DANH MỤC VIẾT TẮT
AHP (Analytic Hierarchy Process): Quá trình phân tích thứ bậc;
DE (Deep): Tầng dày;
FAO (Food and Agriculture Organization of the United Nations): Tổ chức
Lương thực và Nông nghiệp Liên hiệp quốc;
GIS (Geographic Information System): Hệ thống thông tin địa lý;
IR (Irrigational): Khả năng tưới;
LC (Land Characteristic): Tính chất đất đai;
LMU (Land Mapping Unit): Đơn vị bản đồ đất đai;
LQ (Land Quality): Chất lượng đất đai;
LUR (Land Use Requirement): Yêu cầu sử dụng đất;
LUT (Land Use Type): Loại hình sử dụng đất;
N: Không thích nghi;
S1: Thích nghi cao;
S2: Thích nghi trung bình;
S3: Thích nghi kém;
SO (Soil): Loại đất;
Sl (Slop): Độ dốc.
DANH MỤC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 1. Phương pháp kết hợp giữa LQ và LR theo đề nghi của FAO............... 14
Sơ đồ 2. Sơ đồ vị trí huyện Di Linh ..................................................................... 19
DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1. Mô hình đánh giá đất đai theo FAO .................................................. 14
Hình 1.2. Mô hình đánh giá đất đai theo AHP ................................................... 17
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1. Bảng phân cấp yếu tố khả năng thích nghi .......................................... 6
Bảng 1.2. Bảng độ ưu tiên chuẩn ........................................................................ 16
Bảng 2. Phân loại đất huyện Di Linh.................................................................. 21
Bảng 3.1. Phân cấp tiêu chí loại đất ................................................................... 34
1.1.2. Các phương pháp đánh giá đất đai trên thế giới và ở Việt Nam ............... 11
1.1.3. Phương pháp đánh giá đất theo FAO ........................................................ 14
1.1.4. Phương pháp đánh giá đa tiêu chí AHP .................................................... 15
1.2. Cơ sở pháp lý ................................................................................................ 18
Tiểu kết chương 1 ................................................................................................ 18
CHƯƠNG 2......................................................................................................... 19
THỰC TRẠNG SỬ DỤNG ĐẤT VÀ ĐÁNH GIÁ ĐẤT ĐAI .......................... 19
2.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội.............................................................. 19
2.1.1. Điều kiện tự nhiên ..................................................................................... 19
2.1.1.1. Vị trí địa lý ............................................................................................. 19
2.1.1.2. Địa mạo................................................................................................... 20
2.1.1.3. Khí hậu ................................................................................................... 20
2.1.1.4. Tài nguyên thiên nhiên ........................................................................... 20
2.1.2. Điều kiện kinh tế xã hội............................................................................. 22
2.1.3. Đánh giá chung .......................................................................................... 23
2.1.3.1. Về điều kiện tự nhiên, tài nguyên và cảnh quan môi trường ............... 23
2.1.3.2. Về thực trạng phát triển kinh tế - xã hội ............................................... 25
2.2. Tình hình quản lý và hiện trạng sử dụng đất đai .......................................... 26
2.2.1. Tổ chức thực hiện và hướng dẫn thi hành các văn bản quy phạm pháp luật
về quản lý sử dụng đất đai ................................................................................... 26
2.2.2. Xác định địa giới hành chính, lập và quản lý hồ sơ địa giới hành chính, lập
bản đồ hành chính. .............................................................................................. 26
2.2.3. Điều tra, khảo sát, đo đạc, đánh giá, phân hạng đất, lập bản đồ địa chính:... 26
2.2.4. Quản lý quy hoạch và kế hoạch hoá việc sử dụng đất đai ........................ 27
2.2.5. Giao đất, cho thuê đất và thu hồi đất......................................................... 27
2.2.6. Đăng ký quyền sử dụng đất, lập và quản lý hồ sơ địa chính, cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất....................................................................................... 27
2.2.7. Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành các quy định của pháp luật về đất đai. 28
đất hợp lý đảm bảo cho việc sử dụng đất đai một cách tiết kiệm, hợp lý, có hiệu
quả và bền vững.
