TIỂU LUẬN: Trình bày trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp dân sự - Pdf 50

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
2. Mục đích nghiên cứu
Trong điều kiện của nền kinh tế thị trường, hoạt động kinh doanh,
thương mại, dân sự ngày càng đa dạng và không ngừng phát triển trong
tất cả mọi lĩnh vực sản xuất, thương mại, dịch vụ, đầu tư... Vấn đề lựa
chọn phương thức giải quyết tranh chấp trong kinh doanh, thương mại
phải được các bên cân nhắc, lựa chọn phù hợp dựa trên các yếu tố như
mục tiêu đạt được, bản chất của tranh chấp, mối quan hệ làm ăn giữa các
bên, thời gian và chi phí dành cho việc giải quyết tranh chấp. Chính vì vậy,
khi lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp, các bên cần hiểu rõ bản
chất và cân nhắc các ưu điểm, nhược điểm của một phương thức để có
quyết định hợp lý.
Với đề tài “Trình bày trình tự , thủ tục giải quyết tranh chấp dân sự ”
nhóm chúng em muốn làm rõ những mặt tích cực cũng như hạn chế khi
giải quyết những tranh chấp dân sự bằng phương thức giải quyết qua cơ
quan tòa án.
3. Nội dung nghiên cứu
Nhóm chúng em nghiên cứu đề tài “Trình bày trình tự, thủ tục giải
quyết tranh chấp dân sự” . Nội dung nghiên cứu bao gồm 3 chương
và phần cuối là quan điểm của nhóm chúng em.
1


Chương 1: Đôi nét về ngành luật tố tụng dân sự
Chương 2: Trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp dân sự .
Chương 3: Những hạn chế, vướng mắc trong trình tự, thủ

tục giải

quyết tranh chấp dân sự và một số giải pháp khắc phục.

- Xác định công dân mất tích hoặc chết.
- Những việc khiếu nại về hộ tịch, hộ khẩu.
- Những việc khiếu nại về danh sách cử tri.
-

Những việc khiếu nại về

cơ quan báo chí
thông tin.
về
Những việc khác do pháp luật quy định.[1]

vấn đề cải chính

1.2 Thế nào là tranh chấp dân sự? Một số tranh chấp dân sự

thường gặp.
“Tranh chấp là những mâu thuẫn, bất hoà về quyền và nghĩa vụ hợp
pháp giữa các chủ
tế.”[5]

th tham gia vào quan hệ pháp luật dân sự và kinh


Phổ biến có các loại tranh chấp dân sự sau: tranh chấp về quyền sở hữu,
về hợp đồng dân sự, bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, tranh chấp về
quyền và nghĩa vụ dân sự giữa công dân với nhau, giữa công dân với pháp
nhân, giữa pháp nhân với nhau, tranh chấp về hôn nhân gia đình, yêu cầu
tuyên bố mất tích hoặc tuyên bố chết, khiếu nại về đăng ký hộ tịch về danh
sách cử tri, khiếu nại đối với cơ quan báo chí.

