ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
--------------------
TRƯƠNG TRỌNG TÙNG
AN TOÀN NỢ CÔNG CỦA VIỆT NAM
Chuyên ngành : Tài chính – Ngân hàng
Mã số: 60 34 02 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS. TS. ĐÀO VĂN HÙNG
Học Viện Chính Sách Và Phát Triền
Hà Nội – Năm 2015
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Chương trình giảng dạy sau đại học
Tài chính – Ngân hàng, các Quý Thầy Cô giáo trường Đại học Kinh tế - Đại học
Quốc Gia Hà Nội đã giúp tôi trang bị kiến thức, tạo môi trường điều kiện thuận
lợi nhất trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn này.
Với lòng kính trọng và biết ơn, tôi xin bày tỏ lời cảm ơn tới PGS. TS. Đào
Văn Hùng đã khuyến khích, chỉ dẫn tận tình cho tôi trong suốt thời gian thực
hiện công trình nghiên cứu này.
Xin chân thành cảm ơn các tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp đã hợp tác
chia sẻ thông tin, cung cấp cho tôi nhiều nguồn tài liệu, tư liệu, hữu ích phục vụ
cho đề tài nghiên cứu.
Tôi xin gửi lời tri ân sâu sắc đến gia đình và những người bạn đã động
viên, hỗ trợ tôi rất nhiều trong suốt quá trình học tập, làm việc và hoàn thành
nhân, hậu quả và phản ứng chính sách của Chính phủ một số nước trên thế giới
trước các cuộc khủng hoảng nợ công điển hình từ đó rút ra bài học kinh nghiệm
cho Việt Nam. Tiếp theo, đề tài sẽ tập trung phân tích thực trạng an toàn nợ công
của Việt Nam, đánh giá mức độ an toàn của nợ công Việt Nam; nghiên cứu mối
tác động giữa nợ công và các biến số kinh tế vĩ mô quan trọng như: GDP, tỷ giá,
thâm hụt ngân sách… để từ đó nhận diện nguy cơ xảy ra khủng hoảng và tính
bền vững của nợ trong tương lai. Thứ ba, nghiên cứu thực hiện việc dự báo nợ
công Việt Nam trong những năm tiếp theo với những kịch bản kinh tế khác nhau.
Cuối cùng, nghiên cứu sẽ đưa ra một số gợi ý chính sách nhằm nâng cao tính
minh bạch, khả năng giám sát và quản lý nợ công theo hướng an toàn, bền vững
trong tương lai ở Việt Nam.
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT
STT
Ký hiệu viết tắt
Nguyên nghĩa
1
ABD
Ngân hàng phát triển Châu Á
2
CCTT
Cán cân thanh toán
8
CCTM
Cán cân thương mại
9
CP
Chính phủ
10
CTXDTQ
Công trái xây dựng tổ quốc
11
DNNN
Doanh nghiệp nhà nước
12
IMF
Quỹ tiền tệ quốc tế
18
KBNN
Kho bạc Nhà nước
19
KHĐT
Kế hoạch và đầu tư
20
NSNN
Ngân sách Nhà nước
21
NSTW
Ngân sách Trung ương
6
Ngân hàng chính sách xã hội
27
NHPTVN
Ngân hàng phát triển Việt Nam
28
NPV
29
ODA
Viện trợ phát triển chính thức
30
QLN và TCĐN
Quản lý nợ và tài chính đối ngoại
31
TPCP
Trái phiếu Chính phủ
37
WTO
Tổ chức thương mại thế giới
Net Present Value
(Giá trị hiện tại thuần)
7
DANH MỤC BẢNG
Tên bảng
Tran
STT
Bảng
1
Bảng 1.1
Tiêu chí đánh giá mức độ an toàn về nợ của IMF
18
2
7
Bảng 3.4
