Giải quyết tranh chấp dân sự có yếu tố nước ngoài (có tình huống) - Pdf 53

Mở đầu
Ngày nay với nền kinh tế thị trường hội nhập, các quốc gia đều hướng tới
mở cửa để cùng hòa nhập với các quốc gia khác phát triển nền kinh tế. đây là một
cánh cửa mở ra một cơ hội to lớn cho những quốc gia tham gia như phát triển nền
kinh tế, giao lưu văn hóa, hội nhập khoa học kỹ thuật ,… chúng ta đều hội nhập
trên tất cả mọi lĩnh vực khác nhau với tất cả các chủ thề khác nhau trên toàn thế
giới vậy nên bên cạnh những thuân lợi cũng xảy ra những bất cập lớn khác nhau,
đặc biệt là sự xung đột giữa các quốc gia với với nhau do sự khác biệt về thể chế
chính trị, quan điểm, quan niệm, chính sách mỗi quốc gia khác nhau, và nếu xảy ra
xung đột thì sẽ giải quyết như thế nào, chủ thể nào sẽ đứng ra giải quyết xung đột
đó một cách triệt để nhất những vấn đề đó? Để tìm hiểu kĩ hơn về vấn đề này,
nhóm chúng em đã xây dựng một tình huống giả định về tranh chấp dân sự có yếu
tố nước ngoài dưới đây.


1.

Lý thuyết chung
Tranh chấp dân sự có yếu tố nước ngoài
Tranh chấp dân sự có yếu tố nước ngoài là tranh chấp dân sự phát sinh từ các

quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài, là loại vụ việc có sự xung đột về lợi ích giữa
các bên trong một quan hệ pháp lí mà một bên hoặc các bên đưa ra yêu cầu, đòi hỏi
một lợi ích nhất định (quyền hoặc nghĩa vụ). Những tranh chấp này thường là liên
quan đến một bên các chủ thể là người nước ngoài, hoặc người Việt Nam định cư ở
nước ngoài, hoặc tài sản ở nước ngoài… Ví dụ như tranh chấp về hợp đồng, phân
chia di sản thừa kế, tranh chấp quyền sở hữu đối với tài sản, quyền nuôi con,… có
yếu tố nước ngoài. Việc giải quyết các tranh chấp dân sự thường theo một quy trình
tố tụng phức tạp hơn, được giải quyết tại tòa án.
Căn cứ tại Khoản 2 Điều 464 Bộ Luật Dân sự 2015, vụ việc dân sự có yếu tố
nước ngoài là vụ việc dân sự thuộc một trong các trường hợp sau:

Thẩm quyền của tòa án Việt Nam theo các điều ước quốc tế
Việc xác định thẩm quyền xét xử của tòa án trong các HĐTTTP hiện được

phân chia thành các nhóm tranh chấp cơ bản sau:
Thứ nhất, vụ việc liên quan đến quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản của vợ
chồng. Đây là các quan hệ pháp lí có tính chất ổn định, lâu dài, vụ việc phát sinh
trong thời kì hôn nhân, nên các hiệp định quy định tòa án có thẩm quyền cũng
thường là tòa án các nước nơi có sự hiện diện của quan hệ nhân thân, tài sản vợ
1 Xung đôt vê thâm quyên (hay con goi la xung đ ôt quyên tai phan) la trương hơp trong m ôt vu vi êc dân sư co yêu
tố nước ngoai, cơ quan tai phan của hai hay nhiêu nước đêu co thể co thâm quyên giải quyêt.