Qua đó ta có thể thấy được sự cần thiết của việc tiến hành điều tra đánh giá
đất đai. Công tác đánh giá đất đai là cơ sở tiền đề cho việc sử dụng và quản lý đất
đai một cách tiết kiệm, hợp lý, có hiệu quả nhất. Đồng thời, công tác đánh giá đất
đai là nền tảng phục vụ cho việc Quy hoạch sử dụng đất đai, nó cung cấp đầy đủ
các thông tin về tính chất đất đai và các kết quả hoạt động của con người đến từng
đơn vị đất đai, từ đó các nhà quy hoạch có thể vận dụng để chọn lọc và đề nghị
cho các nhà đánh giá và đề xuất khác nhau làm cơ sở cho các quyết định và cấp
độ quản lý sử dụng đất.
Đánh giá đấ t đai cung cấp đầy đủ các thông tin về tính chất đất đai, những
hoạt động của con người trên từng đơn vị đất đai, giúp cho mọi người có những
hiểu biết về khoa học đất và những khó khăn hạn chế trong việc sử dụng đất, đồng
thời nắm được những phương thức sử dụng đất một cách thích hợp nhất.
Trong thực tế ngày nay, hầu hết trên các địa phương đều đang sử dụng
phương pháp kết hợp điều kiện hạn chế tức là dựa vào quy luật tối thiểu của
Leibig, coi nhân tố tối thiểu để nói lên khả năng sản xuất và chất lượng của cây
trồng. Như vậy, việc định hạng của các đơn vị đất đai có yếu tố giới hạn nào cao
nhất hay mức độ thích hợp thấp nhất sẽ được chọn. Phương pháp này tuy đơn giản
nhưng khá máy móc, rập khuôn và không giải thích được hết những tác động qua
lại giữa các yếu tố sinh thái. Để xác định được mối quan hệ tác động lẫn nhau
giữa các yếu tố thì cần phải áp dụng một phương pháp đánh giá khách quan hơn.
Phân tích thứ bậc AHP (Saaty,1980) là một phương pháp khá hiệu quả, nó
có nhiều ưu điểm so với các phương pháp đánh giá truyền thống khác. Phân tích
thứ bậc AHP được thực hiện dựa trên ba nguyên tắc: phân tích, so sánh và tổng
hợp. Trong đó, dựa trên nguyên tắc so sánh cặp, phân tích thứ bậc AHP có thể xác
định được mức độ quan trọng tương đối giữa các tiêu chí chính và phụ, hay nói
cách khác phản ánh được mối quan hệ tác động lẫn nhau giữa các yếu tố sinh thái.
Đồng thời kỹ thuật phân tích thứ bậc cung cấp cho người ra quyết định các mức
độ quan trọng của các tiêu chí khác nhau làm ảnh hưởng đến mức độ thích nghi
Phương pháp điều tra, thu thập số liệu: thu thập các tài liệu, dữ lệu sẵn có,
bao gồm các dữ liệu không gian (các bản đồ : bản đồ đất, bản đồ hiện trạng sử
dụng đất và các bản đồ chuyên đề của địa bàn nghiên cứu) và tài liệu mô tả tính
chất tự nhiên của đất đai về loại đất, thành phần cơ giới, độ dày tầng đất, khả năng
tưới, độ dốc, loại hình sử dụng đất,…
Phương pháp kế thừa và tổng hợp : kế thừa và tổng hợp các lý thuyết đánh
giá đất đai của FAO (1976, 1993, 2007), lý thuyết GIS, mô hình phân tích thứ bậc
AHP, tích hợp AHP và GIS trong đánh giá thích nghi đất đai bền vững.
Phương pháp chuyên gia : Tham khảo ý kiến chuyên gia về các lĩnh vực
đất đai và các vấn đề liên quan tới việc sử dụng đất như : hiệu quả sản xuất, ma
trận so sánh cặp của các tiêu chí,… làm cơ sở để xây dựng mô hình đánh giá đất
đai.
Phương pháp phân tích thứ bậc AHP : cho phép thu thập các ý kiến của các
chuyên gia có liên quan đến vấn đề nghiên cứu, cung cấp cho người ra quyết định
2
các mức độ quan trọng của các tiêu chí khác nhau làm ảnh hưởng đến mức độ
thích nghi của đất đai thông qua quá trình so sánh cặp, từ đó lựa chọn được tiêu
chí tối ưu nhất. AHP kết hợp cả hai mặt tư duy của con người, cả về định tính và
định lượng, được thực hiện dựa trên ba nguyên tắc : phân tích vấn đề nghiên cứu,
đánh giá so sánh các tiêu chí, tổng hợp các tiêu chí tối ưu. Vì vậy, kết quả nghiên
cứu có được tương đối khách quan và chuẩn xác hơn các phương pháp đánh giá
đất truyền thống.
