Giải quyết việc làm cho lao động dân tộc thiểu số ở huyện sìn hồ, tỉnh lai châu - Pdf 54

ĐẠI HỌC THÁ I NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

LÊ VĂN CHIỀU

GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO LAO ĐỘNG
DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở HUYỆN SÌN HỒ,
TỈNH LAI CHÂU

LUẬN VĂN THẠC SĨ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN

THÁI NGUYÊN - 2018


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

LÊ VĂN CHIỀU

GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO LAO ĐỘNG
DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở HUYỆN SÌN HỒ,
TỈNH LAI CHÂU
Ngành: Phát triển Nông thôn
Mã số ngành: 8 62 01 16

LUẬN VĂN THẠC SĨ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN

Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Thị Yến

THÁI NGUYÊN - 2018


đã giúp đỡ, tạo điều kiện và cung cấp những số liệu, tài liệu cần thiết để
nghiên cứu và hoàn thành Luận văn này.
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS. Nguyễn Thị Yến đã
dành nhiều thời gian tâm huyết, trực tiếp hướng dẫn tận tình, chỉ bảo và tạo
điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình thực hiện nghiên cứu đề tài và
hoàn chỉnh bản Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Phát triển Nông thôn.
Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn gia đình và bạn bè đã động viên,
khích lệ, sẻ chia, giúp đỡ và đồng hành cùng tôi trong cuộc sống cũng như
trong quá trình học tập, nghiên cứu./.
Thái Nguyên, ngày

tháng

Tác giả luận văn

Lê Văn Chiều

năm 2018


3

MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN ........................................................................................................................i
LỜI CẢM ƠN ...............................................................................................................................ii
DANH

MỤC

CHỮ

1.2.2. Kinh nghiệm giải quyết việc làm cho lao động nông thôn ở
Việt Nam ..............................................................................................................19
1.2.3. Bài học kinh nghiệm giải quyết việc làm của huyện Sìn Hồ,
tỉnh lai Châu ........................................................................................................23
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG
PHÁP NGHIÊN CỨU................................................................................... 25
2.1. Đối tượng, phạm vi và nội dung nghiên cứu ........................................ 25


4

2.1.1. Đối tượng nghiên cứu ..................................................................... 25
2.1.2. Phạm vi nghiên cứu ........................................................................ 25
2.2. Nội dung nghiên cứu ............................................................................. 26
2.3. Phương pháp nghiên cứu ...................................................................... 26
2.3.1 Phương pháp tiếp cận....................................................................... 26
2.3.2. Phương pháp thu thập thông tin ...................................................... 28
2.4.3. Các phương pháp phân tích ............................................................ 29
2.4.4. Hệ thống chỉ tiêu phân tích ............................................................. 29
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN ............................... 34
3.1. Đặc điểm điều kiện tự nhiên và KTXH của huyện Sìn Hồ .................. 34
3.1.1. Đặc điểm tự nhiên ........................................................................... 34
3.1.2. Điều kiện kinh tế xã hội huyện Sìn Hồ ........................................... 39
3.2. Thực trạng việc làm lao động dân tộc thiểu số ở huyện Sìn Hồ, tỉnh
Lai Châu ....................................................................................................... 49
3.2.1. Các hoạt động tạo thu nhập của dân tộc thiểu số huyện Sìn Hồ ... 49
3.2.2. Thực trạng lao động DTTS ở Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu. .................... 49
3.2.3. Chất lượng lao động của đồng bào dân tộc thiểu số ở huyện Sìn
Hồ, tỉnh Lai Châu...................................................................................... 52
3.2.4. Chính sách giải quyết việc làm đã và đang triển khai tại

ch


6

DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1. Hiện trạng sử dụng đất huyện Sìn Hồ năm 2015-2017 .................. 35
Bảng 3.2. Tình hình dân số và cơ cấu lao động huyện Sìn Hồ năm 2015-2017
......................................................................................................................... 39
Bảng 3.3. Giá trị sản xuất năm 2015 - 2017 huyện Sìn Hồ ............................ 45
Bảng 3.4. Bảng tổng hợp số liệu đàn vật nuôi huyện Sìn Hồ 2015-2017.......46
Bảng 3.5. Phân bổ cơ cấu lao động DTTS theo các ngành............................. 49
Bảng 3.6. Lao động DTTS phân theo giới tính năm 2018............................. 50
Bảng 3.7. Mức độ tiếp cận các nguồn thông tin của lao động DTTS. ............ 51
Bảng 3.8. Thời gian lao động phân theo ngành .............................................. 51
Bảng 3.9. Trình độ văn hoá của người LĐ DTTS năm 2018 ......................... 52
Bảng 3.10. Kết quả giải quyết việc làm cho lao động DTTS huyện Sìn Hồ
giai đoạn 2015 -2017....................................................................................... 58