chồng, cụ thể là tòa án nước vợ chồng có quốc tịch chung, tòa án nơi thường trú
chung của vợ chồng hoặc tòa án nơi thường trú của một trong các bên.
Thứ hai, vụ việc li hôn và hủy hôn nhân trái pháp luật. Đối với loại vụ việc
này cũng mang tính chất nhân thân nên theo các hiệp định, tòa án có thẩm quyền
giải quyết ly hôn và hủy hôn nhân trái pháp luật là tòa án nước vợ chồng có quốc
tịch chung, nếu vợ chồng không cùng quốc tịch, thì tòa án nên thường trú chung
của vợ chồng, hoặc tòa án nơi thường trú của một trong các bên đều có thẩm
quyền.
Thứ ba, vụ việc về cấp dưỡng nuôi con. Các hiệp định đều thống nhất quy
định tòa án nơi thường trú của nguyên đơn sẽ có thẩm quyền giải quyết các yêu cầu
về cấp dưỡng nuôi con.
Thứ tư, vụ việc về thừa kế. Thừa kế cũng là một loại việc vừa mang tính chất
nhân thân, vừa mang tính chất tài sản và liên quan đến hiệu lực của di chúc. Cho
nên trong một vụ việc về thừa kế có thể có nhiều tòa án của nhiều nước khác nhau
đều có thể có thẩm quyền. Hầu hết các hiệp định đều dựa trên dấu hiệu quốc tịch
hoặc nơi thường trú của người để lại di sản thừa kế để xác định thẩm quyền trong
trường hợp thừa kế theo pháp luật. Đối với di sản là bất động sản thì tòa có thẩm
quyền là tòa án nơi có bất động sản đó (Điều 42 HĐTTTP Việt – Nga).

b.

Thẩm quyền của Tòa án theo quy định pháp luật Việt Nam.
Theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, việc xác định thẩm

quyền Tòa án Việt Nam đối với vụ việc có yếu tố nước ngoài được quy định tại


Điều 469 về thẩm quyền chung của Tòa án Việt Nam trong giải quyết các vụ việc
có yếu tố nước ngoài, Điều 470 về thẩm quyền riêng biệt của Tòa án Việt Nam…
Thẩm quyền chung là quy định dựa trên các dấu hiệu chung trong pháp luật tố
tụng các nước để xác định thẩm quyền của Tòa án bao gồm dấu hiệu về lãnh thổ,
về quốc tịch và theo sự lựa chọn của các bên. Điều 469 BLTTDS 2015 đã quy định
cụ thể các dấu hiệu xác định thẩm quyền của tòa án Việt Nam đối với các tranh
chấp dân sự có yếu tố nước ngoài. Việc xác định tòa án cụ thể nào cho một vụ việc
thực tế thì cần tiếp tục căn cứ vào các quy định về xác định thẩm quyền khác của
BLTTDS.
Thẩm quyền riêng của tòa án Việt Nam. Xuất phát từ tính chất đặc thù của
một số vụ việc pháp luật tố tụng Việt Nam có quy định về một số loại vụ việc chỉ
thuộc thẩm quyền riêng của tòa án nước mình. Đây gọi là thẩm quyền riêng biệt
mang tính chất tuyệt đối, tòa án bắt buộc phải tuân thủ. Thông thường, những vụ
việc thuộc thẩm quyền riêng biệt của Tòa án là những vụ việc có mối quan hệ gắn
bó với hệ thống cơ quan tài phán đó, quy định này nhằm bảo vệ không chỉ lợi ích
công dân, pháp nhân mà phải tính tới lợi ích quốc gia, bảo vệ trật tự công cũng như
trật tự pháp lí của quốc gia trong quan hệ dân sự quốc tế. Điều 470 BLTTDS đã
quy định rõ về thẩm quyền giải quyết riêng biệt của tòa án Việt Nam. Sau khi xác
định thẩm quyền của Tòa án Việt Nam theo các quy định tại BLTTDS 2015, tùy
từng loại việc cụ thể, tòa án sẽ áp dụng các quy định về áp dụng thẩm quyền của tố
tụng dân sự thông thường trong nước để xác định tòa án cụ thể trong mỗi loại vụ
việc liên quan.

thường thiệt hại cho công ty A do vi phạm hợp đồng, thuộc quy định tại khoản 3


Điều 26 BLTTDS 2015 về những tranh chấp dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết
của Tòa án.
Vụ kiện giữa công ty A và B là vụ án dân sự. Vụ án xuất hiện quan hệ tranh
chấp đó là: Bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng. Theo đó, tư cách các đương
sự trong vụ án được xác định theo quy định tại Điều 68 BLTTDS 2015 như sau:
Nguyên đơn trong vụ án dân sự là người khởi kiện, người được cơ quan, tổ
chức, cá nhân khác do Bộ luật này quy định khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết
vụ án dân sự khi cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của người đó bị xâm phạm.
Trong vụ án, công ty A khởi kiện ra Tòa án yêu cầu công ty B bồi thường thiệt hại
cho công ty A nên công ty A là nguyên đơn trong vụ án này.
Bị đơn trong vụ án dân sự là người bị nguyên đơn khởi kiện hoặc bị cơ quan,
tổ chức, cá nhân khác do Bộ luật này quy định khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải
quyết vụ án dân sự khi cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn bị
người đó xâm phạm. Trong vụ án, công ty B giao kết một hợp đồng mua bán hàng
hóa hợp pháp với công ty A, bị kiện đòi bồi thường cho những thiệt hại do hành vi
giao tài sản không đúng thời điểm đã thỏa thuận. Do đó, công ty B là bị đơn trong
vụ án này.
2.

