1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài, ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Giải quyết khiếu nại, tố cáo là một vấn đề quan trọng và bức thiết trong bối
cảnh nước ta hiện nay khi tình trạng khiếu nại, tố cáo ở nước ta ngày càng gia tăng
và liên quan đến nhiều lĩnh vực khác nhau, làm ảnh hưởng đến quyền lợi, nghĩa vụ
căn bản của nhân dân, trách nhiệm của những cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Việc giải quyết khiếu nại, tố cáo tốt hay kém nó thể hiện được chất lượng quản lý
của các cơ quan quản lý nhà nước cũng như mối quan hệ giữa nhân dân với Đảng
và Nhà nước ta.
Hơn nữa vấn đề giải quyết khiếu nại, tố cáo cũng đang đặt ra cho các nhà
quản lý những bài toán khó giải, xử lý được vấn đề này sẽ góp phần đẩy mạnh công
cuộc cải cách hành chính, nâng cao chất lượng quản lý của các cơ quan quản lý
hành chính nhà nước, xây dựng được một bộ máy nhà nước gọn nhẹ nhưng hiệu
quả, nâng cao lòng tin của nhân dân đối với Đảng và Chính quyền dân chủ nhân
dân. Muốn vậy, việc giải quyết khiếu nại, cáo phải có hiêu quả ngay từ cơ sở cụ thể
là tại Ủy ban nhân dân cấp xã.
Nhận thực được tầm quan trong của vấn đề, trong thời gian thực tập của
mình tại xã Điềm Thụy huyện Phú Bình tỉnh Thái Nguyên tôi đã lựa chọn đề tài
“Quy định của pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo tại Ủy ban nhân dân
cấp xã và thực tiễn tại UBND xã Điềm Thụy” làm chuyên để tốt nghiệp của
mình.
2.Mục đích nghiên cứu
Với tư cách là một công dân của đất nước, tôi muốn tìm hiểu những vấn đề
cơ bản về khiếu nại, tố cáo và giải quyết khiếu nại cũng như công tác giải quyết
khiếu nại tại Ủy ban nhân dân cấp xã, nhằm nâng cao hiểu biết cho bản thân, phổ
biến kiến thức pháp luật khiếu nạicho đông đảo quần chúng nhân dân. Qua đó, cũng
mong muốn nêu ra những bất cập còn tồn tại trong công tác giải quyết khiếu nại, tố
cáo tại Ủy ban nhân dân cấp xã, và đưa ra những kiến nghị, phương hướng nhằm
góp phần khắc phục những thiếu sót để nâng cao chất lượng giải quyết khiếu nại tại
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ KHIẾU NẠI, TỐ CÁO VÀ THẨM
QUYỀN GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI TỐ CÁO CỦA
ỦY BAN NHÂN DÂN XÃ
1.1 Những vấn đề chung về khiếu nại, tố cáo
1.1.1 Khái niệm chung về khiếu nại, tố cáo
1.1.1.1 Khái niệm khiếu nại
Khiếu nại là một trong những quyền tự nhiên của con người trước những vấn
đề bị vi phạm để tự bảo vệ mình. Hay nói một cách khác, bản chất của quyền khiếu
nạilà quyền tự vệ hợp pháp trước những hành vi vi phạm để tự bảo vệ mình hoặc
bảo vệ quyền và lợi ích của xã hội. Đó là quyền hiến định, quyền phản hồi, quyền
dân chủ và hơn thế nữa, đó là quyền để bảo vệ quyền. Chính vì vậy, khiếu nại là
hiện tượng khách quan trong đời sống xã hội. Từ khi có giai cấp, các giai cấp thống
trị xã hội với những biện pháp, cách thức khác nhau để giải quyết hiện tượng này.
Ở nước ta, từ trước đến nay, đều ghi nhận khiếu nại là một trong những
quyền cơ bản của công dân, trong đó Hiến pháp 1992 ghi nhận tại Điều 74: “Công
dân có quyền khiếu nại, tố cáo với cơ quan nhà nước có thẩm quyền về những việc
làm trái pháp luật của cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ
trang nhân dân hoặc bất cứ cá nhân nào. Việc khiếu nại, tố cáo phải được cơ quan
nhà nước xem xét và giải quyết trong thời hạn pháp luật quy định... Quy định này
đã được Hiến pháp 2013 sửa đổi, bổ sung tại Điều 30, cụ thể là: “Mọi người có
quyền khiếu nại, tố cáo với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền về những việc
làm trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm
quyền phải tiếp nhận, giải quyết khiếu nại, tố cáo. Người bị thiệt hại có quyền được
bồi thường về vật chất, tinh thần và phục hồi danh dự theo quy định của pháp luật.