Đánh giá theo các tiêu chí của WB
52
8
Bảng 3.5
9
Bảng 4.1
Nợ công của một số nước khu vực Châu Âu
68
10
Bảng 4.2
Nợ công của một số nước khu vực Châu Á
68
11
Biểu đồ
1
Biểu đồ 3.1
2
Biểu đồ 3.2
3
Biểu đồ 3.3
4
Biểu đồ 3.4
5
Biểu đồ 3.5
6
Biểu đồ 3.6
7
Biểu đồ 3.7
giai đoạn 2010 - 2013
Cơ cấu trả nợ gốc, trả lãi và phí trong kỳ
giai đoạn 2010 - 2013
Cơ cấu tổng trả lãi và phí trong kỳ giai
đoạn 2010 – 2013
Tốc độ tăng vay và trả nợ được CP bảo
lãnh giai đoạn 2010 - 2013
Cơ cấu trả nợ gốc, trả lãi và phí trong kỳ
Trang
41
42
43
44
45
47
48
49
51
51
giai đoạn 2010 - 2013
Cơ cấu tổ chức Quản lý nợ công tại Việt
Nam
Mô hình cơ quan Quản lý nợ tại Việt Nam
9
39
lại, nếu vay vốn thiếu thận trọng, không có chiến lược chính sách cụ thể, cơ chế
quản lý vốn vay lỏng lẻo, các chỉ tiêu an toàn nợ công không hợp lý. Do đó dẫn
đến tác động là tăng trưởng kinh tế trong nước không bù đắp được đối với các
10
khoản vay nợ, đất nước ngày càng chìm đắm trong cảnh nợ nần, dấn đến khủng
hoảng nợ công.
Nợ công đối với nhiều nước trên thế giới không còn là một vấn đề mới mẻ
nhưng vẫn là một vấn đề hết sức quan trọng. Đặc biệt trong thập niên 90 này, có
thể kể đến các cuộc khủng hoảng nợ công như: Cuộc khủng hoảng nợ của
Mexico vào năm 1994, cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ Châu Á năm 1997,
cuộc khủng hoảng ở Argentina vào năm 2001 – 2002 và gần đây nhất là cuộc
khủng hoảng nợ công bắt đầu từ Hy Lạp sau đó đã lan rộng sang một số quốc gia
thuộc đồng tiền chung Châu Âu. Ở Việt Nam, nợ công hiện nay vẫn đang nằm
trong phạm vi giới hạn được đánh giá là an toàn. Tuy nhiên, những vấn đề đáng
lo ngại về nợ công đang tăng lên do quy mô nợ, lãi suất, nghĩa vụ trả nợ… đang
tăng nhanh. Nếu năm 2006 nợ công so với GDP của Việt Nam là 39.1% GDP thì
đến cuối năm 2013 đã tăng lên 56.2%GDP. Nếu xu hướng này vẫn tiếp tục và
không có các biện pháp quản lý, kiểm soát chặt chẽ, hiệu quả, thì có thể nợ công
trong thời gian tới sẽ trở nên không an toàn.
Với những hậu quả nặng nề về kinh tế xã hội thì vấn đề an toàn nợ công
ngày càng trở lên cấp thiết đối với các nhà hoạch định chính sách của các quốc
gia. Xuất phát từ yêu cầu thực tế và ý nghĩa quan trọng nói trên, để góp phần giải
quyết những mặt hạn chế còn tồn tại, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả của công
tác quản lý tài chính nói chung và an toàn nợ công nói riêng em đã chọn đề tài: “
An toàn nợ công của Việt Nam” cho luận văn tốt nghiệp của mình.
2.
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
việc phân tích thực trạng, đánh giá về tình hình cũng như rủi ro nợ công của Việt
Nam bài nghiên cứu đưa ra một số gợi ý chính sách giúp cải thiện tình hình nợ
công nhằm trách khủng hoảng nợ công mà Việt Nam có thể gặp phải trong thời
gian sắp tới.