Xác định thẩm quyền của tòa án giải quyết vụ việc đó.
Việc xác định thẩm quyền xét xử quốc tế được thực hiện trước hết dựa vào ý

chí và lợi ích của các bên đương sự để lựa chọn cơ quan tài phán, thông qua việc
khởi kiện của các bên trong việc nộp đơn khởi kiện ra cơ quan tài phán có khả
năng bảo vệ tốt nhất quyền lợi của họ. Tòa án thụ lí đơn khởi kiện dựa trên cơ sở
nguyên tắc luật Tòa án sẽ căn cứ vào các dấu hiệu xác định thẩm quyền xét xử
quốc tế được quy định trong các điều ước quốc tế, văn bản pháp luật về tố tụng của

lựa chọn của các bên. Tuy nhiên, BLTTDS 2015 cũng có quy định trường hợp tòa
án Việt Nam phải trả lại đơn khởi kiện, đơn yêu cầu hoặc đình chỉ giải quyết vụ
việc dân sự có yếu tố nước ngoài nếu vụ việc dân sự thuộc thẩm quyền chung của
tòa án Việt Nam nhưng thuộc một trong các trường hợp được quy định tại Khoản 1
Điều 472 BLTTDS 2015. Đồng thời BLTTDS năm 2015 cũng quy định cho phép
các bên thay đổi thỏa thuận lựa chọn trọng tài hoặc tòa án nước ngoài bằng thỏa
thuận lựa chọn tòa án Việt Nam thì tòa án Việt Nam vẫn có thẩm quyền giải quyết.
Với mục tiêu mở rộng thẩm quyền xét xử của tòa án, tôn trọng quyền tự do ý
chí của các bên trong việc lựa chọn tòa án, tạo thuận lợi cho việc giải quyết tranh
chấp thì trong Điều 3 Công ước La Haye có quy định “ Thỏa thuận lựa chọn tòa
án là thỏa thuận do hai hay nhiều bên kí kết và chỉ định các tòa án của một nước
kí kết và loại trừ tất cả các tòa án khác, để giải quyết tranh chấp đã phát sinh hoặc
sẽ phát sinh liên quan đến một quan hệ pháp luật cụ thể”. Điều 5 Công ước La
Haye cũng quy định về thẩm quyền của Tòa án được lựa chọn:” Tòa án hoặc các
tòa án của một nước kí kết được chỉ định trong một thỏa thuận lựa chọn tòa án sẽ
có thẩm quyền quyết định đối với các tranh chấp mà thỏa thuận này áp dụng, trừ
khi thỏa thuận vô hiệu hoặc không có hiệu lực theo pháp luật nước đó.”
Do đó, trong quá trình thực hiện hợp đồng trên công ty B đã vi phạm hợp
đồng và công ty A đã khởi kiện ra tòa án thì Tòa án Việt Nam là tòa án có thẩm
quyền trong việc giải quyết về yêu cầu bổi thường thiệt hại này của công ty A về
hành vi giao hàng chậm gây thiệt hại của công ty B. Trường hợp tòa án nước ngoài
thụ lý và giải quyết vụ án dân sự này thì bản án, quyết định của Tòa án đó sẽ không
được công nhận hiệu lực và thi hành tại Việt Nam.


Trường hợp nếu các bên không thỏa thuận về việc Tòa án quốc gia nào được
lựa chọn để giải quyết, xét theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam,
đây là trường hợp vụ việc về quan hệ dân sự mà việc xác lập, thay đổi, chấm dứt
quan hệ đó xảy ra ở Việt Nam2 do đó Tòa án Việt Nam có thẩm quyền xét xử giải
quyết tranh chấp này.





Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status