Ứng dụng các phần mềm hỗ trợ : GIS, Excel,…trong phân tích xử lý số liệu
và biên tập in ấn bản đồ.
5. Ý nghĩa thực tiễn và khoa học của luận văn
Ý nghĩa thực tiễn: Cung cấp cơ sở khoa học cho công tác quy hoạch sử
dụng đất. Đánh giá các đặc điểm, thuộc tính tự nhiên, kinh tế - xã hội của các đơn
vị đất đai và loại hình sử dụng đất để đảm bảo sử dụng đất tiết kiệm, có hiệu quả
Chất lượng đất đai (Land Quality-LQ): Là những thuộc tính phức hợp phản
ánh mối quan hệ và tương tác của nhiều đặc tính đất đai (LC) chế độ nhiệt độ,
nguy cơ lũ lụt,…
Loại hình sử dụng đất (Land Use Type-LUT): Một loại hình sử dụng đất có
thể là một loại cây trồng hoặc một số loại cây trồng trong một điều kiện kỹ thuật
và kinh tế-xã hội.
Yêu cầu sử dụng đất (Land Use Requirement-LUR): Là một tập hợp chất
lượng đất dùng để xác định điều kiện sản xuất và quản trị đất của các LUT. Như
vậy, LUR thực chất là yêu cầu về đất đai của các LUT.
1.1.1.2. Khái niệm đánh giá đất đai
Đánh giá đất đai là sự nhận định những tính năng của đất đai như một tài
nguyên thiên nhiên kinh tế và sản xuất nhằm mục đích xác định khả năng sản xuất
của đất đai với chất lượng và giá trị khác nhau luận chứng sử dụng đất đai trong
sản xuất nông nghiệp và trong các lĩnh vực khác.
Mục đích đánh giá đất đai:
Đánh giá đất đai nhằm mục đích cung cấp những thông tin về sự thuận lợi,
khó khăn cho việc sử dụng đất đai để làm căn cứ, tiền đề cho công tác lập quy
hoạch, kế hoạch sử dụng đất và đưa ra các quyết định về việc sử dụng đất đai tiết
kiệm, hợp lý, có hiệu quả và phát triển bền vững.
Đánh giá đất đai cho phép phát hiện các tiềm năng đất đai. Trong quá trình
đánh giá đất đai sẽ phát hiện ra các loại đất mới đủ phẩm chất để đưa vào sử dụng.
Đồng thời, lựa chọn những loại hình sử dụng đất (hệ thống sử dụng đất) sao cho
đảm bảo việc sử dụng đất hợp lí, bền vững. Ngoài ra, đánh giá đất đai cung cấp
các thông tin làm cơ sở cho áp dụng các biện pháp tăng cường độ phì nhiêu của
4
đất đai và phát hiện những nguyên nhân (làm cho năng suất cây trồng giảm) gây
hạn chế với đất đai, từ đó ta có thể đưa ra những giải pháp khắc phục.
Yêu cầu của đánh giá đất đai:
về khả năng thích nghi của loại hình sử dụng đất trên đơn vị đất đai.
- Phương pháp đánh giá đất đai:
Đánh giá đất đai theo FAO có 2 phương pháp:
Phương pháp đánh giá đất hai giai đoạn:
Bước 1: Chủ yếu là khảo sát đánh giá đất về mặt điều kiện tự nhiên.
5
Bước 2: Điều tra khảo sát, đánh giá và phân tích về mặt kinh tế xã hội.
Phương pháp đánh giá đất đai song song:
Nghiên cứu điều tra khảo sát điều kiện tự nhiên và phân tích các yếu tố về
KT – XH cùng thực hiện cho các tỉ lệ chi tiết và bán chi tiết.