Nghiêm cấm việc trả thù người khiếu nại, tố cáo hoặc lợi dụng quyền khiếu nại, tố
cáo để vu khống, vu cáo làm hại người khác”.
Như vậy, có thể hiểu đối tượng của tố cáo là các hành vi vi phạm pháp luật,
gây thiệt hại hoặc đe doạ gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp
pháp của tập thể, công dân. Những việc làm trái pháp luật không phải chỉ có cán bộ,
công chức nhà nước mà của cả các cơ, quan tổ chức. Những hành vi trái pháp luật
5
thường được công dân phát hiện và báo cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền để
ngăn chặn, phòng ngừa hành vi vi phạm pháp luật và xử lý người vi phạm.
1.1.2 Đặc điểm của khiếu nại, tố cáo
1.1.2.1 Đặc điểm của khiếu nại
Thứ nhất, mục đích của khiếu nại là bảo vệ và khôi phục lại quyền và lợi ích
của người bị khiếu nại đã bị quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan
hành chính nhà nước hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước
xâm hại.
Thứ hai, về chủ thể khiếu nại, Khoản 1 Điều 1 và Điều 101 Luật khiếu nại thì
chủ thể có quyền khiếu nại bao gồm: công dân, cơ quan, tổ chức, cán bộ công chức;
cá nhân, tổ chức nước ngoài có quyền và lợi ích hợp pháp liên quan trực tiếp đến
quyết định hành chính, hành vi hành chính bị khiếu nại.
Thứ ba, đối tượng của khiếu nại tại Ủy ban nhân dân xã là các quyết định
hành chính, hành vi hành chính của chủ tịch UBND xã và công chức dưới quyền
Thứ tư, khiếu nại được thực hiện theo thủ tục hành chính được quy định
trong Luật khiếu nại và các văn bản hướng dẫn thi hành.
1.1.2.2 Đặc điểm của tố cáo
Nói đến tố cáo là nói đến những đặc điểm đặc trưng sau:
Thứ nhất, mục đích của tố cáo là nhằm hướng tới việc xử lý hành vi vi phạm
và người có hành vi vi phạm.
Thứ hai, chủ thể của tố cáo chính là các công dân.
Thứ ba, đối tượng của tố cáo là các hành vi vi phạm pháp luật của bất cứ cơ
quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại lợi ích của Nhà
của nhân dân”.
Những qui định nói trên nói lên sự quan tâm của Hồ Chủ tịch và Chính phủ
đối với việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân.
Ngoài ra, Nhà nước ta còn ban hành nhiều văn bản nhằm tạo ra cơ chế đảm
bảo quyền khiếu nại, tố cáo của công dân và tạo điều kiện thuận lợi để giải quyết tốt
các khiếu nại, tố cáo của công dân. Trong Thông tư số 203 NV/VP ngày 25/5/1946
của Bộ trưởng Bộ Nội vụ về khiếu tố nói rõ: “Chính phủ và các cơ quan của Chính
phủ thiết lập trên nền tảng dân chủ, có bổn phận đảm bảo công lý và vì thế rất để ý
đến nguyện vọng của dân chúng và sẵn lòng xem xét những nỗi oan khuất trong dân
gian”. Thông tư này hướng dẫn cho công dân thủ tục gửi đơn, giới thiệu thẩm quyền
của các cơ quan, thời hạn để giải quyết khiếu tố.
Thông tư số 436/TTg ngày 13/9/1958 của Thủ tướng Chính phủ qui định
trách nhiệm, quyền hạn và tổ chức của cơ quan chính quyền trong việc giải quyết
các loại đơn thư khiếu nại, tố cáo (gọi tắt là khiếu tố) của nhân dân.
