luận văn thạc sĩ tài chính ngân hàng Phát triển hoạt động cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ tại ngân hàng thương mại cổ phần Kỹ thương Việt Nam - Techcombank - Pdf 27

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu, kết quả
nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kì công trình
nghiên cứu nào. Các thông tin trích dẫn trong luận văn đều có nguồn gốc rõ ràng./.
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Vân Anh
LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập tại Trường Đại học Kinh tế Quốc dân tôi đã được
truyền đạt và tiếp thu nhiều kiến thức từ các thầy, cô giáo trong trường. Để có được
kết quả nghiên cứu này, ngoài sự cố gắng và nỗ lực của bản thân, tôi còn nhận được
sự giúp đỡ, chỉ bảo tận tình của các thầy, cô giáo trong Khoa Kinh tế Tài chính
Ngân hàng, Viện đào tạo sau Đại học. Đặc biệt là sự hướng dẫn chu đáo, tận tình
của PGS. TS. Lê Đức Lữ là thầy giáo hướng dẫn trực tiếp tôi trong suốt thời gian
nghiên cứu đề tài và viết luận văn.
Bên cạnh, tôi cũng nhận được sự giúp đỡ, tạo điều kiện của các đồng chí lãnh
đạo cơ quan, bạn bè đồng nghiệp và sự động viên của gia đình đã tạo mọi điều kiện
để tôi hoàn thành luận văn này.
Với tấm lòng biết ơn sâu sắc, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các thầy, cô
giáo cùng toàn thể mọi người đã dành cho tôi những tình cảm và sự giúp đỡ quý
báu trong thời gian qua./.

Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Vân Anh

MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU
TÓM TẮT LUẬN VĂN

VỪA VÀ NHỎ TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ
PHẦN KỸ THƯƠNG VIỆT NAM 35
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG CHO
VAY DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TẠI
TECHCOMBANK 71
KẾT LUẬN 91
TÓM TẮT LUẬN VĂN
Ở bất kỳ một nền kinh tế hay quốc gia nào, doanh nghiệp vừa và nhỏ đều giữ
những vai trò quan trọng không thể thiếu. Doanh nghiệp vừa và nhỏ tuy là những
doanh nghiệp có quy mô nhỏ về vốn, lao động và doanh thu, nhưng có vai trò quan
trọng trong nền kinh tế do nó thường chiếm tỷ trọng lớn. Riêng đối với Việt Nam,
khu vực này chiếm 95% trong tổng số doanh nghiệp, sử dụng hơn 50% lực lượng
lao động của nền kinh tế và đóng góp khoảng 40% GDP hàng năm.
Trong chiến lược phát triển KTXH 2011-2020, chính phủ cũng đã thể hiện
chủ trương quan tâm phát triển loại hình doanh nghiệp vừa và nhỏ: “Thực hiện
Chương trình quốc gia về phát triển doanh nghiệp gắn với quá trình cơ cấu lại
doanh nghiệp. Hỗ trợ phát triển mạnh các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Tạo điều
kiện để hình thành các doanh nghiệp lớn, có sức cạnh tranh trên thị trường… Có
chính sách khuyến khích, hỗ trợ các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế
đổi mới công nghệ, làm chủ các công nghệ then chốt, mũi nhọn và đẩy mạnh sản
xuất các sản phẩm có hàm lượng công nghệ cao, trong đó ưu tiên các doanh
nghiệp nhỏ và vừa”.
Tuy có vai trò quan trọng nhưng phần lớn doanh nghiệp vừa và nhỏ đều còn
rất trẻ, vốn tự có ít, thiếu kinh nghiệm quản lý và kinh doanh trên thị trường lớn,
công nghệ còn lạc hậu… Trong khi cùng với sự mở cửa của nền kinh tế nước ta,
mức độ cạnh tranh ngày càng gay gắt. Muốn thành công thì các doanh nghiệp vừa
và nhỏ cần mở rộng vốn để đầu tư vào các trang thiết bị tiên tiến hiện đại, tập trung
nâng cao chất lượng nguồn nhân lực…
Bên cạnh đó, một nền kinh tế phát triển lành mạnh và ổn định không thể
thiếu những tổ chức tài chính trung gian thực hiện chức năng dẫn vốn từ những