- Phân cấp yếu tố thích nghi:
Theo FAO (1976) phân cấp yếu tố theo các cấp như sau:
S1: Thích nghi cao
S2: Thích nghi trung bình
S3: Thích nghi kém
N: Không thích nghi
Mỗi phân cấp yếu tố được đánh giá theo hai cách: Theo cách giảm năng
suất hay theo cách phải đầu tư thêm vào để tránh giảm năng suất.
Bảng 1.1. Bảng phân cấp yếu tố khả năng thích nghi
Hạng phân cấp
yếu tố
Về đầu tư:Đầu tư hay áp
Về năng suất: % năng suất
dụng kỉ thuật để cải thiện một
so với năng suất tối hảo mà
chất lượng đất đai có liên
S3 thích nghi kém
N không thích nghi
(*) % năng suất ghi nhận trên có thể thay đổi tùy theo điều kiện kinh tế, do
đó khi năng suất giảm xuống còn 40% thì nông dân vẫn chấp nhận được cho tự
túc nhưng không thể chấp nhận cho kinh doanh cạnh tranh.
- Cấu trúc phân loại khả năng thích nghi đất đai:
Hệ thống phân loại khả năng thích nghi đất đai gồm 4 cấp:
1. Bộ (Orders): phản ánh các loại thích nghi, được chia làm 2 bộ: bộ thích
nghi (S) và bộ không thích nghi (N).
6
2. Lớp (Classes): phản ánh mức độ thích nghi của bộ.
Bộ thích nghi đất đai được phân làm 3 lớp: S1 (Thích nghi cao), S2
(Thích nghi trung bình), S3 (Thích nghi kém).
S1 (Thích nghi cao – High suitacble): Đất đai không có các hạn chế có
nghĩa đối với việc thực hiện lâu dài một loại hình sử dụng đất được đề xuất, hoặc
chỉ có những hạn chế nhỏ không làm giảm năng suất hoặc tăng đầu tư quá mức
có thể chấp nhận được.
S2 (Thích nghi trung bình – Moderately): Đất đai có những hạn chế mà
cộng chung lại ở mức trung bình đối với việc thực hiện một loại hình sử dụng đất
được để ra. Các giới hạn sẽ làm giảm năng suất hoặc lợi nhuận và làm gia tang
yêu cầu đầu tư. Ở mức này khả năng sản xuất vẫn là tốt mặc dù chất lượng của nó
thấp hơn hạng S1.
S3 (Thích nghi kém – Marginally Suitable): Đất đai có những giới hạn mà
cộng chung lại là nghiêm trọng đối với một loại hình sử dụng đất được để xuất ra,
tuy nhiên vẫn không phải hoàn toàn bỏ loại hình sử dụng đã định. Phí tổn thất cao
đất; bản đồ địa hình, bản đồ độ dốc, bản đồ địa mạo,..; bản đồ thủy văn (chế độ
ngập lụt, khả năng tưới tiêu,..); bản đồ các đặc trưng khí hậu,….
Nhóm thông tin về sử dụng đất: thu thập các thông tin về sử dụng đất: bản
đồ hiện trạng sử dụng đất, báo cáo thuyết minh về tình hình sử dụng đất, năng
suất, sản lượng hiệu quả kinh tế của cây trồng,…
+ Bước 2: Xem xét tư liệu thu thập được và tổ chức điều tra bổ sung.
+ Bước 3: Lựa chọn các chỉ tiêu xây dựng bản đồ đơn vị đất đai: Nguyên
tắc lựa chọn:Yêu cầu sử dụng đất của các loại hình sử dụng đất; Mục tiêu dự án;
Nguồn tài liệu và khả năng bổ sung; Tỷ lệ bản đồ cần xây dựng; Sao cho bản đồ
đơn vị đất đai không quá phức tạp.
+ Bước 4: Xây dựng các bản đồ đơn tính cùng tỉ lệ với bản đồ đất đai cần
xây dựng.
+ Bước 5: Chồng xếp các bản đồ đơn tính, xây dựng bản đồ đơn vị đất đai:
Nguyên tắc chồng xếp các lớp: lấy bản đồ đất làm bản đồ nền. Chồng xếp
các lớp thông tin của các tính chất theo thứ tự mức độ tác động đến tính thích nghi
của loại hình sử dụng đất. Các lớp thông tin sau cần được nắn theo các lớp thông
tin trước trong các trường hợp gần trùng nhau.