7
Thông tư xác định: “Nghiên cứu và giải quyết các việc khiếu nại và tố giác
của nhân dân là một trách nhiệm quan trọng của tất cả các cơ quan nhà nước trước
nhân dân.”
Thông tư nêu những nguyên tắc về quyền hạn và nghĩa vụ của nhân dân
trong việc khiếu tố; những nguyên tắc về trách nhiệm và tổ chức của các cơ quan
hành chính và cơ quan chuyên môn các cấp, các ngành trong việc nghiên cứu và
giải quyết các loại đơn thư khiếu nại, tố cáo của nhân dân.
Ngày 1/1/1960, Chủ tịch Hồ chí Minh đã ký Sắc lệnh công bố Hiến pháp
mới của Việt Nam dân chủ cộng hoà. Hiến pháp đã dành riêng một điều qui định về
quyền khiếu nại, tố cáo của công dân và trách nhiệm của cơ quan nhà nước phải
xem xét giải quyết kịp thời, nhanh chóng các khiếu nại, tố cáo, bảo vệ quyền lợi cho
người dân [Đinh Văn Minh – Phó Viện trưởng Viện Khoa học Thanh Tra, ngày
09/11/2011(Báo Điện Tử Viện Khoa học Thanh Tra): Quá trình hình thành và phát
việc thi hành chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước, bảo vệ lợi ích của Nhà
nước, của tập thể, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, đồng thời qui định trách
nhiệm của mỗi cấp mỗi ngành phải nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật, nâng cao
tinh thần phục vụ nhân dân, giải quyết đúng đắn, kịp thời đơn thư khiếu nại, tố cáo
của công dân[Đinh Văn Minh – Phó Viện trưởng Viện Khoa học Thanh Tra, ngày
09/11/2011(Báo Điện Tử Viện Khoa học Thanh Tra): Quá trình hình thành và phát
triển pháp luật về khiếu nại, tố cáo ở Việt Nam].
Sau khi nước nhà được thống nhất, chúng ta đã ban hành Hiến pháp mới,
Hiến pháp năm 1980. Một lần nữa, quyền khiếu nại, tố cáo của công dân được ghi
nhận trong Hiến pháp 1980 và so với Điều 29 của Hiến pháp năm 1959 thì qui định
về quyền khiếu nại, tố cáo của công dân tại Điều 73 Hiến pháp năm 1980 cụ thể
hơn, chi tiết hơn.
Điều 73: “Công dân có quyền khiếu nại, tố cáo với bất cứ cơ quan nào của
Nhà nước về những việc làm trái pháp luật của cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội,
đơn vị vũ trang hoặc của bất cứ cá nhân nào thuộc các cơ quan, tổ chức và đơn vị
đó.
Các điều khiếu nại, tố cáo phải được xem xét và giải quyết nhanh chóng.
Mọi hành động xâm phạm quyền và lợi ích chính đáng của công dân phải
được kịp thời sửa chữa và xử lý nghiêm minh. Người bị thiệt hại có quyền được bồi
thường.
Nghiêm cấm việc trả thù người khiếu nại, tố cáo”.
Sau khi Hiến pháp năm 1980 được ban hành, ngày 27/11/1981, Hội đồng
Nhà nước đã ban hành Pháp lệnh qui định việc xét, giải quyết khiếu nại, tố cáo
của công dân. Có thể nói, đây là văn bản pháp lý đầu tiên qui định một cách tập
trung, đầy đủ và chi tiết về việc tiếp nhận và giải quyết khiếu nại, tố cáo của công
dân. Pháp lệnh năm 1981 gồm những qui định chung về quyền khiếu nại, tố cáo và
9
thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo (Chương I); việc tiếp nhận các khiếu nại, tố
Thanh Tra, ngày 09/11/2011(Báo Điện Tử Viện Khoa học Thanh Tra): Quá trình
hình thành và phát triển pháp luật về khiếu nại, tố cáo ở Việt Nam].
Như vậy có thể thấy rằng, theo qui định của Pháp lệnh năm 1981 thì tổ chức
Thanh tra chỉ làm tham mưu giúp thủ trưởng các cấp, các ngành trong công tác giải
quyết khiếu nại hành chính chứ không có quyền tự mình ban hành quyết định giải
quyết các khiếu nại. Ngoài ra, các cơ quan Thanh tra có trách nhiệm kiểm tra, đôn
đốc các ngành, các địa phương thực hiện đầy đủ trách nhiệm của mình trong công
tác giải quyết khiếu nai, tố cáo.