tại Ngân hàng thương mại cổ phần Kỹ thương Việt Nam
Trong chương 1: Giới thiệu lý thuyết chung về cho vay khách hàng
doanh nghiệp vừa và nhỏ của ngân hàng thương mại.
ii
Luận văn tổng hợp các lý thuyết liên quan mật thiết đến đề tài nghiên cứu làm cơ sở
nền tảng để giải quyết những vấn đề đặt trong đề tài nghiên cứu. Các nội dung trình
bày tại chương này được tóm tắt như sau:
• Những vấn đề cơ bản về Doanh nghiệp vừa và nhỏ
Doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo
quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng
nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân
đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là
tiêu chí ưu tiên).
Các doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNV&N) có các đặc điểm là:
- DNV&N năng động, linh hoạt, dễ thích nghi với sự thay đổi của thị trường
- DNV&N tạo điều kiện duy trì cạnh tranh tự do
- DNV&N được tạo lập đơn giản, dễ dàng, hoạt động có hiệu quả với chi phí
cố định thấp.
- Các DNV&N hiện nay đã chú trọng đổi mới công nghệ nhưng còn tương
đối lạc hậu, không đồng bộ
- Trình độ và năng lực của đội ngũ nhân viên cũng như chủ doanh nghiệp
còn nhiều yếu kém
- DNV&N có quy mô vốn nhỏ nên năng lực cạnh tranh còn thấp
• Một số vấn đề về hoạt động cho vay của Ngân hàng thương mại
trong nền kinh tế thị trường
Cho vay là một hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao cho
khách hàng sử dụng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời gian nhất định
theo thoả thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi.
Trong nền kinh tế thị trường, hoạt động cho vay của Ngân hàng thương mại
rất đa dạng và phong phú với nhiều loại hình khác nhau. Tùy thuộc vào đặc điểm

số cho vay và doanh số thu nợ đối với DNV&N, Chỉ tiêu dư nợ cho vay của
DNV&N, chỉ tiêu tỷ lệ nợ xấu, chỉ tiêu lợi nhuận từ cho vay khách hàng DNV&N.
Từ hoạt động của Ngân hàng thương mại có thể có một số biện pháp để phát
triển cho vay DNV&N tại Ngân hàng thương mại là: Phát triển đa dạng các sản
phẩm phục vụ khách hàng DNV&N, xây dựng quy trình cho vay phù hợp với đặc
điểm của DNV&N, có cơ chế về tài sản đảm bảo một cách linh hoạt; nâng cao chất
lượng nhân sự phục vụ khách hàng là DNV&N.
Có nhiều nhân tố khác nhau tác động tới hoạt động cho vay của NHTM đối
với DNV&N có thể chia thành các nhân tố từ bản thân ngân hàng, các nhân tố từ
bản thân DNV&N và các nhân tố khách quan khác.
Trong chương 2, trình bày về thực trạng cho vay Doanh nghiệp vừa và
nhỏ tại Techcombank.
Luận văn trình bày một số nội dung chính như sau:
• Những đặc điểm về cơ cấu tổ chức, tình hình hoạt động kinh doanh
tổng quát của Ngân hàng thương mại cổ phần kỹ thương Việt Nam trong thời
gian qua
Ngân hàng được thành lập ngày 27/9/1993 với số vốn ban đầu là 20 tỷ đồng,
trụ sở ban đầu được đặt ở 24 Lý Thường Kiệt, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội, với tên gọi
chính thức là Ngân hàng Thương mại Cổ phần Kỹ thương Việt Nam, tên tiếng anh
là Techcombank. Trải qua hơn 20 năm xây dựng và phát triển, Techcombank đã
vươn lên, trở thành một trong những ngân hàng TMCP hàng đầu tại Việt Nam. Mô
hình tổ chức của Techcombank được xây dựng dựa trên luật doanh nghiệp áp dụng
cho các tổ chức tín dụng, quy định của Ngân hàng nhà nước Việt Nam cho các tổ
chức tín dụng, các quy chuẩn thông lệ quốc tế và tư vấn chiến lược từ HSBC.
Tốc độ phát triển của Techcombank là khá nhanh, chỉ trong vòng 5 năm mà
tổng tài sản tăng hơn gấp 3 lần, tổng vốn chủ sở hữu tăng hơn 2 lần; huy động tiền
gửi từ tổ chức tín dụng và khách hàng cũng như tổng cho vay khách hàng đều tăng
qua các năm. Trong khi đó hệ số an toàn vốn thường xuyên duy trì ở mức cao, đảm
v
bảo tuân thủ yêu cầu của Ngân hàng Trung ương. Lợi nhuận trước thuế cũng của

