MỞ ĐẦU
1) Lý do chọn đề tài:
Đất đai là nguồn tài nguyên quý giá và có hạn, quá trình khai thác sử dụng
đất đai luôn gắn liền với qua trình phát triển đất nước. Mà diện tích đất thì
không thể tăng lên được, trong khi Việt Nam đang trong thời kỳ thực hiện công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, nên việc sử dụng và khai thác nguồn tài
nguyên đất đai hợp lý là một trong những nguồn lực to lớn thúc đẩy sự phát triển
của đất nước.
Luật Đất đai năm 2013 quy định việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
là một trong 15 nội dung quản lý Nhà nước về đất đai. Lập kế hoạch sử dụng đất
hàng năm là rất cấp thiết trong việc quản lý đất đai và là nhiệm vụ phải thực
hiện, nhằm cụ thể hóa công tác quản lý nhà nước về đất đai để nâng cao hiệu
quảsử dụng tài nguyên đất đai.
Huyện Bình Chánh có nhân khẩu đông nhất nước ( 625.000 người), và
Bình Chánh nằm ở cửa ngõ phía Tây, đồng thời có các trục đường giao thông
huyết mạch nên Bình Chánh được xem là cầu nối quan trọng giữa việc giao lưu
kinh tế với các vùng. Vì vậy việc xây dựng kế hoạch sử dung đất cấp Huyện là
một việc quan trọng để có thể sử dụng hiệu quả, tiết kiệm và đáp ứng nhu cầu
phát triển kinh tế trong tương lai.
Xuất phát từ những vấn đề nêu trên, nên em lựa chọn nghiên cứ đề
tài“Xây dựng Kế hoạch sử dụng đất năm 2017 tại Huyện Bình Chánh, Tp.Hồ
Chí Minh”.
2) Mục tiêu nghiên cứu
Xây dựng kế hoạch sử dụng đất năm 2017 trên địa bàn huyện Bình
Chánhnhằm quản lý chặt chẽ tài nguyên đất theo đúng quy hoạch, kế hoạch và
pháp luật; đồng thời đảm bảo việc sử dụng đất đúng mục đích, tiết kiệm, hiệu
quả, bảo vệ môi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu.
Phát huy được tối đa tiềm năng đất đai hiện có nhằm đáp ứng được các
yêu cầu, mục tiêu phát triển kinh tế xã hội trong tương lai của huyện cũng như
đóng góp vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội của thành phố.
3) Nhiệm vụ
tập về các vấn đề liên quan đến đề tài nghiên cứu
Công cụ hỗ trợ: sử dụng phần mềm micro v8i để thực hiện điều chỉnh,
biên tập lại bản đồ.
6) Ý nghĩa nghiên cứu:
Củng cố và hệ thống hóa những kiến thức lý thuyết về quy hoạch, kế
hoạch sử dụng đất đã được học trên lớp.
Giúp bản thân nắm được những nội dung và phương pháp thực hiện được
quy định trong các văn bản luật hiện hành về công tác lập quy hoạch, kế hoạch
sử dụng đất đai.
Kết quả nghiên cứu là cơ sở để đánh giá năng lực của sinh viên trong
nghiên cứu và kĩ năng thực hành nghiệp vụ xây dựng kế hoạch sử dụng đất đai.
7) Bố cục:
Nội dung của luận văn được trình bày như sau:
- Mở đầu.
- Chương 1: Cơ sở lý luân và pháp lý liên quan đến xây dựng kế hoạch
sử dụng đất.
2
- Chương 2: Thực trạng xây dựng kết quả sử dụng đất ở Huyện Bình
Chánh.
- Chương 3: Nội dung xây dựng kế hoạch sử dụng đất 2017 trên địa bàn
huyện Bình Chánh
- Kết luận và kiến nghị.
Danh mục tài liệu tham khảo.
Phụ lục.
3
Vai trò của đất đai
- Đất đai là một tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là điều kiện chung
nhất để tạo ra của cải vật chất.
- Đất đai là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống.
- Đất đai là đối tượng, tư liệu sản xuất đặc biệt do nó có các tính đặc trưng
riêng như có độ phì, tính cố định về không gian, tính giới hạn về số lượng, tính
không thay thế, tính vĩnh cửu.
4
- Đất đai có vai trò quan trọng đối với các ngành sản xuất nông – lâm
nghiệp, phi nông nghiệp.
- Đất đai là bất động sản có giá trị trong phát triển kinh tế - xã hội.
Đặc điểm của đất đai
- Đất đai là một tư liệu sản xuất đặc biệt
Trong quá trình sản xuất đất đai là cơ sở không gian bố trí lực lượng sản
xuất. Trong nông nghiệp đất đai là đối tượng lao động bởi trong quá trình sản
xuất con người tác động vào đất đai. Thông qua đất đai con người lại đưa chất
dinh dưỡng vào cây trồng, do đó đất đai là công cụ lao động.