xin Tòa sao chụp tài liệu, chứng cứ cần thiết để nghiêm cứu xây dựng nội
dung


tranh luận bảo vệ quyền lợi cho mình hoặc để khiếu nại. Quyết định áp
dụng biện pháp thu thập chứng cứ của Tòa.
6-Dự phiên Tòa : Khai báo lý lịch trích ngang cho Hội đồng xét xử, trả lời
câu hỏi của (HĐXX) và Luật sư bảo vệ quyền lợi ích của đương sự. Nếu
thấy rõ vấn điều cần hỏi phía bên kia để làm sáng tỏ vụ án thì đề xuất
với HĐXX. Phát biểu quan điểm tranh luận của mình đối với vụ án. Nếu
thấy có các tình huống mà theo luật quy định là phải hoãn phiên Tòa thì có
thể yêu cầu HĐXX cho hoãn phiên Tòa.
7-Ngay sau khi phiên Tòa kết thúc nên gặp Thư Ký để đến ngày nhận bản
án sơ thẩm. Đồng thời cho xem Biên bản phiên Tòa, đề nghị sửa chữa
những chỗ ghi không đúng rồi ký tên vào.
Giai đoạn hai: Khởi kiện ở cấp phúc thẩm[3]
1-Khi tới Tòa nhận bản án sơ thẩm phải đọc kỹ xem có sai xót gì về chính
tả để yêu cầu Tòa chỉnh sửa lại. Cũng phải đọc kỹ xem Quyết định của
Tòa có giống với Quyết định của HĐXX tuyên ngay tại phiên Tòa hay
không. Trường hợp không đúng thì ngay lập tức làm đơn khiếu nại.
2-Sau khi nhận được bản án sơ thẩm nếu muốn thì làm đơn kháng cáo
(mẫu đơn số 3) nộp cho Tòa sơ thẩm, Tòa này sẽ giao thông báo và đương
sự kháng cáo mang sang chi cục thi hành án dân sự Huyện đóng tiền tạm
ứng án phí Phúc thẩm, xong trở lại nộp cho Tòa sơ thẩm một biên lai, biên
lai còn lại đương sự giữ. Chú ý thời hạn án phúc thẩm 15 ngày kể từ ngày
án sơ thẩm tuyên án mà đương sự

có mặt tại phiên Tòa. Trường hợp

đương sự không có mặt tại phiên Tòa thì thời hạn 15 ngày được tính từ

người khởi kiện.
+ Nếu muốn gia hạn thì người thông báo phải có đơn gửi tới Tòa án
nêu rõ lý do. Việc gia hạn, nếu được chấp nhận thì cũng không quá 15
ngày.
-Người được thông báo có quyền yêu cầu Tòa án cho xem, ghi chép,
sao chụp đơn kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo đơn kiện.
.
-Sau khi thụ lý các vụ việc dân sự nếu xét thấy các vụ việc dân sự đó
không thuộc thẩm quyền giải quyết của mình thì Tòa ra quyết định
chuyển hồ sơ vụ việc cho Tòa án có thẩm quyền theo quyết định tại
khoản 1 Điều 37 BLTTDS, đồng thời gửi ngay quyết định hồ sơ vụ việc
cho VKS cùng cấp biết.
+Thủ tục chuyển hồ sơ vụ án dân sự
-Tất cả các tài liệu có trong hồ sơ vụ việc từ Tòa án sang VKS và ngược
lại, cần kiểm tra tất cả các tài liệu có trong hồ sơ vụ án dân sự đó. Người
nhận được hồ sơ vụ án dân sự phải đối chiếu bản kê danh sách mục tài
liệu với số tài liệu đã được đánh số thứ tự trong hồ sơ vụ việc. Việc bàn
dao phải được lập biên bản có ký nhận của hai bên. Trong trường hợp gửi
hồ sơ theo đường bưu điện thì cán bộ nhận hồ sơ vụ việc đầu tiên phải
kiểm tra đầy đủ tài liệu, nếu có thiếu xót phải lập biên bản và ghi rõ tài liệu
và thông báo.
-Các hồ sơ tài liệu, vật chứng mà cá nhân đương sự cơ quan, tổ chức cung
cấp cho VKS theo yêu cầu của VKS theo quy định tại khoản 3 Điều 85


BLTTDS phải chuyển cho Tòa án để đưa vào hồ sơ vụ việc và bảo quản
tại Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 95 BLTTDS.
Những điểm mới khi thụ lý các vụ án dân sự trong luật TTDS sửa đổi
2011
Ngày 29/3/2011 tại kỳ họp thứ 9, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ

thương lượng với nhau có sự tham gia của bên thứ ba (không phải là bên
tranh chấp).
Hòa giải là hành vi thuyết phục các bên đồng ý chấm dứt xung đột hoặc
xích mích một cách ổn thỏa. Hòa giải cũng là giải quyết các tranh chấp, bất
đồng giữa hai hay nhiều bên tranh chấp bằng việc các bên dàn xếp, thương
lượng với nhau có sự tham gia của bên thứ ba (không phải là bên tranh
chấp).
Hòa giải theo quy định của pháp luật: Là các loại hình hòa giải được pháp
luật các nước quy định, theo đó việc hòa giải là một khâu trong trình tự, thủ
tục tiến hành tố tụng, hoặc thiết lập một thể chế hòa giải ở địa phương.
Ở Việt Nam hiện nay, việc giải quyết các tranh chấp dân sự, kinh tế, lao
động, các vụ