Báo cáo nghiên cứu RS – 05 của Ủy ban Kinh tế của Quốc hội và UNDP
tại Việt Nam: “Nợ công và tính bền vững ở Việt Nam: Quá khứ, hiện tại và
tương lai”, nhóm tác giả Phạm Thế Anh đã tổng hợp xem xét nguyên nhân, hậu
12
quả và phản ứng chính sách của Chính phủ các nước trên thế giới trước các
khủng hoảng nợ công, tập trung phân tích những tác động tiêu cực làm nợ công
tăng nhanh của các biến số vĩ mô quan trọng như thâm hụt tài khóa, tăng trưởng
kinh tế, lạm phát, lãi suất, tỉ giá, thâm hụt thương mại…Từ đó đánh giá rủi ro và
tính bền vững để nhận diện nguy cơ xảy ra khủng hoảng của nợ công Việt Nam
hiện nay. Bài nghiên cứu cũng đưa ra một số gợi ý chính sách nhằm nâng cao
tính minh bạch, khả năng giám sát và quản lý nợ công theo hướng bền vững
trong tương lai ở Việt Nam.
Nghiên cứu khoa học của Đỗ Đình Thu (2007) với đề tài: “Giải pháp tăng
cường quản lý vay và trả nợ Chính phủ Việt Nam trong điều kiện hiện nay” đã
làm rõ nội dung cơ chế quản lý, thực trạng vay và trả nợ của Chính phủ. Tuy
nhiên, đề tài chưa đề cập đến nợ công bao gồm nợ trong nước và nợ nước ngoài
cũng như chưa đề cập đến an toàn nợ công của Việt Nam.
Công trình nghiên cứu của Nguyễn Thị Thanh Hương (2008) luận án tiến
sĩ với đề tài: “Tăng cường quản lý vay nợ nước ngoài ở Việt Nam”, đưa ra nội
dung về quản lý vay nợ nước ngoài, sử dụng mô hình Jaim De Pinies để đánh giá
độ bền vững nợ nước ngoài cũng như đưa ra các giải pháp tăng cường quản lý
vay nợ nước ngoài ở Việt Nam. Tuy nhiên, đề tài này chỉ dừng lại về đánh giá
mức độ bền vững đối với khoản nợ nước ngoài chứ chưa đề cập đến khoản nợ
trong nước và độ bền vững của nợ công nói chung.
Thực trạng vấn đề an toàn nợ công ở Việt Nam trong giai đoạn 2011 đến 2014
như thế nào?
Xu hướng nợ công của Việt Nam trong thời gian tới sẽ ra sao ?
Cần có giải pháp gì để đảm bảo an toàn nợ công ở Việt Nam trong giai đoạn sắp
tới?
4. MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
Luận văn tập trung nghiên cứu cơ sở lý luận về nợ công, đặc biệt tập trung
nghiên cứu nội dung cơ bản của an toàn nợ công.
Phân tích, đánh giá tình hình nợ công của Việt Nam, qua đó nhằm mục
tiêu đánh giá thực trạng về an toàn nợ công của Việt Nam.
Dự báo xu hướng an toàn nợ công của Việt Nam trong những năm tới.
Đề xuất các giải pháp mang tính chiến lược và giải pháp cụ thể, đồng thời
nêu kiến nghị nhằm thực hiện mục tiêu an toàn nợ công của Việt Nam.
5.
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu cơ sở lý luận về nợ
công và an toàn nợ công.
Phạm vi nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu về nợ công và thực trạng
an toàn nợ công của Việt Nam trong giai đoạn từ 2011 – 2014.
14
6.
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Để thực hiện mục đích nghiên cứu của đề tài, em vận dụng các phương
pháp phổ biến trong nghiên cứu kinh tế như: duy vật biện chứng, phương pháp
Khái niệm nợ công cũng như những đánh giá về nợ công không chỉ là mối
quan tâm ở Việt Nam hiện nay mà còn là chủ đề “nóng” của nhiều Chính phủ và
các cơ quan quản lý nhà nước trên thế giới. Việc thống nhất đưa ra một khái niệm
chuẩn về Nợ công còn tùy thuộc vào mục đích nghiên cứu của từng tổ chức cũng
như thực tiễn hoạt động quản lý nợ công của mỗi quốc gia. Ở Việt Nam khái niệm
nợ công mới được sử dụng từ năm 2009 sau khi có Luật Quản lý Nợ công. Tuy
nhiên, cách tiếp cận khái niệm nợ công còn nhiều sự khác nhau giữa Việt Nam và
một số tổ chức quốc tế khác.