Đất đai vừa là đối tượng vừa là công cụ lao động nên đất đai là tư liệu
sản xuất đặc biệt.
- Đất đai có 2 thuộc tính
Thuộc tính tự nhiên của đất đai bao gồm các đặc tính về không gian. Tính
chất tự nhiên của đất đai làm cho nó trở thành một loại hàng hóa đặc biệt bởi vì
đất đai có độ phì, có vị trí cố định không dịch chuyển được.
Thuộc tính xã hội của đất đai chính là vị thế của đất đai – là hình thức đo
sự mong muốn về mặt xã hội gắn với đất đai tại một vị trí nhất định, là thuộc
tính phi vật thể.
Quy luật phân vùng sử dụng đất
Lý thuyết về phân vùng chức năng đất đai được nghiên cứu đầu tiên bởi
tỉnh, thành phố thuộc Trung ương.
- Đối với cấp huyện: có 352 đơn vị hành chính cấp huyện được Ủy ban
nhân dân cấp tỉnh xét duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất (chiếm 49,93%);
có 330 đơn vị hành chính cấp huyện đang triển khai lập quy hoạch, kế hoạch sử
dụng đất (chiếm 46,81%); còn lại 23 đơn vị hành chính cấp huyện chưa triển
khai lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất (chiếm 3,26%).
- Đối với cấp xã: có 6.516 đơn vị hành chính cấp xã được cấp có thẩm
quyền xét duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất (chiếm 58,41%); có 2.907 đơn
vị hành chính cấp xã đang triển khai lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất (chiếm
26,06%); còn lại 1.733 đơn vị hành chính cấp xã chưa triển khai lập quy hoạch,
kế hoạch sử dụng đất (chiếm 15,53%).
Về điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và lập kế hoạch sử
dụng đất kỳ cuối (2016-2020): Bộ Tài nguyên và Môi trường đã triển khai việc
điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và lập kế hoạch sử dụng đất 05
năm kỳ cuối (2016-2020) cấp quốc gia theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ
tại chỉ thị số 08/CT-TTg ngày 20/05/2015. Đến hết tháng 06 năm 2015 đã có 06
Bộ, ngành và 52 tỉnh gửi Báo cáo kết quả thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử
dụng đất và đăng ký nhu cầu sử dụng đất giai đoạn 2016-2020 và còn một số
tỉnh, thành phố chưa gửi báo cáo. Kế hoạch tổ chức và thực hiện việc kiểm tra
các địa phương trong việc thực hiện quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và kế
hoạch sử dụng đất 05 năm (2011-2015) các cấp đã được thành lập.
b/ Những bất cập trong quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất hiện nay
Quy hoạch sử dụng đất luôn gắn liền với kế hoạch sử dụng đất, bởi vì kế
hoạch sử dụng đất thực hiện theo quy hoạch sử dụng đất thông qua những biện
pháp và thời gian cụ thể. Vì vậy nếu quy hoạch thiếu tính toán, không xác định
được thời hạn, không có kế hoạch cụ thể sẽ gây ra “quy hoạch treo”- là tình
trạng các quy hoạch có nội dung sử dụng đất nhưng không thực hiện hoặc thực
hiện không đúng tiến độ.
Công tác lập, triển khai quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất hiện nay đã ngày
càng hoàn thiện hơn và có những chuyển đổi tích cực nhưng trên thực tế vẫn còn
- Tình trạng quy hoạch “treo” còn phổ biến. Trên cả nước vẫn còn hàng
ngàn dự án “treo” chưa được thu hồi. Việc xử các dự án sau khi thu hồi cũng
đang gặp nhiều khó khăn, vướng mắc.
- Đối với kế hoạch sử dụng đất hàng năm của cấp huyện vẫn còn những
bất cập như về thời gian phê duyệt phân bổ các chỉ tiêu sử dụng đất từ cấp tỉnh
cho cấp huyện vẫn chưa phù hợp với thực tế; việc xác định nhu cầu sử dụng đất
cho các ngành, các lĩnh vực vẫn còn bất cập so với thực tiễn do vướng các quy
định về thời gian lập kế hoạch sử dụng đất; người sử dụng đất bị hạn chế nhiều
quyền; gặp khó khăn trong việc chuyển mục đích sử dụng đất.
1.2. Cơ sở pháp lý
1.2.1. Nguyên tắc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
Theo Điều 35 Luật Đất đai 2013 quy định như sau:
1. Phù hợp với chiến lược, quy hoạch tổng thể, kế hoạch phát triển kinh tế
- xã hội, quốc phòng, an ninh.
7
2. Được lập từ tổng thể đến chi tiết; quy hoạch sử dụng đất của cấp dưới
phải phù hợp với cấp trên; KHSDĐ phải phù hợp với quy hoạch sử dụng đất đã
được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt. QH sử dụng đất cấp quốc gia
phải đảm bảo tính đặc thù, liên kết của các vùng kinh tế - xã hội; quy hoạch sử
dụng đất cấp huyện phải thể hiện nội dung sử dụng đất cấp xã.