11
Nhìn chung, Pháp lệnh qui định việc xét, giải quyết khiếu nại, tố cáo của
công dân năm 1981 thể hiện tư tưởng dân chủ và đề cao trách nhiệm của các cơ
quan nhà nước trong việc tiếp nhận và giải quyết các khiếu nại của công dân với
một trình tự, thủ tục còn tương đối đơn giản và theo xu hướng tạo mọi điều kiện cho
công dân thực hiện được quyền khiếu nại, tố cáo của mình. Chẳng hạn, qui định
công dân có thể khiếu nại, tố cáo với bất cứ cơ quan nào của Nhà nước; qui định về
việc chuyển đơn nhận được không đúng thẩm quyền... Những qui định này phù hợp
với trình độ hiểu biết pháp luật của nhân dân và sự phát triển pháp luật của Nhà
nước ta thời kỳ đó.
Tiếp đó là những văn bản được ban hành nhằm thực hiện tốt những qui định
của Pháp lệnh năm 1981 và Nghị định 58. Đó là Thông tư 02/TTr ngày 4/5/1982
của Uỷ ban Thanh tra của Chính phủ; Nghị quyết số 26-HĐBT ngày 12/5/1984 của
Hội đồng Bộ trưởng về việc tăng cường tổ chức và nâng cao hiệu lực của hoạt động
thanh tra; Chỉ thị số 17-CT của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng ngày 3/7/1989 về
kiểm điểm việc thực hiện Pháp lệnh năm 1981.
Qua thực tiễn hơn 10 năm thi hành Pháp lệnh qui định về việc xét, giải quyết
khiếu nại, tố cáo của công dân, Nhà nước ta quyết định ban hành Pháp lệnh khiếu
nại, tố cáo của công dân năm 1991 thay thế cho Pháp lệnh năm 1981. Xin được
điểm qua những nét mới của Pháp lệnh 1991 về cơ chế giải quyết khiếu nại hành
cách nề nếp, qui củ (quá trình tiếp nhận, phân loại xử lý đơn thư, thụ lý vụ việc, thời
hiệu khiếu nại, thời hạn giải quyết ở từng cấp...).
Thứ tư, Pháp lệnh qui định cụ thể về thẩm quyền giải quyết đối với vụ
việc khiếu nại và tố cáo, nhất là đối với khiếu nại, theo đó một vụ việc khiếu nại sẽ
được giải quyết qua ba lần: cơ quan có thẩm quyền đầu tiên là cơ quan có quyết
định hoặc hành vi hành chính bị khiếu nại; cơ quan có thẩm quyền giải quyết tiếp
theo là tổ chức thanh tra nhà nước cấp trên trực tiếp và cơ quan có thẩm quyền giải
quyết cuối cùng là thủ trưởng của cơ quan hành chính nhà nước cùng cấp với tổ
chức thanh tra đó. Với qui định này thì tổ chức Thanh tra Nhà nước có thẩm quyền
trực tiếp giải quyết chứ không chỉ đơn thuần làm chức năng tham mưu cho thủ
trưởng cùng cấp trong quá trình giải quyết như trước kia. Ngoài ra, Pháp lệnh còn
qui định tổ chức Thanh tra tỉnh và Thanh tra Nhà nước có quyền kháng nghị đối với
quyết định giải quyết của tổ chức thanh tra cấp dưới. Đây là một vấn đề hết sức mới
mẻ và có thể coi là đã bắt đầu thể hiện một mong muốn thiết lập một cơ chế giải
quyết khiếu nại từ bên ngoài các cơ quan hành chính nhà nước dưới hình thức tố
tụng nhưng còn hết sức sơ khai.
Có thể nói, những qui định của Pháp lệnh năm 1991 có nhiều điểm thể hiện
sự đổi mới về mặt nhận thức quyền khiếu nại, quyền tố cáo của công dân cũng như
công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo nhưng cũng phải thừa nhận rằng, sự đổi mới đó
còn rất ít cơ sở thực tế để phát huy hiệu lực và hiệu quả. Những qui định về trình tự,
thủ tục cũng tỏ ra không thực tế và quá trình thực hiện có nhiều vi phạm kể cả
13
người khiếu nại, tố cáo cũng như cơ quan tổ chức có thẩm quyền và trách nhiệm
giải quyết.