+ Bước 6: Mô tả các đơn vị đất đai.
1.1.1.4. Quá trình phân tích thứ bậc (Analytic Hierarchy Process – AHP)
- Khái niệm về AHP:
AHP được ứng dụng phổ biến trong nhiều lĩnh vực kinh tế, xã hội và khoa
học tự nhiên. AHP đặc biệt phù hợp với các vấn đề phức tạp liên quan đến việc
so sánh hàng loạt các yếu tố mà chúng khó định lượng.
Hệ hỗ trợ đa tiêu chuẩn liên quan đến việc lựa chọn một trong số các
phương án tốt hơn dựa vào cấu trúc và tỷ trọng của các yếu tố trong hệ hỗ trợ
quyết định. Bản thân mỗi yếu tố đều có một tầm quan trọng nhất định trong việc
ra quyết định. AHP là quá trình thể hiện được cả mục tiêu và các yếu tố phụ tác
động để lựa chọn một phương án tốt nhất. Kể từ khi nó được giới thiệu vào giữa
thập niên 70 của thế kỷ 20 bởi Thomas. L. Saaty, AHP được ứng dụng rộng rãi
trong nhiều lĩnh vực, đặc biệt là kết hợp với GIS.
nhau của đời sống xã hội.
Hệ thống thông tin địa lý (GIS) là một công cụ máy tính để lập bản đồ và
phân tích các sự vật, hiện tượng thực trên trái đất. Công nghệ GIS kết hợp các
thao tác cơ sở dữ liệu thông thường (như cấu trúc hỏi đáp) và các phép phân tích
thống kê, phân tích địa lý, trong đó phép phân tích địa lý và hình ảnh được cung
cấp duy nhất từ các bản đồ. Những khả năng này phân biệt GIS với các hệ thống
thông tin khác và khiến cho GIS có phạm vi ứng dụng rộng trong nhiều lĩnh vực
khác nhau (phân tích các sự kiện, dự đoán tác động và hoạch định chiến lược).
Hệ thống thông tin địa lý là hệ thống thông tin mà nó sử dụng dữ liệu đầu
vào, các thao tác phân tích, cơ sở dữ liệu đầu vào liên quan về mặt địa lý không
gian, nhằm trợ giúp việc thu nhận, lưu trữ, quản lý, xử lý, phân tích và hiển thị…
các thông tin không gian từ thế giới thực để giải quyết vấn đề tổng hợp thông tin
cho các mục đích của con người đặt ra.
9
- Thành phần dữ liệu GIS
GIS có 5 thành phần chính bao gồm:
Con
người
Chính sách và
quản lý
Dữ liệu
Phần
mềm
trong những chức năng của GIS là thu nhận và tiền xử lý dữ liệu (số hóa, biên tập,
tạo topology, chuyển đổi định dạng, nhập thuộc tính…); quản lý và phục hồi cơ
sở dữ liệu (lưu trữ dữ liệu, mô hình hóa cơ sở dữ liệu, truy vấn theo thuộc tính…);
đo đạc và phân tích không gian (các tác vụ đo, buffering, overlay…); trình bày và
xuất dữ liệu (thay đổi dữ liệu, tổng quát hóa, chuyên đề hóa…).
1.1.2. Các phương pháp đánh giá đất đai trên thế giới và ở Việt Nam
- Trên thế giới:
Tuỳ theo mục đích và điều kiện cụ thể mà mỗi quốc gia sẽ đề ra nội dung
và phương pháp đánh giá đất đai của mình. Có rất nhiều phương pháp đánh giá
đất đai khác nhau, nhưng xét về mặt tổng quát có 2 hướng chính: Đánh giá đất
theo điều kiện tự nhiên có xem xét tới điều kiện kinh tế xã hội và đánh giá kinh tế
đất đai có xem xét tới điều kiện tự nhiên.
Hiện nay có 3 phương pháp đánh giá đất chính:
Đánh giá đất dựa vào sự mô tả và xét đoán trực tiếp – định tính.
Đánh giá đất theo cách cho điểm các chỉ tiêu từ (0 đến 100 điểm).
Đánh giá đất trên cơ sở tính thích hợp của các loại sử dụng đất đối với
điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội – định lượng.