hàng và kiểm soát sau vay, Thu hồi nợ, lãi vay và xử lý điều chỉnh khoản vay
nếu có phát sinh.
+ Luận văn cũng xem xét một số chỉ tiêu đã được nêu trong phần lý luận để
đánh giá về tình hình hoạt động cho vay DNV&N tại Techcombank:
Số lượng khách hàng DNV&N có quan hệ tín dụng với Techcombank tăng
đều qua các năm tuy nhiên chưa tương xứng với lượng khách hàng tiềm năng mà
Techcombank đang có.
Doanh số cho vay đối với DNV&N trong tổng doanh số cho vay cũng rất cao
(>90%). Điều này đã khẳng định DNV&N là khách hàng chủ chốt của
Techcombank.Bên cạnh đó, công tác thu nợ của Techcombank trong các năm 2010,
2011 là khá tốt. Tuy nhiên, từ năm 2012 đến nay, công tác thu hồi nợ có dấu hiệu
giảm sút hiệu quả với sự giảm xuống của doanh số thu nợ. Sở dĩ như vậy là do năm
2012 và năm 2013 là hai năm mà nền kinh tế trì trệ, lạm phát cao, tình hình kinh tế
trong và ngoài nước có nhiều biến động, nhiều DNV&N gặp khó khăn không thể trả
nợ cho ngân hàng.
Tổng dư nợ cho vay DNV&N được xem xét dưới các góc độ: so sánh với các
thành phần khác trong tổng thể các khách hàng của Techcombank; xem xét cơ cấu
dư nợ theo thời hạn cho vay, theo sản phẩm. Nhìn vào tỷ trọng dư nợ của các nhóm
khách hàng của Techcombank có thể thấy DNV&N vẫn đang chiếm chủ yếu và là
khách hàng lớn của ngân hàng. Dư nợ trung và dài hạn vẫn chiếm tỷ lệ nhỏ trong
tổng dư nợ.
Thu nhập từ cho vay DNV&N: đóng góp của thu từ cho vay DNV&N vào
tổng thu từ cho vay của Techcombank còn khá khiêm tốn. Tính trung bình thì tỷ
trọng dư nợ cho vay khách hàng DNV&N trên tổng dư nợ cho vay toàn ngân hàng
giai đoạn từ năm 2010 đến tháng 8 năm 2013 xấp xỉ 57% trong khi thu nhập từ cho
vay khách hàng DNV&N lại chỉ chiếm khoảng 36%. Như vậy, thu nhập từ hoạt
vii
động cho vay DNV&N tại Techcombank chưa xứng tầm với dư nợ của nhóm khách
hàng này tại đây.
Thực trạng về tỷ lệ nợ xấu của cho vay DNV&N tại Techcombank: từ năm