Theo từ điển Bách khoa toàn thư mở Wikipedia, ‘‘Nợ công hay nợ Chính
phủ là số tiền nợ của Chính phủ trung ương, Chính phủ liên bang và chính quyền
địa phương ’’. Theo cách hiểu này, nợ công được coi là nợ của Chính phủ nhưng
chưa phản ánh đầy đủ trách nhiệm chi trả khoản nợ công. Một số ý kiến khác
cho rằng, nợ công ngoài các khoản nợ của Chính phủ cần đưa thêm các khoản nợ
của một số chủ thể khác thuộc đơn vị công.
Theo sổ tay hệ thống báo cáo nợ của Ngân hàng thế giới : ‘‘Nợ công là
toàn bộ những khoản nợ của Chính phủ và những khoản nợ được Chính phủ bảo
lãnh’’. Trong đó:
Nợ của Chính phủ là toàn bộ các khoản nợ trong nước và nước ngoài của Chính
phủ và các đại lý của Chính phủ ; các tỉnh, thành phố hoặc các tổ chức chính trị
trực thuộc Chính phủ và các đại lý của các tổ chức này ; các DNNN.
Nợ của Chính phủ bảo lãnh là toàn bộ nghĩa vụ trả nợ đối với những khoản nợ
trong nước và nước ngoài của khu vực tư nhân do Chính phủ bảo lãnh.
Theo quan điểm của Quỹ tiền tệ quốc tế : ‘‘Nợ công được bao gồm nợ của
khu vực tài chính công và nợ khu vực phi tài chính công’’. Trong đó :
tín dụng vay trong nước, nước ngoài được Chính phủ bảo lãnh.
Nợ chính quyền địa phương: Là khoản nợ do Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố
trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là Ủy ban nhân dân cấp tỉnh) ký kết,
phát hành hoặc uỷ quyền phát hành.
Theo Luật quản lý nợ công của Việt Nam phạm vi nợ công của nước ta
hiện nay hẹp hơn so với các tổ chức quốc tế. Nợ công không bao gồm nợ của
DNNN, nợ của các đơn vị sự nghiệp, nợ của NHTW. Chính vì vậy các số liệu
thống kê về nợ công do CP Việt Nam công bố thường có sự khác biệt so với số
liệu thống kê của các tổ chức quốc tế. Theo quan niệm về nợ công của Việt Nam
trước mắt phù hợp với hoàn cảnh lịch sử của đất nước nhưng khi Việt Nam tham
gia vào các hoạt động kinh tế trong thế giới hội nhập, khái niệm nợ công của
Việt Nam hiện nay rất khó để đưa ra so sánh và đánh giá với quốc tế.
17
1.1.2.
Phân loại nợ công
Xuất phát từ những tiêu thức khác nhau, nợ công được chia thành nhiều
loại khác nhau nhằm thuận tiện cho việc nghiên cứu, đánh giá cũng như quản lý
nợ công. Phân loại nợ công có thể xuất phát từ một số tiêu thức sau :
1.1.2.1.
1.1.2.2.
Căn cứ vào lãi suất vay
Nợ có lãi suất cố định : Là những khoản nợ mà chi phí về tiền lãi không liên kết
với các chỉ số tham chiếu, không bị phụ thuộc vào sự biến động của thị trường.
Nợ có lãi suất thả nổi : Là những khoản vay mà chi phí về tiền lãi của nó kết nối
với một chỉ số tham chiếu ví dụ như LIBOR (lãi suất liên ngân hàng của thị
18
trường Luân Đôn), thường thay đổi theo thời gian do sự thay đổi của các điều
kiện thị trường.
Ý nghĩa của cách phân loại này sẽ giúp cho các nhà quản lý nợ điều hành
danh mục nợ dựa trên các dự báo về biến động lãi suất. Qua đó quản lý rủi ro lãi
suất đối với các khoản nợ có lãi suất thả nổi và các khoản nợ có lãi suất cố định
khi có sự biến động lãi suất và khi phát hành khoản nợ mới.
1.1.2.5.
Căn cứ vào loại tiền vay
Nợ bằng đồng nội tệ : Là những khoản nợ được vay bằng chính đồng nội tệ của
quốc gia đó.