Đánh giá đất của Tổ Chức Nông Lương Liên Hợp Quốc (FAO)
Thấy rõ vai trò, tầm quan trọng của đánh giá đất đai làm cơ sở cho công tác
quy hoạch sử dụng đất, tổ chức FAO với sự tham gia của các chuyên gia đầu
ngành đã tổng hợp kinh nghiệm của nhiều nước xây dựng bản “Đề cương đánh
giá đất” năm 1976 (A Framework for Land Evaluation, FAO-ROME, 1976). Tài
liệu được cả thế giới quan tâm thử nghiệm, vận dụng và chấp nhận là phương tiện
tốt nhất để đánh giá tiềm năng đất đai. Đây chính là tài liệu mang tính cơ sở ban
đầu cho các hướng dẫn tiếp theo đã được hướng dẫn ở hầu hết các nước như:
- Guidelines: Land Evaluation for Rainfed Agriculture, FAO, Rome 1983.
- Guidelines: Land Evaluation for Forestry, FAO, Rome 1984.
- Guidelines: Land Evaluation for Irrigated Agriculture, FAO, Rome 1985
Từ đầu những năm 1970, Bùi Quang Toản cùng nhiều nhà khoa học của
Viện Nông Hoá Thổ Nhưỡng (Vũ Cao Thái, Nguyễn Văn Thân, Đinh Văn
Tỉnh…) đã tiến hành công tác đánh giá phân hạng đất đai ở 23 huyện, 286 hợp tác
xã và 9 vùng chuyên canh. Phân loại khả năng thích hợp đất đai (Land Suitability
Classification) của FAO đã được áp dụng đầu tiên trong nghiên cứu “Đánh giá và
quy hoạch sử dụng đất hoang Việt Nam” (Bùi Quang Toản và nnk, 1985).
Đánh giá phân hạng đất khái quát toàn quốc (Tôn Thất Chiểu và nnk, 1986)
được thực hiện ở tỷ lệ 1/500.000 dựa trên Phân loại khả năng đất đai (Land
capability classification) của Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ, chỉ tiêu sử dụng là đặc
điểm thổ nhưỡng và địa hình.
Từ năm 1978, công tác đánh giá đất đai đã được biên chế thành một tổ thuộc
Hội đồng Chuyên ngành Công nghệ về đất của Hội đồng Khoa học đất Quốc tế
(Trần Kông Tấu, Đỗ Ánh, Đỗ Đình Thuận, 1991).
Năm 1993 Viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp đã chỉ đạo thực hiện
công tác đánh giá đất đai trên 09 vùng sinh thái của cả nước với bản đồ tỷ lệ
1:250.000. Kết quả bước đầu đã xác định được tiềm năng đất đai của các vùng,
khẳng định việc vận dụng nội dung và phương pháp của FAO là phù hợp trong
điều kiện hoàn cảnh hiện nay.
Một số tỉnh đã có bản đồ đánh giá đất đai theo phương pháp của FAO, tỷ
lệ 1/50.000 và 1/100.000 như: Hà Tây (Phạm Dương Ưng và ctg, 1994), Bình
Định (Trần An Phong, Nguyễn Chiến Thắng, 1994); Gia Lai-Kontum (Nguyễn
Ngọc Tuyển, 1994); tỉnh Bình Phước (Phạm Quang Khánh và ctg, 1999); Bà RịaVũng Tàu (Phạm Quang Khánh, Phan Xuân Sơn, 2000); Bạc Liêu (Nguyễn Văn
Nhân và ctg, 2000); Cà Mau (Phạm Quang Khánh và ctg, 2001).
12
Viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp đã quy định việc đánh giá đất là
bước bắt buộc trong công tác đánh giá đất của Viện. Bộ Nông nghiệp và Phát triển
Nông thôn đã ban hành tiêu chuẩn ngành 10TCN 343-98 về quy trình đánh giá
13
1.1.3. Phương pháp đánh giá đất theo FAO
Phương pháp xác định khả năng thích nghi đất đai theo FAO:
Phương pháp phân loại khả năng thích nghi đất đai:
Theo FAO:
Sơ đồ 1. Phương pháp kết hợp giữa LQ và LR theo đề nghi của FAO
Phương pháp kết hợp giữa LQ và LR theo đề nghi của FAO, chung quy có
các cách đối chiếu sau:
(1) Kết hợp theo điều kiện hạn chế.