Chính vì những vấn đề nêu trên cho nên hiệu lực và hiệu quả của công tác
giải quyết khiếu nại, tố cáo kể từ sau khi Pháp lệnh 1991 ban hành không có những
sự biến đổi tích cực và gần như đồng thời với việc ban hành Pháp lệnh năm 1991,
Nhà nước ta đã có chủ trương nghiên cứu và thiết lập cơ chế giải quyết khiếu kiện
14
sửa đổi cơ bản Luật khiếu nại, tố cáo, xây dựng cơ chế hữu hiệu để giải quyết các
khiếu kiện hành chính phù hợp với tình hình thực tế của nước ta và thông lệ quốc
tế”
Thực hiện tinh thần của Nghị quyết nêu Chính phủ đã chỉ đạo các cơ quan
của Chính phủ khẩn trương nghiên cứu xây dựng Dự án Luật Khiếu nại và Luật Tố
cáo, trình Quốc hội thông qua, góp phần nâng cao hiệu quả giải quyết khiếu nại và
tố cáo. Vì thế năm 2011 Luật Khiếu nại và Luật Tố cáo ra đời [Đinh Văn Minh –
Phó Viện trưởng Viện Khoa học Thanh Tra, ngày 09/11/2011(Báo Điện Tử Viện
Khoa học Thanh Tra): Quá trình hình thành và phát triển pháp luật về khiếu nại, tố
cáo ở Việt Nam].
Từ đây khiếu nại, tố cáo và các vấn đề liên quan đã được tách hẳn nhau tạo
thuận lợi cho các cơ quan chức năng thực thi nhiệm vụ của mình.
1.1.4 Vai trò của giải quyết khiếu nại, tố cáo
Đầu tiên, thông qua hoạt động giải quyết khiếu nại, tố cáo tại ủy ban nhân
dân xã cơ quan nhà nước cấp trên có thể kiểm tra, giám sát, đánh giá hoạt động của
ủy ban nhân dân cấp xã. Để từ đó đưa ra các giải pháp khắc phục những hạn chế,
yếu kém và xử lí hành vi vi phạm pháp luật để xây dựng một nền hành chính vững
mạnh, trong sạch, chuyên nghiệp, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả.
Thứ hai, hoạt động giải quyết khiếu nại là một hoạt động bảo đảm pháp chế
trong quản lí nhà nước, bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan,
tổ chức, bảo vệ lợi ích của nhà Nước, xã hội, bảo vệ trật tự kỷ cương, trật tự pháp
luật, xử lí những hành vi vi phạm pháp luật. Vì vậy, hoạt động giải quyết khiếu nại
của các cơ quan hành chính nhà nước trước hết phải tuân theo nguyên tắc pháp chế
xã hội chủ nghĩa.
Thứ ba, thực hiện tốt công tác giải quyết khiếu nại vừa bảo đảm quyền khiếu
nại của công dân, phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa và sức mạnh, trí tuệ của nhân
dân trong việc tham gia quản lí nhà nước, vừa bảo đảm kỷ cương, kỷ luật, tăng
cường pháp chế xã hội chủ nghĩa trong quản lý hành chính nhà nước.
Thứ tư, giải quyết khiếu nại còn có vai trò bảo đảm phát huy quyền làm chủ
quan mình.
- Trường hợp luật khác có quy định khác về khiếu nại và giải quyết khiếu nại
thì áp dụng theo quy định của luật đó.
Như vậy để giải quyết các vấn đề liên quan tới khiếu nại phải căn cứ vào
Luật Khiếu nại 2011 và các văn bản hướng dẫn thi hành.