Nợ bằng ngoại tệ : Là những khoản nợ được vay bằng các đồng ngoại tệ, có thể
vay từ các chủ thể trong nước hoặc nước ngoài.
Việc phân loại này giúp cho các nhà quản lý nợ cân đối và bố trí nguồn vốn
thanh toán trả nợ phù hợp xác định và phòng ngừa rủi ro khi có biến động tỷ giá hối
đoái.
1.1.3.
1.1.3.1.
Thông qua vay nợ tạo ra công cụ để điều hòa CSTT và điều tiết thị trường
tài chính : CP các nước sử dụng nhiều hình thức vay mượn khác nhau, trong đó
việc phát hành TPCP đã góp phần quan trọng tạo thêm công cụ để ổn định và
điều hòa lưu thông tiền tệ. Cụ thể, đối với NHTW là người tổ chức và điều hành
CSTT sẽ sử dụng việc mua bán TPCP trên thị trường để điều tiết lượng tiền cung
ứng thông qua nghiệp vụ thị trường mở. Qua đó, tạo tính thanh khoản cho TPCP
cũng như hỗ trợ thanh khoản cho các NHTM ; đồng thời, các NHTM sử dụng
việc mua bán TPCP để giải quyết tình trạng thừa hoặc thiếu vốn trong thanh toán
cũng tạo thêm tính thanh khoản cho TPCP. Bên cạnh đó, thị trường trái phiếu
cũng làm nơi tạo ra mức lãi suất dài hạn chuẩn cho thị trường tài chính góp phần
giúp Nhà nước điều tiết tốt hơn đối với thị trường này, trong đó giúp cho các chủ
thể có mức lãi suất tham chiếu chuẩn khi thực hiện đầu tư trên thị trường.
Góp phần tích cực thúc đấy quá trình hội nhập kinh tế quốc tế : Đối với
những khoản nợ nước ngoài sẽ tạo điều kiện cho các quốc gia vay nợ tiếp cận
20
được nguồn vốn bên ngoài mà không làm giảm đầu tư hay tiêu dùng trong nước.
Hơn nữa, khi tiếp cận với nguồn vốn bên ngoài đòi hỏi sự nỗ lực mạnh mẽ việc
cải cách trong tương lai về thể chế, môi trường kinh doanh, cơ sở hạ tầng… của
các nước vay nợ. Ngoài ra, các nước vay nợ có thể tiệm cận đối với máy móc,
thiết bị, chuyển giao công nghệ và các kỹ năng quản lý mới. Điều này tạo điều
kiện thuận lợi và cơ hội nhiều hơn để hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới.
1.1.3.2.
Tác động tiêu cực
Nợ công có thể tác động đến sự tăng trưởng kinh tế và ổn định môi trường
kinh tế vĩ mô : Trong trường hợp thâm hụt NSNN được tài trợ bằng nguồn vốn
vay trong nước sẽ đẩy mặt bằng lãi suất lên cao, kết quả làm tăng chi phí đầu tư,
giảm nhu cầu đầu tư của nền kinh tế và có thể dẫn đến : ‘‘hiệu ứng thoái lui đâu
ngoại tệ tăng cao. Do đó, tỷ giá có tăng cao sẽ làm chi phí thanh toán nợ trở nên
đắt đỏ hơn, càng làm tăng nguy cơ vỡ nợ nếu như quy mô nợ vượt quá sức chịu
đựng của NSNN. Việc tăng chi tiêu CP dẫn tới thâm hụt NSNN, nợ công tăng và
nhập siêu cùng một lúc được coi là tình trạng ‘‘thâm hụt kép’’. Hiện tượng này
cũng xảy ra ở một số nước Châu Á những năm 1990 khi NSNN rơi vào tình
trạng thâm hụt và nợ công cao, đồng thời chịu thâm hụt thương mại.