(2) Phương pháp toán học.
(3) Phương pháp kết hợp theo chủ quan.
(4) Phương pháp kết hợp xem xét về kinh tế.
Trong đánh giá đất đai ở Việt Nam, thông thường áp dụng theo phương
pháp “kết hợp theo điều kiện hạn chế” tức là “ sử dụng theo cấp hạn chế cao nhất
để kết luận khả năng thích nghi chung”. Thuận lợi của phương pháp này là đơn
giản và an toàn trong quy hoạch sử dụng đất. Khó khăn là các yếu tố chuẩn đoán
cần phải được cân nhắc kỹ lưỡng và chỉ chọn lọc các yếu tố điển hình.
Phương pháp đánh giá đất đai theo FAO, ta có mô hình mẫu như sau:
Hình 1.1. Mô hình đánh giá đất đai theo FAO
14
Mục đích của việc xây dựng hệ thống đánh giá đất đai FAO:
Xác định và xây dựng nguyên lý quan điểm và quy trình đánh giá đất đai
cho các ngành sử dụng đất nông nghiệp như: trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản hay
lâm nghiệp, bảo tồn thiên nhiên.
bậc là việc so sánh từng cặp. Có 9 mức so sánh, điểm so sánh có giá trị từ 1/9 – 9.
15
Bảng 1.2. Bảng độ ưu tiên chuẩn
Mức độ ưu tiên
Ưu tiên bằng nhau (Equally preferred)
Ưu tiên bằng nhau cho đến vừa phải (Equally to moderately
preferred)
Ưu tiên vừa phải (Moderately preferred)
Ưu tiên vừa phải cho đến hơi ưu tiên (Moderately to strongly
preferred)
Hơi ưu tiên hơn (Strongly preferred)
Hơi ưu tiên cho đến rất ưu tiên (Strongly to very strongly
preferred)
Rất ưu tiên (Very strongly preferred)
Rất ưu tiên cho đến vô cùng ưu tiên (Very strongly to extremely
preferred)
Vô cùng ưu tiên (Extremely preferred)
Giá trị
số
1
2
3
4
5
6
7
+ Tính chỉ số nhất quán (CI) =
max n
n 1
+ Tính chỉ số ngẫu nhiên (RI) tra bảng cho sẵn như sau:
n
2
3
4
5
6
7
8
RI
0
0,58
0,90
Khi số lượng các cặp trong hệ thống phân cấp tăng lên thì số lượng các cặp
so sánh cũng tăng lên do đó để xây dựng mô hình đánh giá AHP sẽ mất nhiều thời
gian.
Do sử dụng ý kiến của chuyên gia nên còn mang tính cảm tính, chứ chưa
có cơ sở khoa học cụ thể.
1.2. Cơ sở pháp lý
Luật Đất đai 2013, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
khóa XIII thông qua ngày 29/11/2013.
Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/04/2014 của Chính phủ về hướng dẫn
thi hành Luật Đất đai 2013.
Thông tư số 35/2014/TT-BTNMT ngày 30/06/2014 của Bộ Tài nguyên và
Môi trường Quy định việc điều tra, đánh giá đất đai.
Thông tư 60/2015/TT-BTNMT ngày 15/12/2015 của Bộ Tài nguyên và
Môi trường Quy định về kĩ thuật điều tra và đánh giá đất đai.
Tiểu kết chương 1
Ở chương 1 bao gồm hai phần: cơ sở lý luận và cơ sở pháp lý của công tác
đánh giá đất đai. Qua đó, ta có thể nắm bắt được cơ sở lý luận, những quy định,
phương pháp đánh giá đất đai theo FAO và phương pháp đánh giá đất đai theo
phân tích thứ bậc AHP. Đồng thời, cho ta biết được một số kết quả nghiên cứu
đánh giá đất đai ứng dụng FAO, AHP kết hợp với GIS đã đạt được trong thời gian
qua tại Việt Nam nói chung và tại huyện Di Linh nói riếng. Có thể nói, ứng dụng
phương pháp phân tích thứ bậc AHP đã trở nên phổ biến và ứng dụng trong nhiều
lĩnh vực, trong đó phải kể đến là ứng dựng trong đánh giá đất đai.
