Thẩm quyền giải quyết tranh chấp dân sự có yếu tố nước ngoài trong pháp luật việt nam và thụy điển từ góc độ so sánh - Pdf 66


TRƯỜNG ĐẠI HỌCTRƯỜNG ĐẠI HỌC TổNG HỢP LUND
LUẬT HÀ NỘI
KHOA LUẬT
a





ĐỒNG THỊ KIM THOA

THẨM QUYỀN GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP DÂN s ự
CÓ YẾU TÔ NƯỚC NGOÀI TRONG PHÁP LỤẬT VIỆT NAM
VÀ THỤY DIÊN - TỪ GÓC DỘ NGHIÊN cứu so SÁNH
m



Chuyên ngành: Luật Quốc tế và So sánh
Mã số: 60 38 60

LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC


a

0




ĩ t í ề u . U ỉ ê i L (iLLCL n ũ t í ẵ í i

~ P h ilip rĐ(Ẩit t ạ i (D ỉèt Q ĩxun, DCIlocl JZiiál (D a i h ó e túiưp liổfL

M u itil P h ilip ^Đỉấii ixă ^cĩÍ'11()ỈL(J,

ổ iL

lả u

lẵ e

ĩtâ i

ỈXỎL ( J ) h ó - ạ i ả c i L Ư .


38

2.1.2. M ột s ố nguyên tắc khác [rong việc xác định thẩm quyền.........................
2. ỉ .3. M ộ t s ố nhận xét c h u n g ...............................................................................

46


2.2. Quy tắc xác định thẩm quyền giải quyết tranh chấp dàn sự có yếu
tô nước ngoài của toà án trong một số lĩnh vực cụ t h ể ...................................

47

2.2.1. Tranh chấp dân sự, kinh tế - thương mại, lao động (liên quan đến hợp
đống, bồi thường thiệt hại VCI tranh chấp khác liên quan đến tài sả n )...................

47

2.2.2. Tranh chấp (rong lĩnh vực hôn nhân, gia đình có yếu tố nước ngoài

61

2.2.3. M ột sô'nhận xét chung.....................................................................................

68

CHƯƠNG 3: HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỂ THAM

quyển


tranh chấp dân sự có yếutố nưóc ngoài của Toà án ở Việt N a m .....................

83

3.3.1. Giải pháp trước m ắ t........................................................................................

83

3.3.2. Giải pháp lâu dài..............................................................................................

88

KẾT LUẬN...................................................................................................................

92

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO..................................................................

93


N H Ũ N G CHỮ VIẾT TẮT

CH

:

Cộng hoà

CHDCND


:

Cộng đồng kinh tế châu Âu

EFTA

:

Hiệp hội Tự do Thương mại châu Âu

HĐTTTP

:

Hiệp định tương trợ tư pháp

Nxb

:

Nhà xuất bản

TPQT

:

Tư pháp quốc tế



định là tạo lập nền tảng pháp lý làm “bệ đ ỡ " cho quá trình hội nhập kinh t ế quốc tế
và xây dựng nlìà HƯỚC pháp quyền của Việt Nam. Cùng với việc xây dựng và hoàn


-2-

thiện pháp luật điều chỉnh các lĩnh vực quan hệ kinh tế - xã hội khác, việc tiếp tục
xây-cỉựng và hoàn thiện pháp luật điều chỉnh quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài trong đó có chế định thẩm quyền giải quyết tranh chấp - là đòi hỏi cấp thiết và có ý
nghĩa lớn.
Trong lĩnh vực khoa học pháp lý, đã có nhiều công trình và bài viết nghiên
cứu vấn đề “giải quyết tranh chấp dân sự có yếu tố nước ngoài" theo những khía
cạnh và cách tiếp cận khác nhau, tuy nhiên hầu hết và chủ yếu đểu tập trung vào
phương thức và thủ tục giải quyết một hoặc một số lĩnh vực tranh chấp nhất định1.
Có thể thấy rằng, sự quan tâm thực sự và sâu rộng đến vấn đề thẩm quyền giải quyết
tranh chấp còn nhiều hạn chế.
Cho đến nay, chưa có một công trình, bài viết nào nghiên cứu một cách toàn
diện, đầy đã và có hệ thống về thấm quyền giải quyết tranh chấp dân sự có yếu tố
nước ngoài trong pháp luật Việt Nam trong mối liên hệ so sánh với pháp luật nước
ngoài nhằm làm rõ thực trạng và yêu cầu hoàn thiện c h ế định này trong tiến trình
củi cách tư pháp vả hội nhập kinh tế quốc t ế của Việt Nam hiện nay.