3. Sử dụng đất tiết kiệm và có hiệu quả.
4. Khai thác hợp lý tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường; thích
ứng với biến đổi khí hậu.
5. Bảo vệ, tôn tạo di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh.
6. Dân chủ và công khai
7. Bảo đảm ưu tiên quỹ đất cho mục đích quốc phòng, an ninh, phục vụ
lợi ích quốc gia, công cộng, an ninh lương thực và bảo vệ môi trường.
8. Quy hoạch, kế hoạch của ngành, lĩnh vực, địa phương có sử dụng đất
Bội Tài nguyên và Môi trường chủ trì giúp Chính phủ trong việc lập quy hoạch,
KHSDĐ cấp quốc gia.
2. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tổ chức lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
cấp tỉnh; Ủy ban nhân dân cấp huyện tổ chức lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng
đất cấp huyện.
Cơ quan quản lý đất đai cấp tỉnh, cấp huyện chủ trì giúp Ủy ban nhân dân cùng
cấp trong việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất.
3. Bộ Quốc phòng tổ chức lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất quốc
phòng; Bộ công an tổ chức lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất an ninh.
4. Chính phủ quy định chi tiết điều này.
1.2.5. Thẩm quyền quyết định, phê duyệt quy hoạch, KHSDĐ
1. Quốc hội quyết định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp quốc gia.
2. Chính phủ phê duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp tỉnh; quy
hoạch, kế hoạch sử dụng đất quốc phòng; quy hoạch, KHSDĐ đất an ninh.
Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trình Hội đồng nhân dân cùng cấp thông qua quy
hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp tỉnh trước khi trình Chính phủ phê duyệt.
3. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phê duyệt quy hoạch, KHSDĐ huyện.
Ủy ban nhân dân cấp huyện trình Hội đồng nhân dân cùng cấp thông qua
quy hoạch sử dụng đất cấp huyện trước khi trình UBND cấp tỉnh phê duyệt.
Ủy ban nhân dân cấp huyện trình UBND cấp tỉnh phê duyệt kế hoạch sử
dụng đất hàng năm của cấp huyện. UBND cấp tỉnh trình Hội đồng nhân dân cấp
tỉnh thông qua danh mục dự án cần thu hồi đất quy định tại khoản 3 Điều 62 của
Luật này trước khi phê duyệt KHSDĐ hàng năm của cấp huyện.
Ngoài những nội dung quy định trong Luật đất đai 2013 còn có một số
văn bản dưới Luật như:
- Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/05/2014 của Chính phủ quy định chi
tiết thi hành một số điều của Luật đất đai 2013;
- Nghị định 44/2014/NĐ-CP ngày 15/05/2014 của Chính phủ quy định về
giá đất;
- Nghị định 47/2014/NĐ-CP ngày 15/05/2014 của Chính phủ quy định về
2.1.1) Khái quát điều kiện tự nhiên – tài nguyên thiên nhiên của
huyện Bình Chánh.
a) Điều kiện tự nhiên
- Vị trí địa lý
Huyện Bình Chánh là
một trong 5 huyện ngoại
thành, có tổng diện tích tự
nhiên là 25.255,99 ha, chiếm
12% diện tích toàn thành phố.
Huyện có 15 xã và 01 thị
trấn; trong đó Lê Minh Xuân
là xã có diện tích lớn nhất với
3.500,20ha (chiếm 13,9%
diện tích tự nhiên huyện) và
nhỏ nhất là xã An Phú Tây
với 586,57 ha (chiếm 2,3%
DTTN huyện). Nằm về phía
Tây của Thành phố, Bình
Chánh có vị trí địa lý như sau:
- Tọa độ địa lý: Từ
10 37’35” đến10052’29” vĩ
Bắc
và
106027’43”106052’29”kinh Đông.
0
- Ranh giới hành chính:
+ Bắc giáp Hóc Môn;
+ Nam giáp huyện Bến Lức và Cần Giuộc – tỉnh Long An;
+ Tây giáp huyện Đức Hòa – tỉnh Long An;
đều trong năm và ít thay đổi, trung bình năm khoảng 26,60C Nhiệt độ trung bình
tháng cao nhất là 280C (tháng 4), nhiệt độ trung bình tháng thấp nhất 24,80C
(tháng 12). Tuy nhiên, biên độ nhiệt độ ngày và đêm chênh lệch khá lớn, vào
mùa khô có trị số 80C - 1000C. Lượng mưa trung bình năm từ 1300 mm - 1770,
tăng dần lên phía Bắc theo chiều cao địa hình. Mưa phân bổ không đều giữa các
tháng trong năm, mưa tập trung vào các tháng 7, 8, 9; vào tháng 12, tháng 1
lượng mưa không đáng kể. Độ ẩm không khí trung bình năm khá cao 79,5%, cao
nhất vào các tháng 7, 8, 9 là 80% - 90%, thấp nhất vào các tháng 12, là 70%.