Nợ công quá lớn tiềm ẩn gây ra cuộc khủng hoảng nợ : Khi nợ công quá
cao tức là CP đi vay nhiều hơn khiến mặt bằng lãi suất có xu hướng tăng lên
cùng với lạm phát cao, điều này khiến cho đồng nội tệ tăng giá. Vì thế, nhập siêu
tăng do nhu cầu nhập khẩu tăng do khi nội tệ tăng giá sẽ khuyến khích nhập
khẩu và cản trở xuất khẩu. Tuy nhiên, lạm phát cao lại khiến cho đồng nội tệ mất
giá, trong chế độ tỷ giá hối đoán cố định, nguy cơ bị mất giá của đồng nội tệ dẫn
tới dự trữ ngoại tệ trong nước giảm mạnh. Với tình trạng này cứ tiếp diễn lâu
dài, khi nguồn dự trữ ngoại tệ cạn kiệt, buộc CP phải phá giá tiền tệ hay nói cách
khác đây chính là nguyên nhân gây ra cuộc khủng hoảng tiền tệ. Hơn nữa khi các
khoản nợ tính bằng ngoại tệ hoặc các khoản nợ do người nước ngoài nắm giữ
cùng với lòng tin của các chủ nợ đối với khả năng trả nợ của CP giảm sút. Khi
có nhu cầu về ngoại tệ lớn, các nhà đầu tư rút vốn ngay, khi đó nhiều khoản vay
22
nước ngoài rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán. Nguy cơ lúc này không
chỉ dừng lại ở cuộc khủng hoảng tiền tệ hay khủng hoảng tài chính nữa mà có
khả năng đẩy toàn bộ nền kinh tế rơi vào khủng hoảng nợ công và những hệ lụy
khó lường. Hiện tượng này xảy ra với các nước liên minh Châu Âu trong những
năm 2010.
Tạo gánh nặng nợ công lên thế hệ tương lai : Có thể nhận thấy rằng, các
khoản nợ công, đặc biệt là nợ nước ngoài được sử dụng để tài trợ cho chi tiêu
hiện tại nhưng chắc chắn thế hệ tương lai sẽ phải chi trả vì mức độ tiêu dùng của
họ bị giảm bằng khoản tiền vay cộng với lãi tích lũy. Sự sụt giảm thu nhập
-
Năng lực trả nợ hiện có của nền kinh tế : Mức thu nhập chung của nền kinh tế,
-
thu nhập bằng ngoại tệ và thu ngân sách.
Mức nợ (gánh nặng nợ) của một quốc gia tại thời điểm xem xét và kỳ hạn phải
-
trả.
Tốc độ tăng của nợ công trong những năm sắp tới, bao gồm cả cơ cấu và kỳ hạn
nợ.
1.2.2.
1.2.2.1.
Đánh giá an toàn nợ công
Đánh giá an toàn nợ công qua các ngưỡng chuẩn của IMF
Theo quan điểm của IMF thì tiêu chí đánh giá an toàn nợ công đối với các
quốc gia có thu nhập thấp dựa vào hiện giá thuần của nợ và dịch vụ nợ (nghĩa vụ
trả nợ), một chính sách nợ yếu đồng nghĩa an toàn về nợ và một chính sách nợ
mạnh đồng nghĩa kém an toàn về nợ.
Bảng 1.1. Tiêu chí đánh giá mức độ an toàn về nợ của IMF
Gánh nặng nợ theo tiêu chí DSF
NPV của nợ (%)
Dịch vụ nợ (%)
Thu ngân
250
20
25
Mạnh
200
50
300
25
30
24
(Nguồn : IMF)
Giá trị hiện tại ròng (NPV) của tổng nợ là giá trị tính bằng đồng tiền hiện
tại của dòng tiền trả nợ (bao gồm vốn gốc và nợ lãi) phải trả trong tương lai.
Tỷ lệ NPV của nợ/xuất khẩu : đo lường hiện giá thuần của nợ liên quan
đến khả năng trả nợ của quốc gia từ nguồn thu xuất khẩu.
Tỷ lệ NPV của nợ/thu NSNN : đo lường hiện giá thuần của nợ liên quan
đến khả năng trả nợ của quốc gia lấy từ nguồn thu NSNN. Tuy nhiên chỉ tiêu thứ
hai chỉ được sử dụng nếu như đáp ứng đáp ứng hai điều kiện :
i.
Khó khăn
Bình thường
30 – 50%
≤ 30%