1 Điều này được thể hiện trong các cỏng trinh và bài viết nghiên cứu sau: ,ảGicii quyết tranh chấp kinh t ể và
việc tham gia C ông ước N ew york 1 9 5 8 ”, TS. Hà Hùng Cường, Tài liệu Hội thảo về phát triển pháp luật theo
định hướng xà hội chủ nghĩa, 1996; “Pháp luật Việỉ N am và vấn d ề giải quyết tranh chấp có yếu tố nước
ngoài", Lê Song L ai, Phan Tồn Việt Anh, Tạp chí N hà nước và pháp luật, số 9/1996; “Các phương thức giải
quyết tranh chấp chả yếu tại V iệt N am trong lĩnh vực kỉnh t ế và đầu tư nước ngoài", TS. Hoàng T hế Liên;
“Vấn đ ề hoàn thiện hệ thống quy phạm xung đột hướìig dẫn chọn pháp luật diều chỉnh các quan hệ dân sự có
yếu tố nước ngoài ở nước ta hiện n a ý \ TS. Đoàn Năng, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, 11/1998; “Giải quyết
tranh chấp kinh t ế có yếu tố nước ngoài tại Việt N am ” , Kỷ yếu hội thảo khoa học tại thành phố Hổ Chí Minh
tháng 4/1999; “G iải quyết tranh chấp trong lĩnh vực cíầu tư nước ngoài ỏ Việt Nam - thực trạng vả phương

3-

Trong tiến trình tạo lập nền tảng pháp lý về giải quyết các tranh chấp dân

sự (theo nghĩa rộng) có yếu tố nước ngoài nói chung và chế định thẩm quyền giải
quyết tranh chấp dân sự có yếu tố nước ngoài nói riêng, Việt Nam không thể không
chú-trọng các hoạt động hợp tác quốc tế trong lĩnh vực xây dựng pháp luật để có

Việt Nam về thẩm quyền giải quyết các tranh chấp dân sự có yếu tố nước ngoài
trong mối liên hệ so sánh với pháp luật Thuỵ Điển; trên cơ sở đó, đề xuất một số
kiến nghị góp phần hoàn thiện chế định này trong hệ thống pháp luật Việt Nam hiện
hành.
Với mục đích nêu trên, luận văn này tự đặt ra những nhiệm vụ cụ th ể sau đây:
- Trình bày một cách có hệ thống những vấn đề lý luận về thẩm quyền giải
quyết các tranh chấp dân sự có yếu tố nước ngoài.
- Phân tích nội dung các quy tắc' xác định thẩm quyền giải quyết các tranh
chấp dân sự có yếu tố nước ngoài theo pháp luật Việt Nam hiện hành trong mối liên
hệ so sánh với pháp luật Thuỵ Điển.
- Chỉ ra những bất cập, vướng mắc và hạn chế trong các quy định pháp luật
Việt Nam hiện hành về thẩm quyền giải quyết các tranh chấp dân sự có yếu tố nước
ngoài và yêu cầu khách quan cần hoàn thiện đặt ra trong tiến trình cải cách tư pháp
và hội nhập kinh tế quốc tế; đồng thời nêu một số luận cứ khoa học trong các kiến
nghị nhàm hoàn thiện chế định này.
3. Phạm vi nghiên cứu
Tranh chấp dân sự có yếu tố nưóc ngoài là hiện tượng phổ biến trong đời
sống các quốc gia và cả ở phạm vi quốc tế, do phát sinh từ các quan hệ dân sự có
yếu tố nước ngoài ngày càng đa dạng và phức tạp. Do đó, giải quyết tranh chấp dân
sự có yếu tố nước ngoài là vấn đề vô cùng rộng lớn, phức tạp và có thé được nghiên
cứu dưới nhiều góc độ và cách tiếp cận khác nhau.
Với n h ữ n z m uc đích, nhiêm vu chính đươc nêu trên đây. tronọ điều kiên
rất han hep về thời 2Ìan nshiên cứ u . tài liêu tham khảo và trone khuôn k h ổ của
m ôt luân văn cao Ỉ10C. tác eiả tư đinh ra cho m ình vham vi n sh iê n cứu phù hơp
vói m ôt 2ÓC đô tiếp căn như sau:

T h ứ nhất, luận văn chủ yếu nghiên cứu chế định thẩm quyền giải quyết tranh
chấp dân sự (theo nghĩa rộng) có yếu tố nước ngoài dưới góc độ tư pháp quốc tế, đặt
trọng tâm vào khía cạnh xung đột pháp luật về thẩm quyền giải quyết tranh chấp.




vật lịch sử, phươns pháp phân tích, phương pháp so sánh, phương pháp logic...;
trong đó phương pháp so sánh được coi là phương pháp chủ đạo.
5. Điểm mới và ý nghĩa của việc nghiên cứu
Như trên đã trình bày, cho đến nay chưa có công trình, bài viết nào nghiên
cửu toàn diện , đẩy đủ và có hệ thống về thẩm quyền giải quyết các tranh chấp dàn
sự có yếu tố nước ngoài của pháp luật Việt Nam trong mối liên hệ so sánh với pháp
luật nước ngoài. Vì vậy, có thể coi đây là công trình đầu tiên tập trung nghiên cứu
c h ế định này.
Luận văn có một s ố điểm mới như sau:
.

- Hệ thống hoá m ột cách có chọn lọc m ột s ố vấn đ ề lý luận cơ bản về thẩm

quyền giải quyết tranh chấp dân sự có yếu tố nước ngoài.
- Trình bảy vả phân tích nội dung các quy tắc xác định thẩm quyền giải
quyết tranh chấp dân sự có yếu tố nước ngoài và đặt chúng trong tương quan so sánh
giữa quy định pháp luật Việt Nam và quy định pháp luật Thụy Điển (và pháp luật
của Liên minh châu Âu).
- Đ ề xuất m ột sô' giải pháp nhằm hoàn thiện c h ế định thẩm quyền giải quyết
tranh chấp dân sự có yếu tố nước ngoài trong hệ thống quy định pháp luật Việt Nam
hiện hành.
Tác giả cho rằng, đề tài nghiên cún này có một số ý nghĩa như sau:
-

- M ột là, góp phần làm phong phú hơn hệ thống lý luận về thắm quyền giải

quyết tranh chấp dân sự có yếu tố nước ngoài trong khoa học pháp lý Việt Nam.
- Hai là, góp phần hoàn thiện pháp luật Việt Nam về thẩm quyền giải quyết

* Tranh chấp dân sự
Thuật ngữ “tranh chấp”, trong tiếng Anh là “dispute”, thường được dùng để
chỉ “tình trạng tổn tại giữa hai (hay nhiều) cá nhân, được tạo thành bởi một số dấu
hiệu của sự phản đối, đối lập...” [39, pp. 25]. Theo Từ điển Tiếng Việt, tranh chấp
được giải thích là đấu tranh, giằng co khi có ý kiến bất đồng, thường là trong vấn đề
quyền lợi giữa các bên [35].
ở khía cạnh pháp lý, “tranh chấp” là sự bất đồng liên quan đến quyền, lợi ích
hoặc nghĩa vụ giữa các bên khi họ tham gia các quan hệ pháp luật. Tuy nhiên cho
đến nay, chưa có văn bản pháp lý nào đưa ra khái niệm cụ thể về “tranh chấp“. Theo
một định nghĩa của Toà án quốc tế (Permanent Court of International Justice) trong
phán quyết năm 1924 về vụ tranh chấp Mavrommatis, “tranh chấp (dispute) là sự bất
đồng về mặt pháp lý hay thực tế, sự xung đột về quan điểm pháp lý hoặc mâu thuẫn,
lợi ích giữa hai người trở lên” [44, pp. 10].
Tranh chấp dân sự được hiểu là những tranh chấp phát sinh từ các quan hệ
dân sự. Vậy thế nào là quan hệ dân sự? ở Việt Nam, quan hệ dân sự có thể được
hiểu và giải thích khác nhau theo hai nghĩa rộng, hẹp của khái niệm này. Theo nghĩa
hẹp, quan hệ dân sự được hiểu là bao gồm các quan hệ tài sản và nhân thân phi tài
sản phát sinh trong giao dịch dân sự2 (điều 1 Bộ luật Dân sự Việt Nam năm 19953).
Theo nghĩa rộng - quan điểm của đông đảo các luật gia, nhà nghiên cứu Việt Nam,
khái niệm quan hệ dân sự được hiểu tương đối thống nhất là “các quan hệ giữa con
2 Theo Điều 130 Bộ luật Dân sự năm 1995, giao dịch dân sự là hành vi pháp lý dơn phương hoặc hợp đồng
giữa các cá nhân, pháp nhản hoặc các chù thế khác làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt các quyền và nghĩa
vụ dân sự.
3 Bộ luật này được thông qua ngày 28/10/1995 có hiệu lực từ ngày 1/1/1996.