tác động rất lớn đến hoạt động của Ngân hàng cũng như DNV&N. Thời gian qua do
tham vọng dẫn đầu thị trường nên Techcombank đã mở rộng quy mô tín dụng ồ ạt,
không coi trọng đúng mực công tác thẩm định và phê duyệt tín dụng. Điều này đã
dẫn đến những khoản cho vay tiềm ẩn nguy cơ rủi ro cao không được phát hiện,
trực tiếp làm tỷ trọng nợ xấu của ngân hàng càng ngày càng gia tăng.Việc thực hiện
thẩm định và phê duyệt tín dụng tập trung thể hiện phong cách làm việc chuyên
nghiệp, tuy nhiên điều này cũng làm tăng thời gian khi tất cả các hồ sơ vay vốn đều
tập trung về hội sở. Techcombank chưa có được các sản phẩm riêng biệt cho phân
khúc khách hàng DNV&N. Hiện nay Techcombank vẫn áp dụng các sản phẩm cho
vay chung đối với tất cả các đối tượng khách hàng doanh nghiệp, bao gồm cả doanh
nghiệp vừa và nhỏ và doanh nghiệp lớn. Đội ngũ cán bộ tín dụng của
Techcombank hầu hết đều còn rất trẻ nên mang đến sự năng động và tinh thần làm
việc hăng say tuy nhiên vẫn còn thiếu kinh nghiệm thực tế trong việc cấp tín dụng.
Trong quá trình thẩm định tín dụng, ngân hàng vẫn còn quá chú trọng vào vấn đề
TSBĐ. Ngoài ra, bản thân DNV&N còn thiếu hiểu biết về các dịch vụ và thủ tục
của ngân hàng.
Trong chương 3, thảo luận một số giải pháp nhằm phát triển hoạt động
cho vay Doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Techcombank.
• Định hướng cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ trong thời gian tới
Trong thời gian gần đây, Chính phủ đã thể hiện sự quan tâm của mình tới
DNV&N với việc ban hành nghị định số 56/2009/NĐ-CP về việc trợ giúp doanh
nghiệp vừa và nhỏ phát triển. Theo nghị định này, Nhà nước khuyến khích thành
lập quỹ bảo lãnh tín dụng doanh nghiệp nhỏ và vừa. Tiếp đó, Ngân hàng nhà nước
ra Chỉ thị 01/2012/CT-ngân hàngNN về những lĩnh vực được ưu tiên vay vốn với
ix
lãi suất ưu đãi của ngân hàng là: nông nghiệp - nông thôn, sản xuất hàng xuất khẩu,
công nghiệp hỗ trợ, doanh nghiệp nhỏ và vừa sử dụng nhiều lao động, các dự án,
phương án có hiệu quả. Gần đây, theo thông tư 16/2013/TT-NHNN có hiệu lực từ
ngày 28/06/2013, lãi suất cho vay ngắn hạn bằng tiền đồng tối đa đối với các lĩnh
vực ưu tiên trên cao nhất là 9%. Mức trần lãi suất cho vay của các tổ chức tín dụng