1.2.1.2 Quy định của pháp luật về thẩm quyền giải quyết khiếu nại
Khoản 4, Điều 36, Luật Tổ chức chính quyền địa phương nêu rõ Chủ tịch
UBND có trách nhiệm giải quyết khiếu nại, tố cáo, xử lý vi phạm pháp luật, tiếp
công dân theo quy định của pháp luật;
16
Điều 17 Luật Khiếu nại năm 2011 quy định rõ Thẩm quyền của Chủ tịch Ủy
ban nhân dân xã, phường, thị trấn trong việc giải quyết khiếu nại tại ủy ban nhân
dân xã như sau: “Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung
là cấp xã); Thủ trưởng cơ quan thuộc Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành
phố trực thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện) có thẩm quyền giải quyết
khiếu nại lần đầu đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của mình, của
người có trách nhiệm do mình quản lý trực tiếp”.
Khi giải quyết khiếu nại liên quan đến nhiều ngưởi thì trách nhiệm của cơ
quan, tổ chức, cá nhân tại Ủy ban nhân dân xã trong việc phối hợp xử lý được quy
định tại điều 8 Nghị đinh 75/2012/NĐ-CP của Chính phủ ngày 03/10/2012 quy định
chi tiết một số điều của Luật khiếu nại 2011 như sau:
- Khi phát sinh việc nhiều người cùng khiếu nại về một nội dung ở xã,
phường, thị trấn, Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn (gọi chung là Chủ
tịch Ủy ban nhân dân cấp xã) có trách nhiệm:
+ Phân công cán bộ tiếp đại diện của những người khiếu nại để nghe trình
bày nội dung khiếu nại. Trường hợp khiếu nại phức tạp, Chủ tịch Ủy ban nhân dân
cấp xã chủ trì, phối hợp với Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội có
liên quan tiếp, nghe đại diện của những người khiếu nại trình bày nội dung khiếu
Tuy nhiên, những khiếu nại thuộc điều 11 của Luật Khiếu nại 2011 thì không được
thụ lý giải quyết, đó là:
- Quyết định hành chính, hành vi hành chính trong nội bộ cơ quan nhà nước
để chỉ đạo, tổ chức thực hiện nhiệm vụ, công vụ; quyết định hành chính, hành vi
hành chính trong chỉ đạo điều hành của cơ quan hành chính cấp trên với cơ quan
hành chính cấp dưới; quyết định hành chính có chứa đựng các quy phạm pháp luật
do cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền ban hành theo trình tự, thủ tục của pháp
luật về ban hành văn bản quy phạm pháp luật; quyết định hành chính, hành vi hành
chính thuộc phạm vi bí mật nhà nước trong các lĩnh vực quốc phòng, an ninh, ngoại
giao theo danh mục do Chính phủ quy định;
- Quyết định hành chính, hành vi hành chính bị khiếu nại không liên quan
trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khiếu nại;
- Người khiếu nại không có năng lực hành vi dân sự đầy đủ mà không có
người đại diện hợp pháp;
- Người đại diện không hợp pháp thực hiện khiếu nại;
- Đơn khiếu nại không có chữ ký hoặc điểm chỉ của người khiếu nại;
- Thời hiệu, thời hạn khiếu nại đã hết mà không có lý do chính đáng;
- Khiếu nại đã có quyết định giải quyết khiếu nại lần hai;
- Có văn bản thông báo đình chỉ việc giải quyết khiếu nại mà sau 30 ngày
người khiếu nại không tiếp tục khiếu nại;
18
- Việc khiếu nại đã được Tòa án thụ lý hoặc đã được giải quyết bằng bản án,
quyết định của Toà án, trừ quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính của Tòa
án.
Thời hạn giải quyết khiếu nại không quá 30 ngày, kể từ ngày thụ lý; đối với
vụ việc phức tạp thì thời hạn giải quyết có thể kéo dài hơn nhưng không quá 45
ngày, kể từ ngày thụ lý.
Ở vùng sâu, vùng xa đi lại khó khăn thì thời hạn giải quyết khiếu nại không
liên quan giải trình bằng văn bản về nội dung liên quan khiếu nại;
- Triệu tập người khiếu nại, người bị khiếu nại, cơ quan, tổ chức, cá nhân có
liên quan;
- Trưng cầu giám định;
- Tiến hành các biện pháp kiểm tra, xác minh khác theo quy định của pháp
luật;
- Báo cáo kết quả xác minh và chịu trách nhiệm trước pháp luật về kết quả
xác minh.