1

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đối với tất cả các quốc gia trong đó có Việt Nam, để thực hiện mục
tiêu phát triển bền vững thì vấn đề việc làm luôn là một trong những quan tâm
hàng đầu. Việc làm không chỉ là vấn đề kinh tế mà còn là vấn đề xã hội, có
tính chất toàn cầu. Giải quyết việc làm đang là vấn đề cấp thiết của xã hội
nhưng cũng là yếu tố quyết định để phát huy nhân tố con người, ổn định và
phát triển kinh tế, lành mạnh xã hội, đáp ứng nguyện vọng chính đáng và yêu

vị trí chiến lược, quan trọng về bảo đảm quốc phòng an ninh và bảo vệ vững
chắc chủ quyền biên giới quốc gia. (Nguồn: WWW.Sokhdt.laichau.gov.vn
Giấy cấp phép số 465/GP-STTTT do sở Thông tin và Truyền thông tỉnh Lai
Châu cấp ngày 19/6/2014).
Nhận thức được tầm quan trọng của việc phát triển KTXH ở các địa
phương vùng biên giới để đảm bảo ổn định về kinh tế, giữ vững an ninh quốc
phòng của Quốc Gia, trong những năm qua, Đảng và nhà nước có nhiều chính
sách đầu tư nhằm phát triển toàn diện kinh tế, văn hóa xã hội, nhưng kinh tế
của vùng đồng bào dân tộc thiểu số gần biên giới vẫn gặp nhiều khó khăn.
Trong đó có nhiều nguyên nhân như: thiếu đất sản xuất; thiếu nước sản xuất
và sinh hoạt; thiếu vốn, thiếu kỹ thuật sản xuất…Những nguyên nhân này làm
cho người dân tộc thiểu số vùng biên giới tiếp giáp với Trung Quốc đã vượt
biên giới đi làm thuê hoặc di cư tới vùng khác nhằm tìm kiếm việc làm.
Để có cái nhìn về thực trạng thiếu việc làm và sinh kế của hộ dân tộc
thiểu số ở vùng cao biên giới phía Tây Bắc, em lựa chọn địa bàn huyện Sìn
Hồ, tỉnh Lai Châu, là nơi có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số đang sinh sống.
Với tầm quan trọng của việc giải quyết thiếu việc làm cho người lao động cả
nước nói chung và lao động dân tộc thiểu số nói riêng, tôi chọn đề tài “Giải
quyết việc làm cho lao động dân tộc thiểu số ở huyện Sìn Hồ - tỉnh Lai
Châu” nhằm giải quyết việc làm cho lao động dân tộc thiểu số hiện nay ở
huyện Sìn Hồ góp phần phát triển kinh tế xã hội của địa phương.


3

2. Mục tiêu nghiên cứu
2.1. Mục tiêu chung:
Đánh giá, phân tích thực trạng các giải pháp giải quyết việc làm cho lao
động DTTS huyện Sìn Hồ giai đoạn 2015-2017, trên cơ sở đó đề xuất các gải
pháp việc làm giai đoạn 2020-2025.