Tổng số giờ nắng trung bình trong năm là 2.100 - 2.920 giờ.
- Thủy văn
Huyện Bình Chánh có hệ thống sông, kênh, rạch khá đa dạng (khoảng 10
sông, rạch chính): Phần lớn sông, rạch nằm ở khu vực hạ lưu, nên nguồn nước bị
ô nhiễm do nước thải từ các khu công nghiệp của thành phố đổ về như: nước
đen từ kênh Tàu Hủ, kênh Tân Hóa - Lò Gốm, kênh Đôi, rạch Nước Lên, rạch
Cần Giuộc…đã ngày càng gây ảnh hưởng lớn đến sản xuất nông nghiệp (đặc
biệt là nuôi trồng thuỷ sản) cũng như đối với môi trường sống của nhân dân
trong các khu dân cư. Nhìn chung hệ thống sông, kênh, rạch trực tiếp chi phối
chế độ thuỷ văn của huyện và nét nổi bật của dòng chảy là sự xâm nhập của thủy
triều.
12
b) Các nguồn tài nguyên
+ Tài nguyên đất
Tổng diện tích tự nhiên toàn huyện 25.255,29 ha, chiếm tỷ trọng 11,97%
diện tích toàn Thành Phố và gấp 1,8 lần diện tích khu vực nội thành. Trong đó:
có 888ha đất sông suối mặt nước chuyên dùng, còn lại 24.376,29 ha đất mặt,
chia làm 3 nhóm đất chính:
Bảng 2.1: Phân loại và thống kê diện tích các loại đất huyện Bình Chánh
4
Đất phù sa
Fluvisols
AC
%
2.749,16
10,89
ACha
659,52
2,61
ACg
2.089,65
8,27
FL
11.174,74
17,83
888,00
4,48
25.255,29
100,00
cambic
5
Đất phù sa loang lỗ đỏ vàng
Fluvisols
6
Đất phù sa gley
gley Fluvisols
thionic
7
Đất phèn
Fluvisols
orthithionic
hợp với loại đất xây dựng hơn là đất nông nghiệp vì có nền móng tương đối ổn
định.
Đất xám gley là nhóm đất có thời gian bị ngập nước (từ 1-3 tháng/năm)
có thể trồng lúa nước 1-2 vụ, tuy nhiên hiệu quả không cao, thích hợp cho hoa
màu hơn.
Đất phù sa: có diện tích 11.174,74 ha (44,25% diện tích đất mặt trên địa
bàn toàn huyện) do hệ thống sông Cần Giuộc và Chợ Đệm bồi đắp, phân bố chủ
yếu ở các xã Tân Quý Tây, An Phú Tây, Hưng Long, Quy Đức, Đa Phước, Bình
Chánh, Tân Túc. Đây là nhóm đất tốt nhất cho sản xuất nông nghiệp trên địa bàn
huyện, đất có thành phần cơ giới trung bình, hàm lượng hữu cơ khá (2-10%),
nghèo lân, kali khá.
Đất phèn : thuộc vùng đất thấp trũng, bị nhiễm phèn mặn, phân bổ chủ
yếu tại các xã Tân Nhựt, Bình Lợi, Phạm Văn Hai, Lê Minh Xuân, có diện tích
10.452,39 ha (41,39% diện tích đất mặt trên địa bàn toàn huyện). Chia làm 2
nhóm đất phèn hoạt động (đất phèn phát triển) có diện tích 5.950,52 ha và đất
phèn tiềm tàng với diện tích 4.501,86 ha. Đất có thành phần cơ giới nặng (hàm
lượng sét đạt 40-50%), hàm lượng chất hữu cơ cao nhưng độ phân hủy kém nên
đất dễ thiếu N, nghèo lân, kali ở mức trung bình, đất chua, pH
bàn huyện 981,94 ha, chiếm 3,89% tổng diện tích tự nhiên toàn huyện. Tập
trung ở 2 xã Lê Minh Xuân, Phạm Văn Hai do lâm trường Láng Le và công ty
TNHH Một Thành Viên Cây Trồng quản lý. Trong đó, diện tích rừng sản xuất
chiếm chủ yếu với 718,37 ha (73,16% diện tích đất lâm nghiệp), diện tích đất
rừng phòng hộ 234,46 ha, còn lại diện tích rừng đặc dụng 29,11 ha (trại thực
nghiệm lâm nghiệp)
Ngoài ra trên địa bàn huyện còn khoảng 3.370ha đất trồng cây lâu năm
khác (chủ yếu là tràm) phân bố ở hầu hết ở các xã. Trong đó, diện tích cây lâu
năm khác trồng mang tính tập trung phân bổ chủ yếu ở các xã Vĩnh Lộc A
164ha; Vĩnh Lộc B 123ha, Bình Lợi 224ha…
+ Tài nguyên nhân văn
Bình Chánh hiện nay được chính thức thành lập vào ngày 02/12/2003
(thực hiện theo Nghị định 130/2003/NĐ ngày 5 tháng 11 năm 2003 của Thủ
tướng Chính phủ về việc chia tách địa giới hành chánh) trên cơ sở tách 4 xã, thị
trấn: Tân Tạo, Bình Trị Đông, Bình Hưng Hòa và Thị trấn An Lạc thuộc huyện
Bình Chánh cũ để thành lập quận Bình Tân, phần còn lại tái lập lại huyện Bình
15
Chánh bây giờ với tổng diện tích là 25.255ha, chia ra thành 16 xã – thị trấn, dân
số trung bình năm 2011 là 467.459 người.