án hôn nhân - gia đình tại toà án nhân dân hay tại một tổ

chức, hay tại Hội đồng trọng tài đều thông qua khâu hòa giải như một thủ
tục bắt buộc.
- Trong quá trình tiến hành hòa giải, thẩm phán cần phân biệt:
Những vụ án dân sự không được hoà giải
1. Yêu cầu đòi bồi thường gây thiệt hại đến tài sản của Nhà nước.
2. Những vụ án dân sự phát sinh từ giao dịch trái pháp luật hoặc trái
đạo đức xã hội.
Những vụ án dân sự không tiến hành hoà giải được


1. Bị đơn đã được Toà án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn
cố tình vắng mặt.
2. Đương sự không thể tham gia hoà giải được vì có lý do chính
đáng.
3. Đương sự là vợ hoặc chồng trong vụ án ly hôn là người mất

các quy định của pháp luật có liên quan đến việc giải quyết vụ án để các
bên liên hệ đến quyền, nghĩa vụ của mình, phân tích hậu quả pháp lý của
việc hoà giải thành để

họ tự nguyện thoả thuận với nhau về việc giải

quyết vụ án.
-Biên bản hoà giải
1. Việc hoà giải được Thư ký Toà án ghi vào biên bản. Biên bản hoà
giải phải có các nội dung chính sau đây:
a) Ngày, tháng, năm tiến hành phiên hoà giải;
b) Địa điểm tiến hành phiên hoà giải;
c) Thành phần tham gia phiên hoà giải;
d) ý kiến của các đương sự hoặc người đại diện hợp pháp của các
đương sự;
đ) Những nội dung đã được các đương sự thoả thuận, không thoả
thuận.


2. Biên bản hoà giải phải có đầy đủ chữ ký hoặc điểm chỉ của các
đương sự có mặt trong phiên hoà giải, chữ ký của Thư ký Toà án ghi biên
bản và của Thẩm phán chủ trì phiên hoà giải.
Khi các đương sự thoả thuận được với nhau về vấn đề phải giải
quyết trong vụ án dân sự thì Toà án lập biên bản hoà giải thành. Biên bản
này được gửi ngay cho các đương sự tham gia hoà giải.

- Hết thời hạn bảy ngày, kể từ ngày lập biên bản hoà giải thành mà
không có đương
sự


- Trong trường hợp các đương sự chỉ thoả thuận được với nhau về
việc giải quyết một phần vụ án, còn phần khác không thoả thuận được,
thì Toà án ghi những vấn đề mà các đương sự thoả thuận được và những
vấn đề không thoả thuận được vào biên bản hoà giải theo quy định tại
khoản 1 Điều 186 BLTTDS và tiến hành ra quyết định đưa vụ án ra xét
xử, trừ

trường hợp có căn cứ để tạm đình
chỉ

hoặc đình chỉ việc giải

quyết vụ án.
- Trong một vụ án có nhiều đương sự, mà có đương sự vắng mặt trong
phiên hòa giải, nhưng các đương sự có mặt vẫn đồng ý tiến hành hòa giải
và việc hòa giải đó không ảnh hưởng đến quyền, nghĩa vụ của đương sự
vắng mặt thì Thẩm phán tiến hành hòa giải giữa các đương sự có mặt.
( trích khoản 3 Điều 187 BLTTDS).
Chuẩn bị xét xử

