BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
---------------
LUẬN VĂN THẠC SỸ
PHÁP LUẬT VỀ TỐ CÁO TRONG LĨNH VỰC ĐẤT ĐAI
TỪ THỰC TIỄN TỈNH BẮC GIANG
THÂN VĂN LỢI
Chuyên ngành: LUẬT KINH TẾ
Mã ngành: 8380107
Người hướng dẫn khoa học: TS. NGUYỄN VĂN CƯƠNG
HÀ NỘI - NĂM 2018
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn thạc sỹ: Pháp luật về tố cáo trong lĩnh vực
đất đai từ thực tiễn tỉnh Bắc Giang , được thực hiện dưới sự hướng dẫn của TS.
Nguyễn Văn Cương, là công trình nghiên cứu của riêng tôi tự nghiên cứu khảo sát
và thực hiện. Các dữ liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực, chính
xác, các tài liệu trích dẫn có nguồn gốc rõ ràng. Kết quả nghiên cứu chưa từng được
công bố dưới bất kì hình thức nào./.
HỌC VIÊN
Thân Văn Lợi
LỜI CẢM ƠN
1.2.2. Nội dung của pháp luật về tố cáo trong lĩnh vực đất đai.......................22
Kết luận Chương 1................................................................................................28
Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH PHÁP LUẬT
VỀ TỐ CÁO TRONG LĨNH VỰC ĐẤT ĐAI TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẮC GIANG.....30
2.1. Qui định của pháp luật về giải quyết tố cáo trong lĩnh vực đất đai............30
2.1.1. Quyền và nghĩa vụ của người tố cáo, người bị tố cáo và người giải quyết
tố cáo............................................................................................................... 30
2.1.2. Điều kiện thụ lý đơn tố cáo trong lĩnh vực đất đai................................33
2.1.3. Thẩm quyền giải quyết tố cáo trong lĩnh vực đất đai.............................34
2.1.4. Qui trình giải quyết tố cáo trong lĩnh vực đất đai..................................35
2.2. Khái quát chung về đất đai và quản lý nhà nước trong lĩnh vực đất đai
trên địa bàn tỉnh Bắc Giang..................................................................................41
2.1.1. Đặc điểm tự nhiên và hoạt động quản lý nhà nước trong lĩnh vực đất đai
trên địa bàn tỉnh Bắc Giang.............................................................................41
2.3. Thực tiễn thực hiện pháp luật tố cáo và giải quyết tố cáo trong lĩnh vực đất đai
trên địa bàn tỉnh Bắc Giang....................................................................................46
2.3.1. Tình hình tố cáo về đất đai trên địa bàn tỉnh Bắc Giang........................46
2.3.2. Tình hình thực hiện pháp luật tố cáo về đất đai trên địa bàn tỉnh Bắc Giang.....49
2.3.3. Đánh giá kết quả giải quyết tố cáo về đất đai trên địa bàn tỉnh Bắc Giang.....51
Kết luận Chương 2.................................................................................................56
Chương 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ NÂNG CAO HIỆU
QUẢ THỰC THI PHÁP LUẬT VỀ TỐ CÁO TRONG LĨNH VỰC ĐẤT ĐAI
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẮC GIANG..................................................................57
3.1. Quan điểm hoàn thiện pháp luật về tố cáo trong lĩnh vực đất đai..............57
3.1.1. Bám sát và quán triệt sâu sắc chủ trương, đường lối, chính sách của
Đảng trong việc hoàn thiện pháp luật tố cáo và pháp luật đất đai...................57
3.1.2. Giải quyết tố cáo trong lĩnh vực đất đai phải đáp ứng yêu cầu phát triển
kinh tế xã hội và bảo vệ quyền công dân........................................................58
đai đã từng bước được hoàn thiện, cơ bản đáp ứng yêu cầu công tác quản lý
nhà nước về đất đai trong các thời kỳ, phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế,
xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh và tạo điều kiện thuận lợi cho cá nhân,
hộ gia đình, cơ quan, tổ chức trong quản lý, sử dụng đất đai. Vì vậy, quản lý
nhà nước bằng pháp luật về đất đai ngày càng hoàn thiện đã đạt được những
tiến bộ rõ rệt, hệ thống quản lý về đất đai được tăng cường, từng bước phân
cấp và phát huy tính tự chủ của địa phương.
Bên cạnh những thành tựu đã đạt được, tình hình quản lý và sử dụng
đất đai hiện nay đang có những yếu kém như vấn đề quy hoạch, kế hoạch sử
dụng đất chưa có tính chiến lược lâu dài và ổn định hoặc thiếu tính khả thi; cơ
chế quản lý về đất đai thiếu tính hiệu quả; cơ quan quản lý đất đai các cấp
nhìn chung còn nhiều yếu kém. Chính vì thế, tình trạng tranh chấp, khiếu nại,
tố cáo về quản lý và sử dụng đất đai có xu hướng diễn biến phức tạp. Việc giải
quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo còn chưa kịp thời, thiếu hiệu quả. Đây là
một trong những nguyên nhân dẫn đến ngày càng có nhiều vụ tranh chấp, tố
cáo liên quan đến đất đai trên toàn quốc. Theo số liệu thống kê, trong tổng số
1
các vụ tố cáo được các cơ quan chức năng thụ lý, giải quyết trên cả nước có
đến 70% số vụ việc liên quan đến đất đai
Khiếu nại, tố cáo là quyền cơ bản của công dân được ghi nhận tại Hiến
pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 “Mọi người có
quyền khiếu nại, tố cáo với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền về
những việc làm trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân” [24, Điều
30]. Đây là hiện tượng phát sinh trong đời sống xã hội như là một phản ứng
của con người trước một quyết định, một hành vi nào đó mà người khiếu nại,
tố cáo cho rằng quyết định hay hành vi đó là không phù hợp với các quy tắc,
chuẩn mực trong đời sống cộng đồng, xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp
pháp của mình.