18
CHƯƠNG 2
- Địa hình núi cao nằm ở phía đông nam thuộc các xã Bảo Thuận, Sơn
Điền, Gia Bắc độ cao trên 1.200m. Độ dốc phổ biến > 200.Vùng này chủ yếu là
phát triển lâm nghiệp với chức năng phòng hộ và bảo vệ môi trường.
- Địa hình bình nguyên đặc trưng là các dãy đồi thấp đỉnh rộng có độ cao
từ 900 – 1.200m. Độ dốc phổ biến từ 80 – 250. Vùng này tương đối bằng phẳng,
phân bố dọc theo quốc lộ 20, thích hợp trồng các loại cây công nghiệp.
- Địa hình dốc tụ thung lũng bao gồm các cánh đồng hẹp có độ cao từ 800
– 900m phân bổ ven sông, suối, độ dốc phổ biến < 80.
Những vùng đất bằng có khả năng phát triển nông nghiệp phân bố chủ yếu
dọc theo trục đường quốc lộ 20 và tuyến đường liên xã, đường trục xã nên việc
khai thác vào sản xuất nông nghiệp củng có nhiều thuận lợi. Tuy nhiên địa hình
cũng tạo ra nhiều vị trí rất thuận lợi cho xây dựng các hồ chứa nước, các công
trình thủy lợi nhỏ.
2.1.1.3. Khí hậu
Huyện Di Linh nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng ẩm, mưa
nhiều, khí hậu ôn hòa quanh năm chia làm hai mùa rõ rệt là mùa mưa và mùa khô.
Nhiệt độ trung bình năm tương đối thấp 210C, độ ẩm không khí 75%.Khí
hậu có nét đặc trưng riêng thích hợp với các loại cây lâu năm như cà phê, chè…
cho phép bố trí cây trồng vật nuôi có nguồn gốc nhiệt đới, ôn đới, cùng với khí
hậu ôn hoà thời tiết quanh năm mát mẻ thích hợp cho việc du lịch và nghỉ dưỡng.
2.1.1.4. Tài nguyên thiên nhiên
- Tài nguyên nước:
Di Linh có rất nhiều sông suối và phân bố đều khắp các vùng: phía Bắc có
sông Đạ Dâng bắt nguồn từ núi Langbiang chảy bao quanh dài 60 km, giữa có
sông Đạ Riam bắt nguồn từ núi Yan Doane (Bảo Thuận) chảy song song với quốc
lộ 20 đến bến Thùng đổ vào sông La Ngà ở phía Tây của huyện. Địa bàn Di Linh
còn là nơi xuất phát của các dòng suối lớn nhỏ tỏa ra khắp 4 phía (Phía Bắc có
các nhánh đổ vào sông Đạ Dâng, phía Tây có các nhánh đổ vào sông La Ngà, phía
Đông và Nam có các nhánh chảy vào các sông, suối của tỉnh Bình Thuận).
Do các con sông suối này ngắn và dốc nên lúc mưa lượng nước tập trung
(ha)
454,15
Fk
2 – Đất nâu đỏ trên đá Basalt
29.095,33
(%)
0,28
18,02
Fu
3 – Đất nâu vàng trên đá Basalt
12.266,1
7,60
Fu
4- Đất nâu vàng trên đá Andesite
12.549,7
7,77
Fs
9 – Sông suối
2.764,33
1,71
161.463,84
100,00
Tổng cộng
(Nguồn:Phòng TN & MT huyện Di Linh năm 2014)
- Tài nguyên rừng:
Nằm trong hệ sinh thái rừng Tây Nguyên. Rừng ở đây có nguồn lực phong
phú trong quần thể sinh cảnh đa dạng phần lớn phân bố ở phía Bắc và phía Nam
huyện (Vùng tụ thuỷ và đầu nguồn lưu vực) có vai trò lớn đối với phòng hộ, cân
bằng môi trường sinh thái. Đặc biệt là nơi có 14.701,37 ha rừng phòng hộ cho hai
công trình thuỷ điện lớn của phía Nam là Trị An và Hàm Thuận – Đa Mi. Rừng
Di Linh có trữ lượng gỗ lớn, nhiều loại gỗ quý hiếm, động vật hoang dã phong
phú. Ngành lâm nghiệp chiếm vị trí đáng kể trong cơ cấu kinh tế của huyện.
21