1. Thời hạn chuẩn bị xét xử các loại vụ án được quy định như sau:
a) Đối với các vụ án quy định tại Điều 25 và Điều 27 của Bộ luật
này, thời hạn là bốn tháng, kể từ ngày thụ lý vụ án;
b) Đối với các vụ án quy định tại Điều 29 và Điều 31 của Bộ luật
này, thời hạn là hai tháng, kể từ ngày thụ lý vụ án.
Đối với vụ án có tính chất phức tạp hoặc do trở ngại khách quan thì
Chánh án Toà án có
thể



vụ án ra xét xử.
+ Giải quyết yêu cầu thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định và
người phiên dịch.
+ Xem xét, quyết định hoãn phiên tòa khi có người vắng mặt.
+ Bảo đảm tính khách quan của người làm chứng.
c. Thủ tục hỏi tại phiên tòa:
+ Hỏi đương sự về việc thay đổi, bổ sung, rút yêu cầu và thỏa thuận giải
quyết vụ án.
+ Nghe đương sự trình bày về vụ án.
+ Tiến hành hỏi tại phiên tòa.
+ Công bố các tài liệu của vụ án.
d. Thủ tục tranh luận tại phiên tòa: Đây là hoạt động trung tâm của phiên
tòa, bảo đảm cho đương sự bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của
mình trước tòa án.
e. Nghị án và tuyên án:
+ Nghị án: là việc Hội đồng xét xử xem xét, quyết định giải quyết vụ án.
+ Tuyên án: Sau khi bản án đã được thông qua, Hội đồng xét xử trở lại
phòng xét xử để tuyên án.

2. Xét xử phúc thẩm[3]
a. Triệu tập những người tham gia tố tụng


Sau khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử, Thẩm phán phải yêu cầu
bộ phận chức năng gửi giấy triệu tập những người tham gia phiên tòa
phúc thẩm bao gồm các đương sự và những người khác nếu xét thấy cần
thiết, cho Viện kiểm sát nếu Viện kiểm sát kháng nghị hoặc Viện kiểm
sát đã tham gia phiên tòa sơ thẩm.
b. Phiên toà phúc thẩm và những quyết định tố tụng
Phiên toà phúc thẩm được khai mạc và bắt đầu như phiên toà sơ

Trường hợp các bên không thoả thuận được về việc chịu án phí sơ
thẩm thì HĐXX quyết định theo quy định pháp luật.
Khi các bên thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án thì
HĐXX phúc thẩm phải ra bản án phúc thẩm sửa án sơ thẩm, công nhận
sự thoả thuận của các đương sự.[3]
e. Trình tự trình bày và tranh luận tại phiên toà phúc thẩm
Trình tự trình bày tại phiên toà phúc thẩm được tiến hành như sau:
 Trường hợp chỉ có một bên đương sự kháng cáo thì người bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự đó trình bày, sau
đó, đương sự bổ sung.
 Trường hợp cả hai bên đương sự kháng cáo thì người bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn trình bày trước, sau
đó nguyên đơn bổ sung. Tiếp đến, người bảo vệ quyền và lợi
ích hợp pháp của bị đơn trình bày, sau đó bị đơn trình bày bổ
sung.
 Trường hợp có cả kháng cáo và kháng nghị thì những người
kháng cáo trình bày trước theo trình tự trên đây, sau đó đại diện
Viện kiểm sát trình bày kháng nghị.
Trường hợp chỉ có Viện kiểm sát kháng nghị thì Kiểm sát viên
trình bày về nội dung kháng nghị và các căn cứ của việc kháng
nghị.
Trình tự tranh luận cũng tiến hành tương tự
trên đây.
f. Ra bản án, quyết định phúc thẩm

như trình tự trình bày

Nghị án được thực hiện như tại phiên tòa sơ thẩm.



Tòa án cấp phúc thẩm phải thành lập Hội đồng phúc thẩm gồm ba
Thẩm phán để xem xét, giải quyết kháng cáo, kháng nghị đối với quyết
định của Tòa án cấp sơ thẩm.
Sau khi có quyết định phúc thẩm, Toà án cấp phúc thẩm phải gửi
quyết định cho những người được quy định tại Điều 281 BLTTDS. [3]