Trong chiến tranh, Bình Chánh là địa bàn có truyền thống yêu nước và
đấu tranh dũng cảm. Ngay thế kỷ 19, đây là địa bàn hoạt động của Bình Tây Đại
Nguyên Soái Trương Định và các lực lượng kháng chiến khác. Những năm
1931-1945, Trung Huyện là địa bàn hoạt động của Xứ ủy Nam Kỳ, Ủy ban
Kháng chiến Nam Bộ, Công an Nam Bộ, quân khu 7. Đặc biệt, khu vực cạnh
sông Chợ Đệm, thuộc ấp 4, xã Tân Kiên chính là nơi được Xứ ủy Nam Kỳ họp
quyết định cuộc khởi nghĩa giành chính quyền ngày 25-8-1945.
Đánh giá chung những thuận lợi, hạn chế về điều kiện tự nhiên, tài
nguyên thiên nhiên của huyện Bình Chánh
16
Tăng trưởng kinh tế: giai đoạn 2006-2010 tốc độ tăng trưởng bình quân
đạt 21,03%/năm (tăng 5,03% so với chỉ tiêu kế hoạch) cao hơn bình quân toàn
Thành phố (11,8%). Trong đó ngành công nghiệp – xây dựng là lĩnh vực lớn
nhất, là động lực tăng trưởng chính của kinh tế trên địa bàn huyện, giai đoạn
2006-2010 hoạt động sản xuất công nghiệp có bước phát triển mạnh, tốc độ tăng
trưởng giá trị bình quân 24,34%/năm (vượt 4,34% so với kế hoạch);
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế: theo hướng tích cực, ngành công nghiệp –xây
dựng ngày càng phát huy được thế mạnh, khẳng định được vai trò chủ lực trong
phát triển kinh tế - xã hội của Huyện, nên tỷ trọng ngành công nghiệp – xây
dựng tăng từ 65% năm 2005 lên 75% năm 2010, tương ứng tỷ trọng ngành nông
lâm thủy sản giảm từ 14% năm 2005 xuống còn 6% năm 2010; tỷ trọng ngành
thương mại – dịch vụ duy trì mức 19-20%.
Thực trạng phát triển các ngành kinh tế:
* Công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp:
Giai đoạn 2006-2010, giá trị sản xuất tăng bình quân 24,34%/năm, một số
ngành có tỉ trọng cao trong cơ cấu giá trị sản lượng công nghiệp như: sản xuất
thực phẩm đồ uống (tăng bình quân 28,34%/năm), ngành dệt (tăng
28,08%/năm), ngành thuộc da, sản xuất vali, túi xách (tăng 28,37%/năm), ngành
sản xuất hóa chất, sản phẩm từ hóa chất (tăng 24,73%/năm), sản xuất các sản
phẩm từ cao su, plastic (tăng bình quân 32,32%/năm), sản xuất các sản phẩm từ
kim loại (tăng 29,28%/năm)
Năm 2010, cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu đã
dần được khắc phục, tạo ra những tác động tích cực đến phát triển kinh tế của
Huyện. Năm 2011, giá trị sản xuất (giá CĐ1994) của Huyện đạt 4.825,6 tỷ đồng
(tăng 34,35% so với năm 2010), tổng số doanh nghiệp, chi nhánh doanh nghiệp
ngành công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp 1.377 đơn vị, trong đó có 55 công ty
cổ phần, 609 công ty trách nhiệm hữu hạn, 264 Danh nghiệp tư nhân, 449 chi
triệu USD (tăng 12,02% so với 2010), kim ngạch nhập khẩu 293,788 triệu USD
(tăng 14,1% so với cùng kỳ).