người với nhau trong cuộc sống hàng ngày, các quan hệ về dời sống, sinh hoạt,, tiêu
dùng hoặc sản xuất kinh doanh trên cơ sở bình đẳng, tự nguyện và tự do ý chí” [20,
tr. 14]. Như vậy, quan hệ dân sự không chỉ bao gồm các quan hệ thuộc phạm vi điều
chỉnh của luật dân sự thuần túy, mà cả các quan hệ có tính chất dân sự như kinh tế thương mại, lao động, hôn nhân và gia đ ìn h ...


trọng tài. Như vậy, tranh chấp dân sự và thương mại luôn gắn liền với nhau, chịu sự
điều chỉnh của một văn bản pháp lý chung.
Ở Việt Nam, trong lĩnh vực tố tụng dân sự, khái niệm “tranh chấp” (dispute)
có sự phân biệt với “vấn đề” (m atter) hay “vụ việc” (case) như thường được sử dụng
irong pháp luật Thụy Điển và châu Âu. Vụ việc là khái niệm rộng hơn, bao hàm
tranh chấp (vụ án) và các yêu cầu (việc dân sự) không có tính chất tranh chấp (là
những yêu cầu giải quyết các vấn đề liên quan đến yếu tố nhân thân của một người
hoặc xác định một sự kiện pháp lý nào đó)5. Việc phân định sự khác biệt này rất có
ý nghĩa trong việc xác định phạm vi các quan hệ tranh chấp trong tố tụng dân sự nói
chung và tố tụng dân sự quốc tế nói riêng6.
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận về đối tượng và phạm vi điều chỉnh của Tư
pháp quốc tế (TPQT) Việt Nam và Thụy Điển, khái niệm “tranh chấp dân sự” được
hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm các tranh chấp trong các lĩnh vực dân sự, kinh tế thương mại, lao động, hôn nhân và gia đình.
* Yếu tố nước ngoài trong các tranh chấp dân sự
Chúng ta biết rằng, thuật ngữ “yếu tố inrớc ngoài” ựoreign elements) được
ghép vói thuật ngữ “quan hệ dân sự” (civil relations) thành khái niệm “quan hệ dân
sự có yếu tố nước ngoài (the civil relation containing foreỉgn elements). Và tương tự
như vậy, thuật ngữ “yếu tố nước ngoài” ựoreign elements) được ghép với thuật ngữ
“tranh chấp dân sự” (civil disputes) thành khái niệm “tranh chấp dân sự có yếu tố
nước ngoài” (the civil dỉspute containing/oreỉgn eỉements). Vấn đề quan trọng trong
lý luận và thực tiễn tư pháp quốc tế là xác định yếu tố nước ngoài trong các quan hệ
tranh chấp dân sự, bởi yếu tố nước ngoài chính là điều làm nên đặc trưng của tranh
chấp dân sự có yếu tố nước ngoài so với các tranh chấp dân sự không có yếu tố nước
ngoài, từ đó dẫn đến sự phân biệt những tranh chấp thuộc phạm vi điều chỉnh của tư
pháp quốc tế với những tranh chấp không thuộc phạm vi điều chỉnh của tư pháp
quốc tế.
5 Q uy định tại Đ iều 1 Bộ luật T ố tụng dan sự Việt Nam năm 2004.
6 Luận văn này chỉ nghiên cứu việc xác định thẩm quyền đối với các tranh chấp (vụ án) dân sự có yếu tô' nước
neoài mà không đề cập đến các việc dân sự có yếu tố nước ngoài. ■