2.4 Giai đoạn xét lại bản án , quyết định đã có hiệu lực của pháp
luật theo trình tự giám đốc thẩm hoặc tái thẩm
Giám đốc thẩm, tái thẩm là một giai đoạn tố tụng đặc biệt, trong đó Tòa án
xét lại bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật vì phát hiện có vi
phạm pháp luật trong việc xử lý vụ án (giám đốc thẩm) hoặc có những tình
tiết mới được phát hiện có thể làm thay đổi cơ bản nội dung bản án hoặc
quyết định mà Tòa án không biết được khi ra bản án hoặc quyết định đó
(Tái thẩm).[5]
Theo quy định tại Pháp lệnh
Thủ

tục giải quyết các vụ án hành chính

1996 đã sửa đổi bổ sung năm 1998, 2006 thì Bản án, quyết định của Toà án
đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm khi có
một trong những căn cứ sau đây:
- Có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng;
- Phần quyết định trong bản án, quyết định không phù hợp với những tình
tiết khách quan của vụ án;
- Có sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật.


Cũng theo pháp lệnh này, Bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp
luật bị kháng nghị theo thủ tục tái thẩm khi có một trong những căn cứ sau

Thủ tục thi hành án dân sự:
a. Cấp bản án, quyết định
-Sau khi bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật Tòa án nhân dân có
trách nhiệnm cấp cho đương sự trích lục bản án , quyết định có ghi
“để thi hành” và giải thích cho đương sự về quyền yêu cầu thi hành
án, thời hiệu yêu cầu và nghĩa vụ thi hành
b. Giải thích bản án, quyết định
Khi bản án, quyết định mà Tòa án tuyên không rõ hoặc không thể thi hành
thì Cơ quan thi hành án, các đương sự, người liên quan đến việc
thi hành có quyền yêu cầu Tòa án đã ra bản án, quyết định giải
thích.
Chủ thể có trách nhiệm giải thích Chánh án Tòa án, Thẩm phán
c. Ra quyết định thi hành án
- Thẩm quyền ra quyết định thi hành án
+Thủ trưởng Cơ quan thi hành án
+Phó thủ trưởng Cơ quan thi hành án được phân công
-Các hình thức ra quyết định thi hành án
+Cơ quan thi hành án chủ động ra quyết định thi hành án


+Ra quyết định thi hành án theo yêu cầu của đương sự
d. Thông báo thi hành án
-Thông báo trực tiếp
-Niêm yết
-Thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng
e. Xác minh điều kiện thi hành án
f. Ủy thác thi hành án: Là hoạt động tố tụng của Cơ quan thi hành án
chuyển giao việc thi hành các bản án, quyết định từ Cơ quan thi
hành án này sang Cơ quan thi hành án khác theo trình tự, thủ tục do
luật định nhằm thi hành các bản án, quyết định của Tòa án tuyên



Chương 3
NHỮNG HẠN CHẾ, VƯỚNG MẮC TRONG TRÌNH TỰ THỦ TỤC
GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP DÂN SỰ VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP KHẮC
PHỤC
3.1 Một số hạn chế còn tồn đọng
Khi triển khai thi hành BLTTDS cho thấy một số quy định của BLTTDS
không tránh khỏi những khiếm khuyết nhất định; có những quy định chưa
đáp ứng được các yêu cầu cam kết quốc tế đa phương và song phương; có
những quy định mâu thuẫn với các văn bản quy phạm pháp luật khác; có
những quy định chưa phù hợp (hoặc không còn phù hợp), chưa đầy đủ,
thiếu rõ ràng và còn có những cách hiểu khác nhau; có những quy định chưa
bảo đảm được quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự. Dưới đây là một
số mặt hạn chế:
Một Số Quy Định Về Thời Hiệu Khởi Kiện Vụ Án Dân Sự Và
Những Vướng Mắc Trong Thực Tiễn Áp Dụng
Mặc dù Nghị quyết 01/2005/NQ-HĐTP ngày 31/3/2005 của Hội đồng
thẩm phán TANDTC hướng dẫn thi hành một số quy định trong phần thứ
nhất “Những quy định chung” của BLTTDS 2005 tại tiểu mục 2.2 Mục 2
phần IV thì thời điểm bắt đầu thời hiệu khởi kiện được xác định rất cụ
thể nhưng việc xác định trên thực tế không mấy dễ dàng bởi đối với tranh
chấp trong kinh doanh thương mại, mỗi cách xác định còn mang đặc thù
riêng.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status