Nhìn chung, hoạt động thương mại - dịch vụ đang có xu hướng phát triển
mạnh về số lượng và chất lượng, nhất là lĩnh vực dịch vụ. Mặc dù bị ảnh hưởng
chung của cuộc khủng hoảng tiền tệ khu vực, nhưng trong 5 năm qua với
phương thức kinh doanh mới, linh hoạt, chủ động nên thương nghiệp quốc
doanh và hợp tác xã mua bán huyện đã giữ vững lợi thế cạnh tranh trong cơ chế
thị trường. Tuy nhiên trong những năm tới, cần tiếp tục phát huy có hiệu quả và
không ngừng đầu tư phát triển các loại hình kinh doanh, dịch vụ thương mại
nhằm từng bước nâng cao tỷ trọng của ngành, trong cơ cấu nền kinh tế của
huyện cần phải dành một quỹ đất nhất định cho một số xã chưa có mạng lưới
chợ.
* Nông lâm thủy sản:
Tỷ trọng ngành nông nghiệp trong tổng giá trị sản xuất giảm từ 14,11%
năm 2005 xuống còn 6,79% năm 2010, tuy nhiên giá trị sản lượng nông nghiệp
vẫn tăng và đạt mức tăng trưởng bình quân hàng năm 4,54%/năm giai đoạn
2006-2010.
Cơ cấu giá trị sản lượng trong nội bộ ngành nông nghiệp dịch chuyển theo
hướng tích cực, ngành trồng trọt giảm dần từ 59,53% năm 2005 còn 46,48%
năm 2010, ngành chăn nuôi tuy chiếm tỉ trọng thấp hơn so với trồng trọt nhưng
có xu hướng tăng dần từ 35,49% lên 39,97%; ngành thủy sản tăng từ 4,18% năm
2005 lên 12,62% năm 2010. Các mô hình chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi
tiếp tục được triển khai, điểm nổi bật trong thời gian qua là sự chuyển dịch mạnh
cơ cấu sản xuất nông nghiệp theo mô hình sản xuất nông nghiệp chất lượng cao
với sự phát triển của ngành chăn nuôi, thủy sản, hoa lan cây kiểng, cá kiểng, rau
an toàn.
Năm 2011, giá trị sản xuất ngành nông nghiệp đạt 393,12 tỷ đồng, trong
đó: ngành trồng trọt đạt 166,1 tỷ đồng (chiếm 42,25% cơ cấu ngành), ngành
18
* Khu vực nông thôn
Diện tích đất khu vực nông thôn của huyện là 24.399 ha, chiếm 96,61%
diện tích tự nhiên. Dân số nông thôn có 428.838 người, chiếm 96,13% dân số
của huyện, bình quân 1.758 người/km2, diện tích đất ở nông thôn là 2.470 ha,
bình quân có 57,6 m2/người.
Các điểm dân cư nông thôn phân bố tập trung thành từng ấp dọc theo các
trục giao thông chính, gần chợ, ven sông, rạch để thuận lợi cho việc sinh hoạt và
trồng trọt, chăn nuôi. Điều kiện nhà ở của người dân trong huyện còn thấp, số
nhà đơn sơ chiếm tỷ lệ cao, trong khi loại nhà kiên cố chỉ chiếm tỷ lệ thấp, mật
độ xây dựng bình quân thấp. Tuy nhiên tại các khu vực đô thị giáp ranh nội
thành, có nơi mật độ xây dựng dân cư rất cao.
19
Hệ thống cơ sở hạ tầng giao thông, điện, bưu chính viễn thông, cơ sở văn
hoá xã hội phục vụ công cộng trong các khu dân cư, đã có nhiều đổi mới và từng
bước đáp ứng nhu cầu của nhân dân. Tuy nhiên, việc xử lý rác thải sinh hoạt,
phân gia súc chưa tốt, đặc biệt là việc sử dụng thuốc trừ sâu, phân hoá học đã
gây nên ô nhiễm cục bộ cho từng khu vực.
Thực trạng phát triển cơ sở hạ tầng
* Giao thông đường bộ
Trong quá trình phát triển, đã hình thành mạng lưới giao thông đối ngoại
khá hợp lý, nếu mạng lưới này được nâng cấp một cách đúng mức sẽ tạo cho Tp.
Hồ Chí Minh nói chung và Bình Chánh nói riêng có cơ hội để mở rộng giao lưu,
phát huy lợi thế về vị trí địa lý.
Tổng chiều dài các tuyến đường trên địa bàn huyện là 412,23km, trong đó
có 52 tuyến đường do Thành phố quản lý với tổng chiều dài 139,95km và 142
tuyến do UBND Huyện quản lý với tổng chiều dài 272,28km, không kể các
tuyến đường nhỏ, hẻm phân cấp cho UBND xã, thị trấn quản lý.