hàng. Để có thể giảm thiểu thời gian phê duyệt tín dụng, ngân hàng nên áp dụng công
nghệ tiên tiến vào việc phát triển hệ thống lưu trữ hồ sơ điện tử, rút ngắn thời gian
vận chuyển hồ sơ từ đơn vị lên hội sở.
- Áp dụng linh hoạt hình thức bảo đảm tiền vay: ngân hàng nên theo sát kế
hoạch sử dụng vốn vay của khách hàng, phương án sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp kết hợp với tài sản đảm bảo và tài sản hình thành từ nguồn vốn vay để giải
quyết nhu cầu vay vốn của khách hàng. Ngân hàng có thể linh hoạt trong các hình
thức bảo đảm tiền vay như sử dụng các khoản phải thu để làm tài sản đảm bảo.
- Nâng cao trình độ đội ngũ nhân sự và không ngừng rèn luyện đạo đức nghề
nghiệp: bất kỳ một doanh nghiệp, tổ chức nào muốn hoạt động tốt, phát triển bền
vững thì nguồn nhân lực luôn là yếu tố đòi hỏi phải được quan tâm hàng đầu, và các
NHTM cũng không phải là ngoại lệ. Trong đó, bộ phận cán bộ tín dụng, giao dịch
viên chính là bộ mặt của ngân hàng, là những người trực tiếp làm việc với khách
hàng. Khách hàng đánh giá ngân hàng thông qua tác phong, kinh nghiệm làm việc
đội ngũ này. Vì vậy Techcombank phải tăng cường đầu tư vào yếu tố con người,
đặc biệt là những bộ phận thường xuyên tiếp xúc với khách hàng.
- Tăng cường hoạt động phi tài chính đối với khách hàng DNV&N: Đây là
giải pháp nhằm thu hút và tạo sự gắn bó của khách hàng với Techcombank. Các
hoạt động hỗ trợ phi tài chính có thể bao gồm cung cấp thông tin kinh tế tài chính,
hướng dẫn thủ tục, giới thiệu các cơ hội kinh doanh, giới thiệu đối tác đầu tư, bạn
hàng, nhà cung cấp cho khách hàng thông qua nhiều kênh khác. Đồng thời ngân
hàng cũng có thể hỗ trợ những khách hàng thân thiết tham gia các khoá đào tạo về
quản lý cho lãnh đạo các DNV&N, đào tạo về hoạt động và sản phẩm ngân hàng
xi
cho nhân viên doanh nghiệp.
- Tăng cường kiểm tra, giám sát các khoản tín dụng, phòng ngừa rủi ro nợ
quá hạn: Để thực hiện được điều đó, ngân hàng cần thực hiện cho vay đúng quy
trình thủ tục quy định của ngành; thường xuyên rà soát theo dõi nợ đến hạn, nắm
bắt khả năng tài chính của khách hàng để có biện pháp thu hồi nợ đến hạn, hạn chế
nợ quá hạn phát sinh. Phải đánh giá khách hàng một cách chính xác trước khi đưa ra

Trong chiến lược phát triển KTXH 2011-2020, chính phủ cũng đã thể hiện
chủ trương quan tâm phát triển loại hình doanh nghiệp vừa và nhỏ: “Thực hiện
Chương trình quốc gia về phát triển doanh nghiệp gắn với quá trình cơ cấu lại
doanh nghiệp. Hỗ trợ phát triển mạnh các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Tạo điều
kiện để hình thành các doanh nghiệp lớn, có sức cạnh tranh trên thị trường… Có
chính sách khuyến khích, hỗ trợ các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế
đổi mới công nghệ, làm chủ các công nghệ then chốt, mũi nhọn và đẩy mạnh sản
xuất các sản phẩm có hàm lượng công nghệ cao, trong đó ưu tiên các doanh
nghiệp nhỏ và vừa”.
Tuy có vai trò quan trọng nhưng phần lớn doanh nghiệp vừa và nhỏ đều còn
rất trẻ, vốn tự có ít, thiếu kinh nghiệm quản lý và kinh doanh trên thị trường lớn,
công nghệ còn lạc hậu… Trong khi cùng với sự mở cửa của nền kinh tế nước ta,
mức độ cạnh tranh ngày càng gay gắt. Muốn thành công thì các doanh nghiệp vừa
và nhỏ cần mở rộng vốn để đầu tư vào các trang thiết bị tiên tiến hiện đại, tập trung
nâng cao chất lượng nguồn nhân lực…
Bên cạnh đó, một nền kinh tế phát triển lành mạnh và ổn định không thể
thiếu những tổ chức tài chính trung gian thực hiện chức năng dẫn vốn từ những
người có vốn tới những người cần vốn. Ngân hàng là một tổ chức tài chính quan
trọng nhất của nền kinh tế. Hoạt động chính của ngân hàng thương mại (NHTM) là
1
huy động vốn để cho vay nhắm mục đích thu được lợi nhuận. Bất cứ một khách
hàng nào thỏa mãn đầy đủ các điều kiện của Ngân hàng thì sẽ được Ngân hàng cho
vay. Cho vay là khoản mục tài sản lớn và quan trọng nhất của ngân hàng và là
khoản mục đem lại thu nhập cao nhất cho ngân hàng. Đồng thời nó cũng mang lại
rủi ro về nợ có khả năng bị mất vốn cho Ngân hàng. Bởi vậy các Ngân hàng phải
cân nhắc kỹ lưỡng, ước lượng khả năng rủi ro và sinh lời khi quyết định cho vay đối
với một doanh nghiệp.
Xác định được được tầm quan trọng của vấn đề này nên luận văn này được
lựa chọn với tên đề tài là: “Phát triển hoạt động cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ
tại ngân hàng thương mại cổ phần Kỹ thương Việt Nam - Techcombank”. Mục