quan hệ đó ở nước ngoài”. Theo quy định này, có ba dấu hiệu xác định yếu tố nước
ngoài trong quan hệ dân sự là: i) chủ thể (có người nước ngoài, pháp nhân nước

7 Q uan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài thực sự phát sinh ờ Việt Nam cách đây hàng thế kỷ và sau này được
pháp luật điểu chỉnh (trong lĩnh vực hôn nhan gia đình, có thể kể một số văn bản pháp luật như Bộ luật dân sự
Sài gòn ngày 20/2/1972, Thông tư 11/TATC ngày 12/7/1974 cùa TANDTC hướng d ĩn m ột số vấn đề về
nguyên tắc và thù tục trong việc giải quyết những việc ly hôn có nhản tố nước ngoài, Pháp lệnh Hỏn nhan và
gia đình giữa công dân V iệt Nam và người nước ngoài ngày 2/12/1993....


-

12 -

ngoài); ii) sự kiện pháp lý phát sinh ở nước ngoài và iii) tài sản liên quan đến quan
hệ đó ở nước ngoài. Quan hệ dân sự có một hoặc hai hoặc cả ba yếu tố này thì được
gọi là quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài. Theo lý luận về xung đột pháp luật (tư
pháp quốc tế) và xuất phát từ tư duy coi Bộ luật Dân sự là luật gốc của các lĩnh vực
dân sự, kinh doanh - thương mại, lao động và hôn nhân gia đình, quy định trên đây
phải’ là “khuôn m ẫu” chung để xác định yếu tố nước ngoài trong các quan hệ dân sự
thuộc phạm vi điều chỉnh của tư pháp quốc tế. Tuy nhiên, do không có quy định rõ
ràng và do phạm vi điều chỉnh còn hạn hẹp của Bộ luật Dân sự nên trong thực tế lại
có những quy định riêng biệt trong các văn bản pháp luật khác về xác định yếu tố
nước ngoài trong các quan hệ kinh tế - thương mại, lao động, hôn nhân gia đình
mặc dù nhũng quy định này đều dựa trên cơ sở Điều 826 Bộ luật Dân sự 1995*.
Trong lĩnh vực tố tụng dân sự, theo quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự năm
2004y (khoản 2 Điều 405), “vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài là vụ việc clân sự có
ít nhất một trong các bên là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài
hoặc các quan hệ clân sự giữa các dương sự là công dân, cơ quan, tổ chức Việt Nam
nhưng căn cứ đ ể xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài,

tài sản và ii) các vụ việc liên quan đến luật gia đình và thừa

kế [40, pp.496-499].

