp thành nội dung quyền TLDN có nghĩa rất quan trọng về mặt lý
luận và thực tiễn. Trước hết, việc xác định nội dung quyền TLDN có nghĩa trong
việc xây dựng nhận thức đầy đủ, toàn diện, có hệ thống về quyền TLDN; vị trí,
vai trò của từng quyền và mối quan hệ giữa các quyền trong quyền TLDN. Từ đó,
có căn cứ khoa học để hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm quyền TLDN. Về mặt
thực tiễn, việc xác định nội dung quyền TLDN giúp cho các NĐT nắm vững về
quyền TLDN; đối với cơ quan nhà nước có thẩm quyền thì việc xác định nội dung
quyền TLDN giúp họ thực hiện tốt hơn, khách quan hơn chức năng quản lý nhà
nước về TLDN nói riêng và quản lý nhà nước về doanh nghiệp nói chung. Khi
xác định nội dung quyền TLDN cần phải dựa trên các căn cứ sau đây:
Thứ nhất, căn cứ vào đặc điểm, sự phát triển của nền kinh tế thị
trường. Như đã biết, quyền TLDN bắt đầu xuất hiện từ khi xã hội con người
chuyển sang chế độ sở hữu, kinh doanh trở thành một nghề nghiệp trong xã
hội. Dần dần trong sự phát triển của xã hội lên nền kinh tế thị trường thì
16
quyền TLDN phát triển mạnh mẽ và cũng chịu nhiều hơn sự chi phối của nền
Bùi Ngọc Cường (1996), Quyền tự do kinh doanh trong pháp luật kinh tế Việt Nam, Luận văn thạc sĩ luật
học, Hà Nội, tr. 13.
17
chọn ngành, nghề kinh doanh cho mình khi doanh nghiệp được hình thành.
Việc lựa chọn ngành, nghề kinh doanh đó dựa trên cơ sở nhu cầu thị trường
và ý thích chủ quan của bản thân nhà kinh doanh. Sự lựa chọn này có ảnh
hưởng rất lớn đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp sau khi được thành
lập. Sẽ không ai được quyền can thiệp vào sự lựa chọn ở “bước đầu” về
ngành, nghề kinh doanh của nhà kinh doanh, bởi lẽ đó là quyền của họ và mọi
hiệu cũng như hậu quả từ sự lựa chọn đó đều do nhà kinh doanh chịu trách
nhiệm. Nhiệm vụ của pháp luật trong trường hợp này là bảo đảm một cách tối
đa, tạo ra khả năng mở rộng đến mức có thể cho nhà kinh doanh tìm hiểu nhu
cầu thị trường và đi đến lựa chọn ngành, nghề kinh doanh phù hợp với họ12.
Trong thực tế, ngành, nghề kinh doanh rất đa dạng, pho phú, bởi ở một
phương diện nào đó bất cứ một ngành, nghề nào trong xã hội đều có khả năng
phát sinh lợi nhuận khi tiến hành kinh doanh một cách đúng đắn. Các ngành,
nghề kinh doanh có thể thuộc về lĩnh vực công nghiệp, nông nghiệp, lâm
nghiệp, dịch vụ, thậm trí là cả các ngành, nghề có tính chất nhân đạo, xã
hội… Trong những lĩnh vực này là có muôn vàn các ngành, nghề có thể tiến
hành kinh doanh và cũng có thể phát sinh lợi nhuận.
Tuy nhiên, quyền lựa chọn ngành, nghề kinh doanh mặc dù là một
quyền tự do của con người nhưng nó cũng bị hạn chế hoặc cấm lựa chọn
trong một số ngành, nghề có liên quan đến chính trị, an ninh- quốc phòng, trật
tự an toàn xã hội,… Những ngành, nghề này được gọi là ngành, nghề hạn chế
kinh doanh, ngành, nghề cấm kinh doanh. Số lượng các ngành, nghề bị hạn
chế hoặc cấm đầu tư, kinh doanh hoàn toàn phụ thuộc vào ý chí chủ quan của
Nhà nước ở từng giai đoạn phát triển của Nhà nước đó và được thể hiện thông
hành các quy định pháp luật để khuyến khích hoặc hạn chế hoạt động kinh
doanh, các quy định pháp luật về khuyến khích, hỗ trợ đầu tư là một minh
chứng điển hình cho việc thực hiện quyền lựa chọn địa điểm kinh doanh phản
ánh ý nghĩa pháp lý.
Về nguyên tắc thì nhà kinh doanh được tự do lựa chọn địa điểm kinh
doanh phù hợp với ngành, nghề kinh doanh đã lựa chọn, cũng như sở thích và
những điều kiện của nhà kinh doanh. Tuy nhiên, Nhà nước với chức năng
quản lý xã hội của mình cũng đặt ra những hạn chế ảnh hưởng đến việc lựa
chọn địa điểm kinh doanh. Theo đó, nhà kinh doanh không được lựa chọn,
đăng ký kinh doanh ở một số địa điểm nhất định nhằm bảo đảm về địa bàn
13
Lê Thị Hướng (2015), Quyền thành lập doanh nghiệp trong pháp luật hiện hành, Khóa luận tốt nghiệp, Hà
Nội, tr. 14.