vay doanh nghiệp vừa và nhỏ tín dụng qua các năm
- Các thông tin thu thập trên các trang web điện tử.
5. Kết cấu của luận văn
Bài viết được kết cấu thành 3 chương như sau:
Chương 1: Lý thuyết chung về cho vay khách hàng doanh nghiệp vừa và
nhỏ của Ngân hàng thương mại
Chương 2: Thực trạng hoạt động cho vay đối với các doanh nghiệp vừa và
nhỏ tại Ngân hàng thương mại cổ phần Kỹ thương Việt Nam
Chương 3: Giải pháp phát triển hoạt động cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ
tại Ngân hàng thương mại cổ phần Kỹ thương Việt Nam
Do thời gian nghiên cứu và kiến thức còn nhiều hạn chế, chắc chắn luận văn
không tránh khỏi những thiết sót, rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các
thầy cô để đề tài nghiên cứu có hoàn thiện hơn, đồng thời cũng giúp tác giả có thể
điều chỉnh, mở rộng kiến thức của mình trong công tác nghiên cứu sau này.
3
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG CHO
VAY DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ CỦA NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI
1.1 Những vấn đề cơ bản về Doanh nghiệp vừa và nhỏ
1.1.1 Khái niệm doanh nghiệp vừa và nhỏ
Hiện nay, có rất nhiều định nghĩa, quan điểm, cũng như tiêu thức khác nhau
về Doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNV&N). Theo luật doanh nghiệp, doanh nghiệp là
tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký
kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động
kinh doanh.
Có nhiều cách để phân loại doanh nghiệp. Dựa vào quy mô kinh doanh
Doanh nghiệp được chia thành: doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp vừa và nhỏ. Trong
đó có hai tiêu thức được sử dụng phổ biến nhất là số lao động thường xuyên và vốn
sản xuất kinh doanh.Việc xác định DNV&N do đó phải dựa vào tiêu thức trên.
Tùy từng đặc điểm và quy định của mỗi nước mà DNV&N được định nghĩa

Thứ nhất, DNV&N năng động, linh hoạt, dễ thích nghi với sự thay đổi của
thị trường. Đây là một ưu điểm nổi bật của DNV&N so với các doanh nghiệp lớn.
Với bộ máy tổ chức gọn nhẹ, quy mô vốn nhỏ, vòng quay vốn của các DNV&N
thường là ngắn, các phương án sản xuất kinh doanh không lâu dài như các DN lớn.
Do đó, DNV&N dễ dàng thay đổi quy mô, thay đổi sản phẩm khi có sự thay đổi
của thị trường. Trong khi đó, các doanh nghiệp lớn với cơ sở vật chất quy mô lớn,
phương án sản xuất lâu dài sẽ không dễ dàng mở rộng hay thu hẹp sản xuất trong
thời gian ngắn. Ngày nay, khi mà thị trường thường xuyên biến động, nhu cầu của
khách hàng thường xuyên thay đổi thì việc DNV&N có thể nhanh chóng thay đổi
sản phẩm đáp ứng được nhu cầu thị trường gần như ngay lập tức là một lợi thế rất
quan trọng. Việc DNV&N có nắm bắt và đáp ứng được nhu cầu của thị trường hay
5
không còn phụ thuộc vào sự nhạy bén, khả năng dự báo thị trường của bản thân
doanh nghiệp đó.
Thứ hai, DNV&N tạo điều kiện duy trì cạnh tranh tự do. Đây là một đặc
điểm rất quan trọng của các DNV&N đối với nền kinh tế Việt Nam. Như đã biết
DNV&N là loại hình doanh nghiệp có số lượng lớn, kinh doanh rộng rãi trong các
lĩnh vực cung cấp các mặt hàng thiết yếu, mặt khác các DNV&N không có sự bảo
hộ từ phía nhà nước tạo nên một sự cạnh tranh công bằng và sôi động cho nền kinh
tế. Để tồn tại và phát triển các DNV&N luôn tận dụng, tìm tòi các cơ hội mà
không ngại rủi ro, tự chủ cao trong kinh doanh, đây là một yếu tố mà các doanh
nghiệp lớn đôi khi không có được do các đặc thù về loại hình doanh nghiệp .
Thứ ba, DNV&N được tạo lập đơn giản, dễ dàng, hoạt động có hiệu quả với
chi phí cố định thấp. Để thành lập một doanh nghiệp lớn thì vô cùng khó khăn,
phải có số vốn ban đầu rất lớn tuy nhiên đối với các DNV&N thì ngược lại, được
tạo lập một cách tương đối đơn giản, vốn đầu tư ban đầu thấp, mặt bằng sản xuất
nhỏ, điều đó trở thành ưu thể so với các doanh nghiệp lớn khi bước vào sản xuất
kinh doanh. Với quy mô nhỏ gọn, dễ quản lý các DNV&N linh hoạt phát triển mặt
khác các doanh nghiệp này còn có thể huy động được nguồn vốn vay từ gia đình,
bạn bè, người quen dẫn đến một số doanh nghiệp được hình thành mang tính chất