Về đường giao thông đối ngoại hiện hữu: có các tuyến quốc lộ 1A, quốc
Các tuyến đường giao thông nông thôn phần lớn chưa được đầu tư theo
quy hoạch lộ giới được duyệt. Các tuyến đường do Huyện quản lý có mặt cắt
ngang đường trung bình từ 5,0 đến 6,0m, chưa có hệ thống thoát nước, vỉa hè,
cần đầu tư nâng cấp để đảm bảo đáp ứng cho nhu cầu phát triển
* Về giao thông đường thủy
Huyện Bình Chánh có nhiều sông rạch hiện hữu, trong đó một số tuyến
sông rạch chính có chức năng giao thông thủy. Các sông rạch có chức năng giao
thông thủy bao gồm: Tuyến Vành đai ngoài (sông Chợ Đệm, Bến Lức, kênh Lý
Văn Mạnh, kênh Xáng Ngang, kênh Xáng Đứng, kênh An Hạ), sông Cần Giuộc,
rạch Bà Tỵ, Rạch Bà Lớn - rạch Chổm, rạch Bà Lào - rạch Ngang, Tắc Bến Rô,
rạch Chiếucầu Bà Cả và rạch Ông Lớn. Trong đó: bao gồm 01 tuyến cấp III
chiều dài 11,5km; 05 tuyến cấp IV chiều dài 25km
* Thủy lợi
Thủy lợi có vai trò quan trọng trong phát triển nông nghiệp, cải thiện môi
trường, làm đẹp cảnh quan và trữ nước cho sinh hoạt. Trên địa bàn huyện hiện
có 04 tuyến sông, 82 tuyến rạch, 96 kênh mương, 12 công trình đê bao thủy lợi,
20 bờ bao, 102 cống thủy lợi đầu mối. Trong các tuyến sông, kênh, rạch nêu trên
chỉ có các tuyến có chức năng giao thông thủy như: Sông Cần Giuộc, Sông Chợ
Đệm, rạch Bà Ty, rạch Bà Lớn – rạch Chồm, rạch Bà Lào – rạch Ngang, rạch
Bến Rô, rạch Chiếu, các tuyến còn lại có nướcchức năng tiêu thoát nước.
Đánh giá chung về thực trạng phát triển kinh tế-xã hội của Huyện
Bình Chánh.
a. Thuận lợi
Hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội của Huyện đã được đầu tư khá lớn, nhiều
công trình giao thông trọng điểm như: Đại lộ Võ Văn Kiệt, đường cao tốc thành
phố Hồ Chí Minh – Trung Lương, Tỉnh lộ 10, đường nối đại lộ Nguyễn Văn
Linh với đường cao tốc được xây dựng, góp phần thúc đẩy phát triển mạnh mẽ
kinh tế - xã hội ở địa phương, tạo điều kiện thuận lợi để huyện kêu gọi, thu hút
đầu tư, đảm bảo giữ vững tốc độ tăng trưởng kinh tế cao theo mục tiêu, định
hướng đề ra.
mặt nước tạo môi trường thiên nhiên trong lành và thoáng đẹp.
b. Hạn chế
Đội ngũ lao động đông đảo là vốn quý báu, là nhân tố tích cực để phát
triển sản xuất. Song trình độ dân trí chưa cao, lao động phổ thông chiếm tỷ trọng
lớn. Vì vậy nhu cầu đào tạo tay nghề đáp ứng sản xuất theo công nghiệp hóa,
hiện đại hóa là một vấn đề cần phải thực hiện.
Các công trình công cộng về thể loại tương đối đầy đủ nhưng quy mô nhỏ
và chất lượng kém chưa đảm bảo phục vụ nhân dân.
Nhà ở hình thành và phát triển theo dạng tự phát, các điểm dân cư bám
dọc theo các trục lộ giao thông, sông rạch, làm ảnh hưởng đến lưu thông, chất
lượng nhà và các tiện nghi sinh hoạt còn thấp. Dân cư hiện còn nhiều hộ sống
giữa khu đất canh tác, không tiện cho việc cấp nước ....Các cơ sở sản xuất CN –
TTCN xen cài trong khu dân cư, không đồng bộ trong đầu tư cơ sở hạ tầng,
không có khoảng cách ly để đảm bảo về vệ sinh, gây ô nhiễm đáng kể đến môi
trường không khí, đất và nước.
Hệ thống hạ tầng phát triển nhưng chất lượng công trình chưa cao, bán
kính phục vụ chưa đảm bảo đáp ứng yêu cầu phát triển dân cư theo lối sống đô
thị.
Thực trạng hiện nay, sự tăng trưởng kinh tế của huyện chưa thật ổn định
và vững chắc, ngành dịch vụ còn chiếm tỷ trọng thấp trong cơ cấu kinh tế, chưa
22
tương xứng với tiềm năng của Huyện trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh
tế.
Thu nhập và mức sống của một bộ phận nhân dân vẫn còn khó khăn, đáng
lo ngại là có xu hướng phân hóa giàu nghèo ở nông thôn.