1.1.1. Một số khái niệm
1.1.1.1. Khái niệm việc làm
Quan niệm về việc làm không phải là bất biến, cố định mà có sự thay
đổi. Nó luôn được xem xét trên nền tảng của một chế độ chính trị, gắn với
trình độ phát triển kinh tế, chính trị, văn hoá xã hội của mỗi quốc gia, mỗi
thời đại. Khi trình độ phát triển mọi mặt, đặc biệt là định hướng chính trị của
một quốc gia thay đổi, quan niệm việc làm cũng biến đổi. Ở những thời kỳ
khác nhau quan niệm về việc làm cũng có sự khác nhau nhất định.
Tại Hội nghị quốc tế lần thứ 13 năm 1983, Tổ chức Lao động quốc tế
(ILO) đã đưa ra quan niệm về người có việc làm như sau: “Người có việc làm
là những người làm một việc gì đó, có được trả tiền công, lợi nhuận hoặc
được thanh toán bằng hiện vật hoặc những người tham gia vào các hoạt động
mang tính chất tự tạo việc làm vì lợi ích hay vì thu nhập gia đình, không nhận
được tiền công hay hiện vật”.
Từ khi thực hiện đường lối đổi mới, quan niệm về việc làm đã có sự
thay đổi. Trên cơ sở vận dụng khái niệm việc làm của ILO và nghiên cứu điều
kiện cụ thể của Việt Nam, chúng ta đã có khái niệm thống nhất về việc làm
theo quy định tại điều 9. Bộ luật lao động 2012 thì khái niệm về việc làm
được cụ thể như sau: “Việc làm là hoạt động tạo ra thu nhập mà không bị
pháp luật cấm”.
Từ những quan niệm trên ta thấy: Khái niệm việc làm bao hàm các nội
dung sau:
+ Là hoạt động lao động của con người.
+ Hoạt động lao động nhằm mục đích tạo ra thu nhập.
+ Hoạt động lao động đó không bị pháp luật cấm.


Với khái niệm việc làm như trên đã xoá bỏ được quan niệm cứng nhắc
trước đây là chỉ những người "trong biên chế nhà nước" mới là người có việc
làm. Việc làm không chỉ trong biên chế, mà còn ngoài biên chế, không chỉ

làm việc và sắp xếp người lao động phù hợp với chỗ làm việc để có các việc
làm chất lượng, đảm bảo nhu cầu của cả người lao động và người sử dụng lao
động đồng thời phải đáp ứng được mục tiêu phát triển đất nước” “Tạo việc
làm cho người lao động là đưa người lao động vào làm việc để tạo ra trạng
thái phù hợp giữa sức lao động và tư liệu sản xuất, tạo ra hàng hóa và dịch vụ
theo yêu cầu của thị trường”. Nguồn theo PGS.TS Trần Xuân Cầu (2013),
giáo trình kinh tế nguồn nhân lực, Nhà Xuất bản Đại học Kinh tế quốc dân.
* Người có việc làm: là người đủ 15 tuổi trở lên đang làm việc trong
các ngành kinh tế quốc dân, với thời gian làm việc không ít hơn mức chuẩn
quy định cho người có việc làm trong tuần lễ tham khảo. Mức chuẩn ở Việt
Nam: Làm việc ít nhất 16 giờ trong một tuần.
* Người thiếu việc làm: Theo Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) thì
người thiếu việc làm là người trong tuần lễ tham khảo có số giờ làm việc dưới
mức quy định chuẩn cho người có đủ việc làm và có nhu cầu làm thêm.
Ở Việt Nam hiện nay, mức chuẩn về thời gian làm việc cho người thiếu
việc làm là làm việc dưới 40 giờ (5 công) trong tuần lễ tham khảo hoặc trong
tuần lễ tham khảo không làm việc vì lý do bất khả kháng, nhưng 4 tuần trước
đó làm việc dưới 160 giờ (20 công) và có nhu cầu làm thêm.
* Người đủ việc làm: Là những người có việc làm với thời gian làm
việc không ít hơn mức giờ chuẩn quy định cho người đủ việc làm trong tuần
lễ tham khảo hoặc là những người làm việc dưới giờ chuẩn quy định cho
người đủ việc làm, nhưng không có nhu cầu làm thêm.
* Thất nghiệp: Đối lập với việc làm, thất nghiệp là một tình trạng có
tính quy luật của các nền kinh tế thị trường. Có nhiều khái niệm khác nhau về
thất nghiệp. Theo quan niệm của ILO: "Thất nghiệp là tình trạng tồn tại khi


một số người trong lực lượng lao động muốn làm việc, nhưng không thể tìm
được việc làm ở mức tiền công đang thịnh hành" .
1.1.1.2. Khái niệm dân số