- Báo cáo kết quả xác minh gồm các nội dung sau đây:
- Đối tượng xác minh;
- Thời gian tiến hành xác minh;
- Người tiến hành xác minh;
- Nội dung xác minh;
- Kết quả xác minh;
- Kết luận và kiến nghị nội dung giải quyết khiếu nại.
Trong quá trình giải quyết khiếu nại lần đầu, nếu yêu cầu của người khiếu
nại và kết quả xác minh nội dung khiếu nại còn khác nhau thì người giải quyết
khiếu nại tổ chức đối thoại với người khiếu nại, người bị khiếu nại, người có quyền
và nghĩa vụ liên quan, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan để làm rõ nội dung
khiếu nại, yêu cầu của người khiếu nại và hướng giải quyết khiếu nại; việc đối thoại
phải tiến hành công khai, dân chủ.
Người giải quyết khiếu nại có trách nhiệm thông báo bằng văn bản với
người khiếu nại, người bị khiếu nại, người có quyền và nghĩa vụ liên quan, cơ quan,
tổ chức có liên quan biết thời gian, địa điểm, nội dung việc đối thoại.
Khi đối thoại, người giải quyết khiếu nại phải nêu rõ nội dung cần đối thoại,
kết quả xác minh nội dung khiếu nại; người tham gia đối thoại có quyền trình bày ý
kiến, đưa ra chứng cứ liên quan đến khiếu nại và yêu cầu của mình.
Việc đối thoại phải được lập thành biên bản; biên bản phải ghi rõ ý kiến của
những người tham gia, kết quả đối thoại, có chữ ký hoặc điểm chỉ của người tham
trực tiếp của người giải quyết khiếu nại hoặc người có thẩm quyền, người có quyền,
nghĩa vụ liên quan, cơ quan, tổ chức, cá nhân đã chuyển khiếu nại đến và cơ quan
thanh tra nhà nước cùng cấp.
Bước 4: Lập, quản lý hồ sơ giải quyết khiếu nại
21
Việc giải quyết khiếu nại phải được lập thành hồ sơ. Hồ sơ giải quyết khiếu
nại bao gồm:
- Đơn khiếu nại hoặc bản ghi lời khiếu nại;
- Tài liệu, chứng cứ do các bên cung cấp;
- Biên bản kiểm tra, xác minh, kết luận, kết quả giám định (nếu có);
- Biên bản tổ chức đối thoại (nếu có);
- Quyết định giải quyết khiếu nại;
- Các tài liệu khác có liên quan.
Hồ sơ giải quyết khiếu nại phải được đánh số trang theo thứ tự tài liệu và
được lưu giữ theo quy định của pháp luật. Trường hợp người khiếu nại khởi kiện vụ
án hành chính tại Tòa án thì hồ sơ đó phải được chuyển cho Tòa án có thẩm quyền
giải quyết khi có yêu cầu.
1.2.2 Pháp luật về giải quyết tố cáo
1.2.2.1 Quy định của pháp luật về điều kiện, cơ sở giải quyết tố cáo
Đối với việc giải quyết tố cáo phải đáp ứng được các điều kiện, cơ sở quy
định tại điều 3 Luật Tố cáo 2011, cụ thể như sau:
- Việc tố cáo của cá nhân nước ngoài đang cư trú tại Việt Nam và giải quyết
tố cáo hành vi vi phạm pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài tại Việt
Nam được áp dụng theo quy định của Luật này, trừ trường hợp điều ước quốc tế mà
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác.
- Việc tố giác và tin báo về tội phạm được thực hiện theo quy định của pháp
luật về tố tụng hình sự.
- Trường hợp luật khác có quy định khác về tố cáo và giải quyết tố cáo thì áp
pháp luật thuộc phạm vi quản lý được giao, trừ trường hợp pháp luật có quy định
khác. Đối với những tố cáo về hành vi phạm tội thì không thuộc thẩm quyền giải
quyết của các cơ quan hành chính nhà nước nói chung và của Chủ tịch Ủy ban nhân
dân cấp xã nói riêng; trong trường hợp nhận được những tố cáo này thì Chủ tịch Ủy
ban nhân dân cấp xã phải chuyển cho cơ quan điều tra hoặc Viện kiểm sát có thẩm
quyền giải quyết theo thời hạn quy định.