Tốc độ đô thị hoá ngày càng diễn ra nhanh chóng đã làm phát sinh nhiều
vấn đề phức tạp nhất là đất đai, môi trường, số lượng dân nhập cư tăng cao, tỷ lệ
lao động chưa có việc làm và thiếu việc làm còn cao. Một số đơn vị sản xuất
Chỉ tiêu sử dung đất
Đất nông nghiệp
Đất trồng lúa
Trong đó: Đất chuyên trồng lúa
nước
Đất trồng cây hàng năm khác
Đất trồng cây lâu năm
Đất rừng phòng hộ
Đất rừng đặc dụng
Đất rừng sản xuất
Đất nuôi trồng thủy sản
23
Mã
NNP
LUA
Diện tích (ha)
17.032,54
5.313,26
LUC
HNK
CLN
RPH
RDD
RSX
NTS
Lê Minh Xuân (446,90ha), Bình Hưng (33,54ha), Bình Chánh (243,45ha),
Phong Phú (129,21ha), thị trấn Tân Túc (300,25ha), Bình Lợi (196,39ha).
- Đất trồng cây hằng năm khác là 3.638,59ha, chiếm 21,36%. Diện tích đất
trồng cây hằng năm khác phân bổ ở các xã: An Phú Tây (17,69ha), Tân Quí Tây
(45,60ha), Tân Nhựt (47,85ha), Tân Kiên (28,84ha), Vĩnh Lộc A (397,31ha),
Vĩnh Lộc B (466,70ha), Qui Đức (50,85ha), Hưng Long (96,32ha), Đa Phước
(35,99ha), Phạm Văn Hai (524,94ha), Lê Minh Xuân (1.055,08ha), Bình Hưng
(1,13ha), Bình Chánh (86,56ha), Phong Phú (51,21ha), Thị Trấn Tân Túc
(27,29ha), Bình Lợi (705,25ha).
- Đất trồng cây lâu năm là 5.802,74 ha,chiếm 34,06%. Diện tích đất trồng
cây lâu năm phân bổ ở các xã: An Phú Tây (145,45ha), Tân Quí Tây (401,33ha),
Tân Nhựt (450,20ha), Tân Kiên (321,51ha), Vĩnh Lộc A (578,58ha), Vĩnh Lộc
B (543,87ha), Qui Đức (149,68ha), Hưng Long (351,06ha), Đa Phước
(272,25ha), Phạm Văn Hai (1.004,21ha), Lê Minh Xuân (352,56ha), Bình Hưng
(40,20ha), Bình Chánh (238,47ha), Phong Phú (263, 30ha), Thị Trấn Tân Túc
(210,67ha), Bình Lợi (479,21ha).
- Đất rừng phòng hộ là 262,68ha, chiếm 1,54%. Diện tích của đất rừng
phòng hộ phân bố ở xã Lê Minh Xuân (262,68ha).
- Đất rừng đặc dụng là 29,92ha, chiếm 0,17%. Diện tích của đất rừng đặc
dụng phân bổ ở xã Lê Minh Xuân (29,92ha)
- Đất rừng sản xuất là 769,81ha, chiếm 4,52%. Diện tích của đất rừng sản
xuất được phân bổ ở 2 xã: Phạm Văn Hai (474,63ha), Lê Minh Xuân (295,18ha)
- Đất nuôi trồng thủy sản là 1.145,83 ha, chiếm 6,72%. Diện tích của đất
nuôi trồng thủy sản phân bổ ở các xã: An Phú Tây (22,98ha), Tân Quí Tây
(3,37ha), Tân Nhựt (110,51ha), Tân Kiên (45,73ha), Vĩnh Lộc A (6,30ha), Vĩnh
Lộc B (3,10ha), Qui Đức (8,80ha), Hưng Long (22,29ha), Đa Phước (49,53ha),
Phạm Văn Hai (25,23ha), Lê Minh Xuân (2.96ha), Bình Hưng (148,44ha), Bình
Chánh (4,89ha), Phong Phú (479,58ha), Thị trấn Tân Túc (9,41ha), Bình Lợi
(202,71ha).
2.17
2.18
2.19
2.20
2.21
2.22
2.23
Chỉ tiêu sử dung đất
Đất phi nông nghiệp
Đất quốc phòng
Đất an ninh
Đất khu công nghiệp
Đất khu chế xuất
Đất cụm công nghiệp
Đất thương mại, dịch vụ
Đất cơ sở sản xuất phi nông
nghiệp
Đất sử dụng cho hoạt động
khoáng sản
Đất phát triển hạ tầng cấp quốc
gia, cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã
Đất có di tích lịch sử - văn hóa
Đất danh lam thắng cảnh
Đất bãi thải, xử lý chất thải
Đất ở tại nông thôn
Đất ở tại đô thị
Đất xây dựng trụ sở cơ quan
Đất xây dựng trụ sở của tổ
chức sự nghiệp
170,40
29,28
SKS
DHT
2,258,42
DDT
DDL
DRA
ONT
ODT
TSC
1,56
322,03
953,14
1.943,35
63,13
DTS
5,23
DNG
TON
49,50