Kinh tế chính trị Mác- Lê Nin, 1992)
Bộ Luật Lao động của nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam
viết: "Lao động là hoạt động quan trọng nhất của con người, tạo ra của
cải vật chất và các giá trị tinh thần của xã hội"
Hai khái niệm sau cơ bản giống nhau và khái quát được một cách toàn
diện các hoạt động lao động phong phú của con người.
Hoạt động lao động của con người có vai trò hết sức quan trọng. Trong
lao động sản xuất ra của cải vật chất, con người luôn tác động vào các vật
chất của tự nhiên, biến đổi nó cho phù hợp với nhu cầu của con người. Trong
quá trình đó, con người ngày càng phát hiện được những đặc tính, những quy
luật của thế giới tự nhiên, từ đó họ cũng không ngừng thay đổi phương pháp,
cách thức hoạt động của họ, cải tiến các thao tác và công cụ lao động sao cho
hoạt động của họ ngày càng hiệu quả hơn. Như vậy, con người và tự nhiên có
mối quan hệ biện chứng hữu cơ với nhau trong quá trình con người phát triển
hướng tới một xã hội văn minh và hiện đại. Trong lao động con người không
chỉ nâng cao được trình độ hiểu biết về thế giới tự nhiên mà còn cả những
kiến thức về xã hội và nhân cách đạo đức. Lao động là điều kiện tiên quyết
cho sự tồn tại và phát triển xã hội.
1.1.1.4. Khái niệm nguồn lao động và lực lượng lao động
Nguồn lao động và lực lượng lao động là những khái niệm có ý nghĩa
quan trọng làm cơ sở cho việc tính toán cân đối lao động, việc làm trong xã
hội.
* Khái niệm nguồn lao động: Nguồn lao động là bộ phận dân cư gồm
những người trong độ tuổi lao động theo quy định của pháp luật có khả năng
lao động (không kể những người mất khả năng lao động) có nguyện vọng


tham gia lao động và những người ngoài độ tuổi lao động (trên độ tuổi lao
động) ở nước ta độ tưởi lao động là tròn 15 tuổi.
Việc quy định độ tuổi lao động tuỳ mỗi nước có quy định khác nhau,

thủ đô Cô - pen - ha - ghen Đan Mạch vào tháng 3/1995.
Giải quyết việc làm cho người lao động được hiểu là tổng thể các quá
trình tạo ra điều kiện và môi trường bảo đảm cho mọi người có khả năng lao
động có cơ hội làm việc với chất lượng việc làm và thu nhập ngày càng cao.
Quan niệm này cho thấy, giải quyết việc làm chính là để khai thác triệt
để tiềm năng của người lao động, nhằm đạt được việc làm hợp lý và việc làm
có hiệu quả. Vì vậy, nghiên cứu để đề ra các chính sách giải quyết việc làm
phù hợp có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với người lao động ở chỗ: tạo cơ
hội cho họ thực hiện được quyền và nghĩa vụ của mình, trong đó có quyền cơ
bản nhất là quyền được làm việc để tạo ra thu nhập nuôi sống bản thân và gia
đình, góp phần vào xây dựng quê hương đất nước.
* Người được giải quyết việc làm: là những người trong độ tuổi lao
động mà trong 12 tháng qua kể từ thời điểm điều tra đã ký được hợp đồng lao
động theo Bộ luật Lao động và những người tự tạo việc làm. Giải quyết việc
làm là một trong những vấn đề quan trọng cần phải giải quyết của mỗi quốc
gia.
* Chính sách việc làm: là một hệ thống các chính sách chung có quan hệ
và tác động đến việc mở rộng và phát triển việc làm cho lực lượng lao động
của toàn xã hội, như các chính sách: Khuyến khích phát triển các lĩnh vực,
những ngành nghề có khả năng thu hút nhiều lao động; chính sách tạo việc làm
cho những đối tượng đặc biệt (người tàn tật, đối tượng tệ nạn xã hội, người hồi
hương... ); chính sách hợp tác và xuất khẩu lao động đi nước ngoài...
Chính sách việc làm tác động đến một vấn đề nhạy cảm, vừa có ý nghĩa
về mặt kinh tế, vừa có ý nghĩa về mặt chính trị và xã hội. Việc hoạch định và
thực hiện không tốt chính sách việc làm sẽ dẫn đến những hậu quả, những
thiệt


hại trực tiếp cả về kinh tế (không sử dụng hết tiềm năng lao động để phát triển
kinh tế xã hội) và cả về chính trị, xã hội cho đất nước (Ví dụ: Thất nghiệp tăng