Trong quá trình xem xét, giải quyết tố cáo thuộc thẩm quyền của mình, nếu
phát hiện hành vi vi phạm về nhiệm vụ, công vụ có dấu hiệu phạm tội thì Chủ tịch
ỦY ban nhân dân cấp xã cũng phải chuyển vụ việc, các thông tin, tài liệu có được
cho cơ quan chức năng giải quyết theo trình tự, thủ tục luật định.
1.2.2.3 Quy định của pháp luật về thủ tục giải quyết tố cáo
Trình tự, thủ tục giải quyết tố cáo được quy định rõ từ điều 18 đến điều 30
Luật Tố cáo 2011, cụ thể như sau:
Về trình tự giải quyết tố cáo thực hiện theo trình tự sau:
- Tiếp nhận, xử lý thông tin tố cáo;
23
- Xác minh nội dung tố cáo;
- Kết luận nội dung tố cáo;
- Xử lý tố cáo của người giải quyết tố cáo;
- Công khai kết luận nội dung tố cáo, quyết định xử lý hành vi vi phạm bị tố
cáo.
Hồ sơ vụ việc tố cáo bao gồm:
- Đơn tố cáo hoặc bản ghi nội dung tố cáo;
- Quyết định thụ lý giải quyết tố cáo;
- Biên bản xác minh, kết quả giám định, thông tin, tài liệu, chứng cứ thu thập
được trong quá trình giải quyết;
- Văn bản giải trình của người bị tố cáo;
- Báo cáo kết quả xác minh nội dung tố cáo trong trường hợp người giải
Xuất phát từ vai trò quan trọng của công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo cho
nên trong chỉ thị số 36/2004/CT-TTG ngày 27/10/2004 về việc chấn chỉnh và tăng
cường trách nhiệm của thủ trưởng các cơ quan hành chính nhà nước trong công tác
giải quyết khiếu nại tố cáo thủ tường chính phủ đã nhấn mạnh “Đặc biệt coi trong
công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo coi công tác này là nhiệm vụ chính trị vừa cấp
bách vừa lâu dài, phải gắn công tác này với công tác quản lí hành chính nhà nước.
Coi kết quả giải quyết khiếu nại, tố cáo là một tiêu chuẩn quan trọng để đánh giá
năng lực, hiệu quả công tác của thủ trưởng cơ quan, đơn vị và những cán bộ công
chức có trách nhiệm”
Hiện nay chúng ta đang cải cách nền hành chính nhà nước trên các mặt thể
chế tổ chức, bộ máy nâng cao chất lượng của đội ngũ cán bộ công chức và cải cách
hành chính công với mục tiêu xây dựng một nền hành chính dân chủ, trong sạch
vững mạnh, chuyên nghiệp, hiện đại hoạt động có hiệu quả.
Trong quản lí hành chính nhà nước, quyền khiếu nại, tố cáo đã được tập hợp
và lần đầu tiên được thống nhất quy định một cách cụ thể trong một đạo luật: luật
khiếu nại, tố cáo. Theo luật này công dân có quyền khiếu nại quyết định hành chính,
hành vi hành chính của cơ quan hành chình nhà nước và của cán bộ nhà nước có
thẩm quyền khi có căn cứ cho rằng quyết định hành chính hoặc hành vi hành chính
đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình. Như vậy trên thực
tế, luật pháp không chỉ tạo cơ sở pháp lí để công dân thực hiện quyền khiếu nại, tố
cáo mà còn quy định cơ quan nhà nước và cán bộ nhà nước có thẩm quyền phải tự
kiểm tra xem xét lại các quyết định hành chình và hành vi hành chính. Nếu thấy trái
pháp luật phải kịp thời sửa chữa, khắc phục để tránh phát sinh khiếu nại.
Quy định như vậy có vai trò hết sức quan trong trong hoạt động quản lí của
cơ quan hành chính nhà nước nhằm giải quyết ngay từ đầu các mâu thuẫn, tranh
chấp trong quan hệ hành chính, chính qua quá trình tự kiểm tra đánh giá mà các cơ
25
quan hành chính nhà nước hoặc cán bộ nhà nước phát hiện ra những hành vi trái
lĩnh đường lối chính sách của đảng, được thể chế hóa trong hiến pháp và pháp luật
của nhà nước và được bảo đảm bằng những thiết chế chính trị tương ứng.