Còn ở Việt Nam, theo truyền thống, tranh chấp dân sự có yếu tô' nước ngoài được
phân chia cụ thể thành tranh chấp dân sự (theo nghĩa hẹp), tranh chấp kinh tế thương mại, tranh chấp lao động và tranh chấp hôn nhân và gia đình. Theo quy định
của Bộ luật Tố tụng dân sự Việt Nam năm 2004, có tói 40 loại tranh chấp cụ thể
trong các quan hệ dân sự, kinh tế - thương mại, lao động, hôn nhân gia đ ìn h 11. Bộ
luật Tố tụng Tư pháp năm 1942 của Thụy Đ iển12 không phân loại các tranh chấp
như theo cách hiện sử dụng ở Việt Nam, song cũng liệt kê hơn 15 loại tranh chấp
trong chương 10 của Bộ luật này. Sự phân loại như vậy cũng mới chỉ là phân loại
theo, các lĩnh vực tương đối rộng. Trong mỗi lĩnh vực đó lại bao gồm rất nhiều tranh
chấp cụ thể với những đặc điểm, tính chất và nội dung riêng tạo nên một tổng thể rất
nhiểu tranh chấp khác nhau.
Như vậy, ở Việt Nam và Thụy Điển, mặc dù phạm vi các tranh chấp thuộc
dối tượng điều chỉnh của TPQT thì giống nhau nhưng cách thức phân loại lại có
những khác biệt. Ví dụ điển hình nhất trong sự khác biệt này là ở Thụy Điển và
trong pháp luật các nước EU, tất cả các tranh chấp liên quan đến hợp đồng13 được
xếp thành một nhóm, trong khi đó ở Việt Nam lại được tách biệt thành từng loại cụ
thể và xếp tương ứng trong từng nhóm tranh chấp về hợp đồng dân sự, hợp đồng
" Theo các Đ iều 25, 27, 29, 31 Bộ luật Tô' tụng D ân sự năm 2004.
12 B ậ luật này áp dụng đối với thù tục tố tụng dân sự và tố tụng hình sự .
13 Chỉ tính riêng trong lĩnh vực thương mại quốc tế, theo một số công trinh nghiên cứu (như cuốn Trọng tài và
các phương pháp giải quyết tranh chấp lựa chọn, Trung tâm Thương mại quốc tế (ƯNCTAD CNUCED),
G eneva 2001 - Sách do T rung tam T rọng tài Q uốc tế tại Việt Nam dịch và xuất bản, tr.29 và tiếp theo), cũng
có rất nhiều loại tranh chấp liên quan tới hợp đồng m ua bán hàng hoá, hợp đồng phàn phối, đại lí và trung
gian, hợp đổng xây dưng, kỹ thuật và cơ sở hụ tầng, hợp dồng sờ hữu trí tuệ, hợp dồng liên doanh, hợp đồng
hàng hải, tín dụng chứng lừ, hợp đồng lao động,...



Trong lĩnh vực luật quốc tế, theo Michael Akehurst, có ba bộ phạn trong
thẩm quyền của một nhà nước: Quyền của nhà nước thực hiện các hoạt động trong
lãnh thổ của một nhà nước khác (executive jurisdiction)\ quyền của các toà án trong
nhà nước dó xét xử các vụ án có yếu tố nước ngoài (ịudicỉal jurisdiction); quyền của
nhà nước áp dụng pháp luật nước mình trong khi giải quyết các vụ án có yếu tố nước
ngoài (legislative jurisdiction)\ và vấn đổ khi nào thì các nhà nước theo nghĩa vụ
pháp lý phải công nhận sự thực thi thẩm quyền của các nhà nước khác [38, pp. 25].
ở Việt Nam, dưới góc độ chung, Từ điển tiếng Việt định nghĩa thẩm quyền
của toà án là “quyền xem xét để kết luận và định đoạt một vấn đề theo pháp luật”
[35], còn theo Từ điển Luật học thì “thẩm quyền” được hiểu là “tổng hợp các quyền
và nghĩa vụ hành động, quvết định của các cơ quan, tổ chức thuộc hệ thống bộ máy
Nhà nước do pháp luật quy định” [34, tr. 459]. Một sô' tác giả định nghĩa: Thẩm
quyền của toà án là tổng hợp các quyền mà pháp luật quy định cho toà án được xét
xử những vụ án cụ th ể và quyết định đối với các vấn đ ề về nội dung vụ Ún hoặc đảm
bảo cho việc xét xử trong giới hạn hoặc phạm vi nhất định [19, tr. 26]. Trong iĩnh

14 Theo quy định tại Bộ luật Tố tụng Dàn sự năm 2004 (các điều 25, 29, 31).


-

15 -

vực TPQT, thẩm quyền xét xử dân sự quốc tế là thẩm quyền của toà án tư pháp một
nước nhất định đối với các vụ án dân sự có yếu tố nước ngoài [21, tr. 337].
Trong lĩnh vực TPQT, các thủ tục giải quyết tranh chấp bao gồm: thương
lượng, trung gian hoà giải, trọng tài và toà án. Thươns lượng và hoà giải được biết
đến như là những phương thức tự giải quyết (self-resolntion)ì5, còn trọng tài và toà
án được coi là phương thức tài phán Ụustice) 16 trong đó toà án hay trọng tài là chủ
thể giải quyết được trao những thẩm quyền nhất định, hay nói cách khác, đây là