1.1.2. Vai trò của các hộ dân tộc thiểu số trong phát triển kinh tế xã hội
vùng cao, vùng biên giới
Vai trò của phát triển kinh tế hộ nông dân Trong thời kỳ chiến tranh, hộ
gia đình Việt Nam vừa cung cấp nguồn nhân lực, vừa là nguồn của cải vật
chất (chưa nói tới tinh thần) cho cuộc chiến, đồng thời lại là nơi sản xuất vật
chất để bảo đảm cuộc sống không những cho gia đình (chỉ với 5% quỹ đất
canh tác được chia cho các hộ gia đình làm kinh tế vườn theo lối tự túc, tự
cấp), mà còn đóng vai trò là hậu phương lớn miền Bắc cho tiền tuyến lớn
miền Nam (trên cơ sở phát triển hợp tác xã theo kiểu cũ). Tiếp theo đó, Nghị
quyết 10, ngày 05 - 04 - 1988 của Bộ Chính trị về đổi mới quản lý nông
nghiệp đã tạo cơ sở quan trọng để kinh tế hộ nông dân trở thành đơn vị kinh
tế tự chủ trong nông nghiệp. Đối với khu vực nông, lâm trường, nhờ có Nghị
định số 12/NĐ- CP, ngày 03-2-1993 về sắp xếp tổ chức và đổi mới cơ chế
quản lý các doanh nghiệp nông nghiệp nhà nước, các nông, lâm trường đã
từng bước tách chức năng quản lý nhà nước đối với với quản lý sản xuất, kinh
doanh, các gia đình nông, lâm trường viên cũng được nhận đất khoán và hoạt
động dưới hình thức kinh tế hộ. Tuy những đặc điểm truyền thống của kinh tế
hộ vẫn không thay đổi, nhưng việc được giao quyền sử dụng đất lâu dài đã
làm cho hộ gia đình trở thành đơn vị sản xuất, kinh doanh tự chủ, tự quản.
1.1.3. Vai trò của đất sản xuất đối với hộ dân tộc thiểu số
Đồng bào sống chủ yếu dựa vào nông, lâm và ngư nghiệp. Nguồn thu
nhập phi nông nghiệp rất hạn chế, vì thế đất canh tác có ý nghĩa vô cùng quan
trọng đối với họ.
Những năm qua từ nhiều nguồn quỹ, đất Chính phủ và các địa phương
đã giải quyết đất ở và đất sản xuất cho các hộ đồng bào, Hàng trăm dự án, đề
án của UBND các tỉnh đã được ban hành, nhằm hỗ trợ đất ở, đất sản xuất cho
đồng bào dân tộc thiểu số nghèo. Các chương trình và chính sách trên đã góp
phần ổn định cuộc sống, ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội và xóa đói,