trình độ thấp. Chính vì vậy việc quản lý và sử dụng lao động tại các doanh nghiệp
này thường không hiệu quả.
Thứ ba, DNV&N có quy mô vốn nhỏ nên năng lực cạnh tranh còn thấp. Quy
mô vốn là tiêu chí chủ yếu để phân biệt DNV&N với doanh nghiệp lớn. Có thể nói,
vì thiếu vốn nên DN gặp khó khăn trong đổi mới công nghệ, đào tạo đội ngũ quản
lý và nâng cao năng lực cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường. Mặt khác,
DNV&N hầu như không đáp ứng đủ yếu cầu để tham gia vào thị trường chứng
khoán, nên không thể trực tiếp huy động vốn để mở rộng sản xuất kinh doanh. Bên
cạnh đó, việc tiếp cận tín dụng ngân hàng của các DNV&N còn gặp nhiều khó
khăn. Chính tình trạng này đã khiến cho các DNV&N thiếu các dịch vụ kinh doanh
7
tiên tiến nhằm đáp ứng thị trường, và không theo kịp tốc độ cạnh tranh của nền
kinh tế quốc tế.
1.2 Hoạt động cho vay của Ngân hàng thương mại trong nền kinh tế
thị trường
1.2.1 Khái niệm hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại
Ngân hàng là một tổ chức tài chính quan trọng nhất trong nền kinh tế. Ngân
hàng gồm nhiều loại, tùy thuộc vào sự phát triển của nền kinh tế nói chung và hệ
thống tài chính nói riêng, trong đó ngân hàng thương mại thường chiếm tỷ trọng lớn
nhất về quy mô tài sản, thị phần và số lượng ngân hàng. Có nhiều cách tiếp cận
khác nhau về định nghĩa Ngân hàng, một định nghĩa được sử dụng khá phổ biến là
theo quan điểm của Peter S.Rose : “Ngân hàng là loại hình tổ chức tài chính cung
cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất – đặc biệt là tín dụng, tiết
kiệm và dịch vụ thanh toán – và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất
kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế”.
Tín dụng là một hoạt động lâu đời và quan trọng bậc nhất của các Ngân hàng
thương mại. Đó là một hình thức vận chuyển vốn gián tiếp thông qua một trung
gian là Ngân hàng thương mại. Theo Luật các tổ chức tín dụng, các Ngân hàng
thương mại có thể cấp tín dụng cho cá nhân, tổ chức thông qua các hình thức cho
vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bảo lãnh, bao thanh toán và các nghiệp vụ cấp


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status