16 -

Lý luận chung về thẩm quyền giải quyết tranh chấp trong TPQT ở các nước
đã chỉ ra rằng, có ba vấn đề cơ bản phải cân nhắc để xác định khi nào thì một toà án
có thẩm quyển: Một là, đối với vụ việc tranh chấp cụ thể có căn cứ để xác định thẩm
quyền không; hai là, mặc dù có căn cứ thẩm quyền, trường hợp nào toà án sẽ từ chối
thực hiện thẩm quyền đó; và ba là, có vấn đề hạn chế thẩm quyền trong vụ việc
không [46, pp. 3].
Bên cạnh đó, cần chú ý rằng, trên cơ sở ba lĩnh vực chính của TPQT là chọn
toà án có thẩm quyền giải quyết, chọn luật áp dụng và côn? nhận, thi hành phán
quyết của toà án nước ngoài, phạm vi khái niệm thẩm quyền trong TPQT là thẩm
quyền giải quyết tất cả các vấn đề, bao gồm: i) xác định thẩm quyền xét xử (về loại
việc), ii) thẩm quyền trong việc áp dụng luật để giải quyết tranh chấp, và iii) thẩm
quyền trong việc công nhận, thi hành phán quyết của toà án nước ngoài. Tất nhiên,
sự phân định này chỉ có ý nghĩa tương đối, vì các thẩm quyền đó có mối liên hệ chặt
chẽ với nhau: nếu một toà án có thẩm quyền giải quyết tranh chấp thì đương nhiên
có thẩm quyền trong việc áp dụng pháp luật17.
1.1.3.

X ư n g đột th ẩ m quyền trong T P Q T và quy tắc xác đ ịn h thẩm quyền

của toà án
1.1.3.1. Xung đột thẩm quyền (jitrisdỉctional confỉicts)
Vấn đề “xung đột thẩm quyền xét xử”, trong TPQT các nước, được hiểu rất
khác nhau và mang nhiều tính ước lệ. Tại nhiều nước châu Âu, xung đột thẩm quyền
xét xử bao hàm các vấn đề về xác định thẩm quyền xét xử và cả việc công nhận, thi
hành phán quyết của toà án nước ngoài. Cách hiểu này đồng nghĩa với khái niệm tố
tụng dân sự quốc tế hiện hành tại Việt Nam [21, tr. 337 - 338]. Theo một phạm vi
hẹp hơn, xung đột thẩm quyền xét xử là hiện tượng toà án các nước khác nhau đều
cùng có khả năng xét xử và có thẩm quyền đối với một tranh chấp dân sự có yếu tố

Để tránh trường hợp xung đột thẩm quyền trong việc giải quyết các tranh
chấp dân sự có yếu tố nước ngoài, nhiệm vụ của TPQT là định ra những quy tắc
nhằm xác đinh thẩm quyền xét xử của Toà án một quốc gia nhất định (trong các
điều ước quốc tế) hoặc toà án cụ thể của quốc gia (trong pháp luật quốc gia), được
gọi là quy tắc xác định toà án có thẩm quyền xét xử (the rules o f the choice o f
/orum ) hay quy tắc thẩm quyền Ụurỉsdictional ruỉes).
Như đã đề cập trên đây, việc lựa chọn toà án có thẩm quyển cùng với lựa
chọn luật áp dụng và vấn đề công nhận, thi hành phán quyết của toà án hoậc trọng
tài nước ngoài trở thành ba vấn đề cơ bản của TPQT18. Trong lý luận và thực tiễn
TPQT Việt Nam, Thụy Điển cũng như các quốc gia khác, việc lựa chọn toà án xét
xử và chọn luật áp dụng có mối liên hệ mật thiết với nhau, cái này thường dẫn tới cái
kia19; còn trong vấn đề thứ ba, người ta tìm kiếm một cơ chế mà phán quyết không
do toà án một nước hay trọng tài tuyên bố có hiệu lực và được thi hành trên lãnh thổ