Giai đoạn 2005- 2015, quy mô lực lượng lao động tăng mạnh, từ 39,3
triệu người năm 2005 lên 50,5 triệu người năm 2015, tốc độ tăng bình quân
2,6%/năm, bằng 2 lần tốc độ tăng dân số.
Xét về giới tính, tỷ lệ tham gia lực lượng lao động cả nam và nữ đều có
xu hướng tăng, tuy nhiên tốc độ tăng của nam cao hơn của nữ. Điều này nói
lên chính sách việc làm cần phải chú ý đối với nữ giới.
Số việc làm ở nước ta thời gian qua nhìn chung tăng tương đối
cao. Trước năm 2008, số việc làm gia tăng hàng năm bình quân đạt từ 1,011,16 triệu việc làm/năm. Năm 2008, khủng hoảng kinh tế đã làm cho số việc
làm gia tăng chậm lại, cả nước chỉ tăng thêm 882.000 việc làm. Trong bối cảnh
suy thoái kinh tế toàn cầu năm 2009, dù tăng trưởng kinh tế của Việt Nam năm
2009 không cao so với các năm trước đó nhưng nền kinh tế vẫn tạo thêm được
nhiều việc làm cho người lao động.
Tổng số việc làm tăng lên, việc làm trong ngành công nghiệp và dịch
vụ tăng nhanh hơn ngành nông nghiệp. Điều này phù hợp với quá trình công
nghiệp hóa, hiện đại hóa. Lao động đang làm việc chia theo nghề nghiệp cũng
có những thay đổi nhất định.
Dịch chuyển cơ cấu việc làm không những chỉ diễn ra về số lượng mà
còn về chất lượng. Trong khi lao động đang làm việc theo một số ngành nghề
(như các nhà lãnh đạo trong các ngành, các cấp và các đon vị; chuyên môn kỹ
thuật bậc cao; nhân viên gồm chuyên môn sơ cấp, kỹ thuật làm việc tại văn
phòng, bàn giấy) dịch chuyển không đáng kể, thì ở một số ngành nghề (như
nhân viên dịch vụ cá nhân, bảo vệ trật tự an toàn xã hội và bán hàng có kỹ
thuật; lao động có kỹ thuật trong nông, lâm nghiệp và thủy sản) tăng đáng kể,
nhất là trong hai năm 2009 và 2010.
Lao động phổ thông giảm cả tương đối và tuyệt đối. Năm 2007, cả
nước có trên 28.122 nghìn lao động làm các nghề giản đơn, chiếm 61,7%.
Năm 2010, giảm xuống còn 19.444 nghìn người, chiếm 39,5% tổng số lao



Tổ chức Lao động quốc tế cho rằng, nhìn vào nhóm dân số có việc làm,
có thể nhận thấy một số xu hướng quan trọng, Việt Nam mặc dù đã có một số
thành phố lớn, vẫn là một nước nặng về nông nghiệp, nông thôn, do đó, nông
nghiệp vẫn là ngành kinh tế quan trọng nhất và lao động ở ngành nông nghiệp
vẫn chiếm tỷ trọng việc làm lớn nhất.
Theo số liệu điều tra của ILO, năm 2007 có 23,8 triệu người có việc
làm trong ngành này, chiếm khoảng 52% tổng số người có việc làm. So với
những năm trước, lao động nông nghiệp đã có xu hướng giảm, tuy nhiên tính
chất nông thôn và sự phụ thuộc nặng nề vào nông nghiệp phản ánh thị trường
lao động Việt Nam vẫn đứng trước nguy cơ thiếu việc làm bền vững.
Lý giải thực trạng trên, một chuyên gia của Bộ Lao động – Thương
binh và Xã hội cho rằng, ở nông thôn, tỷ lệ lao động thiếu việc làm luôn ở
mức cao, vì việc nhà nông thường theo thời vụ. Cụ thể, theo điều tra của Bộ
này, năm 2008, tỷ lệ lao động thiếu việc làm ở nông thôn là 6,1%, trong khi
mức này ở thành thị chỉ chiếm 2,3%.
Báo cáo “Xu hướng việc làm” của ILO cũng cho thấy, các ngành nghề
tiếp theo chiếm tỷ lệ lao động lớn bao gồm, ngành công nghiệp chế biến với
khoảng 12%. Ngành này đóng vai trò lớn đối với thị trường lao động khi cung
cấp việc làm cho 5,6 triệu người (năm 2007), tăng hơn 2 triệu so với cuối
những năm 90.
Đứng thứ ba là ngành thương nghiệp (bao gồm cả sửa chữa xe có
động cơ) thu hút 4,8 triệu lao động, chiếm gần 11% . Với 2,6 triệu lao
động, ngành xây dựng cũng là một trong những ngành có n hiều lao động,
chiếm khoảng 6%.
Ngoài ra, báo cáo của ILO còn phản ánh một thực trạng dẫn đến việc
thiếu việc làm hiệu quả do nhóm lao động giản đơn hiện vẫn chiếm tỷ lệ lớn
nhất. Năm 2007, nhóm lao động giản đơn là 28,1 triệu người, chiếm 62% tổng
số người có việc làm. Trong đó, nam giới chiếm 58% tổng số nam giới có



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status