IX T P Q T Việt N am c ũ n g có ba vấn đ ề cơ bản (thẩm quyền, luật áp dụng và công n hận thi h ành phán quyết
nước ngoài) như T PQ T các nước châu Âu. Tuy nhiên, ngoài các vấn đề này TPQT Việt Nam còn có một nội
dung cơ bản nữa là xác định địa vị pháp lý của người nước ngoài, pháp nhân nước ngoài và nhà nước nước
ngoài trong cấc quan hệ thuộc phạm vi điều chỉnh của TPQT.
19 Trong TPQT, m ối quan hệ giữa các quy tắc thẩm quyền và quy tắc chọn luật áp dụng có ý nghĩa vô cùng
quan trọng, bới vì nếu thẩm quyền không được thực hiện, vấn đề chọn luật sẽ không được điit ra.


-

18-

một nước khác. Vì vậy, các quy tắc thẩm quyền có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong
TPQT và có mối liên hệ mật thiết với quy tắc xung đột luật. Các quy tắc xung đột
luật được thiết kế để gạt bỏ những xung đột giữa luật pháp của các nước khác nhau
bằng việc chỉ ra toà án nào có thẩm quyền và pháp luật nưóc nào cần được áp dụng


Điều này hoàn toàn có những điểm đổng nhất với pháp luật Việt Nam cũng
như lý luận chung của TPQT. Đối với một vụ kiện dân sự có yếu tố nước ngoài, toà
án phải giải quyết hai vấn đề: i) vụ việc đó có thuộc thẩm quyền của toà án quốc gia
mình không hay thuộc thẩm quyền của toà án quốc gia khác; và ii) nếu vụ việc
\

thuộc thẩm quyền của toà án quốc gia mình thì tòa án đó có thẩm quyền không hay
một toà án khác trong cùng hệ thống toà án. Các vấn đề này định ra hai cấp độ xác
định thẩm quyền của toà án: cấp độ quốc tế (xác định quốc gia mà toà án nước đó có
thẩm quyền bàng việc áp dụag các quy phạm xung đột trong pháp luật quốc gia và
các điều ước quốc tế) và cấp độ quốc gia (xác định một toà án cụ thể theo pháp luật
của quốc gia đã được lựa chọn để trực tiếp giải quyết vụ việc).
1.1.4. Căn cứ xác định thẩm quyền của toà án trong tô'tụng dân sự quốc tế
Việt Nam, Thụy Điển cũng như các quốc gia trên thế giới, trong pháp luật
quốc gia của mình, đều định ra những quy tắc nhất định để xác định thẩm quyền
giải quyết các tranh chấp dân sự có yếu tố nước ngoài. Các quy tắc này có thể giống
nhau nhưng cũng có thể khác nhau; và trong trườne hợp có sự khác biệt thì một yêu
cầu tất yếu thuộc nhiệm vụ của TPQT là phải có những quy tắc cụ thể nhằm giải
quyết xung đột về thẩm quyền và xác định toà án của một quốc gia phù hợp nhất để
giải quyết vụ việc. Do tranh chấp dân sự có yếu tố nước ngoài thường liên quan đến
ít nhất hai nước nên trong thực tế, các quốc gia cần phải ký kết với nhau những điều
ước quốc tế (song phương hoặc đa phương) nhằm quy định những nguyên tắc thống
nhất và cụ thể trong việc phân định thẩm quyền xét xử tư pháp của mỗi bên.
Căn cứ xác định thẩm quyền giải quyết tranh chấp trong TPQT, nói chung,
thường là một trong những yếu tố chính sau đầy: i) yếu tố quốc tịch của đương sự, ii)
yếu tố mối liên hệ của vụ việc với lãnh thổ quốc gia có toà án, iii) theo sự thoả thuận
của các bên đương sự; và iv) áp dụng tương tự các quy tắc thẩm quyền đối với các
tranh chấp dân sư không có yếu tố nước ngoài được quy định trong pháp luật quốc
gia có toà án [21, tr. 340].


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status