sỹ luật học của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Pháp luật về khiếu nại, tố cáo nói chung và pháp luật về khiếu nại, tố
cáo trong lĩnh vực đất đai nói riêng cũng đã thu hút được sự quan tâm của
nhiều nhà khoa học pháp lý và các cấp chính quyền. Thời gian qua đã có các
công trình nghiên cứu, sách báo pháp lý và các bài viết liên quan đến vấn đề
này dưới góc độ lý luận và thực tiễn. Tiêu biểu có thể kể đến như:
Một số sách chuyên khảo của PGS.TS. Doãn Hồng Nhung: “Kỹ năng
áp dụng pháp luật trong giải quyết tranh chấp đất đai ở Việt Nam” (2014);
“Pháp luật về thanh tra và xử lý vi phạm pháp luật đất đai ở Việt Nam”
(2013); Sách chuyên khảo của Viện khoa học thanh tra, Thanh tra Chính phủ,
“Khiếu nại, tố cáo hành chính và giải quyết khiếu nại, tố cáo hành chính ở
Việt Nam hiện nay” (2012);
Một số luận văn thạc sỹ luật học có đề cập tới pháp luật tố cáo như:
Luận văn của Trần Ngân Hà: “Pháp luật về giải quyết khiếu nại tố cáo ở Việt
Nam” (2013), Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội; Luật văn của Nguyễn
Thị Hồng Thơm: “Hiệu quả hoạt động giải quyết khiếu nại, tố cáo của các cơ
3
quan hành chính nhà nước ở Ninh Bình hiện nay” (2010), Khoa Luật, Đại học
Quốc gia Hà Nội; Luật văn của Phạm Anh Tuấn: “Cơ chế giải quyết khiếu nại
hành chính ở Việt Nam hiện nay và vấn đề hoàn thiện” (2011), Khoa Luật,
Đại học Quốc gia Hà Nội;
Một số bài viết được các tác giả công bố như: “Giải quyết khiếu nại, tố cáo
phải biến nhận thức thành hành động” trên trang www.thanhtra.gov.vn; “Cần đổi
mới mô hình giải quyết khiếu nại, tố cáo” trên trang www.thanhtravietnam.vn;
“Giải quyết khiếu nại, tố cáo luôn đòi hỏi sự vào cuộc mạnh mẽ của cả hệ thống
chính trị” trên trang www.noichinh.com; “Khiếu nại,tố cáo về lĩnh vực đất đai vẫn
cáo được quy định tại Luật Tố cáo năm 2011, Luật Đất đai năm 2013 và tình
hình thực hiện pháp luật về tố cáo trong lĩnh vực đất đai trong những năm gần
đây của tỉnh Bắc Giang.
4. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của
chủ nghĩa Mác - Lê nin, luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể
như: phân tích - tổng hợp, logic, so sánh, khảo sát, thống kê trong quá trình
giải quyết các vấn đề đặt ra của đề tài.
5. Ý nghĩa lý luận, thực tiễn của đề tài
Luận văn là nguồn tư liệu tổng hợp các quy định pháp luật về giải quyết
tố cáo trong lĩnh vực đất đai từ thực tiễn tại tỉnh Bắc Giang, cung cấp thêm
các luận cứ khoa học trong công tác giải quyết tố cáo về đất đai trên địa bàn
tỉnh Bắc Giang trong thời gian tới.
Các đề xuất tại Luận văn có thể là những gợi ý để tiếp tục hoàn thiện hệ
thống pháp luật về tố cáo, giải quyết tố cáo trong lĩnh vực đất đai, đồng thời,
góp phần nâng cao nhận thức, ý thức trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá
nhân trong thực hiện quyền tố cáo và giải quyết tố cáo.
5
6. Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn
gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về tố cáo và pháp luật về tố cáo trong
lĩnh vực đất đai;
Chương 2: Thực trạng pháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật về tố
cáo trong lĩnh vực đất đai trên địa bàn tỉnh Bắc Giang;
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực
thi pháp luật về tố cáo trong lĩnh vực đất đai trên địa bàn tỉnh Bắc Giang.
một trong những kênh thông tin phản hồi hữu hiệu để Nhà nước kịp thời phát
hiện, ngăn chặn và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật [11, tr.158]. Cách hiểu
7
này cũng sát với định nghĩa về tố cáo trong Luật Khiếu nại, Tố cáo năm 1998
và Khoản 1 Điều 2 Luật Tố cáo hiện hành năm 2011.
Về bản chất, tố cáo là việc các chủ thể báo cho cơ quan chức năng biết
về một hành vi có thể gây thiệt hại tới các quyền lợi ích hợp pháp của mình
và các chủ thể khác. Do đó, tố cáo có thể góp phần ngăn chặc các hậu quả có
thể xảy ra, đồng thời bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của họ. Phạm vi của tố
cáo nên được khuyến khích và mở rộng, bởi việc đưa các hành vi xấu ra
trước pháp luật trước tiên sẽ giúp các chủ thể bị xâm hại quyền lợi lấy lại
được những gì mình đã bị mất, đồng thời trừng trị những chủ thể gây ra
những hậu quả đó. Đây cũng chính là nền tảng để xây dựng một xã hội tốt
đẹp và công bằng.
Trên cơ sở các quan điểm và định nghĩa pháp lý về tố cáo, theo tác giả
khái niệm “tố cáo trong lĩnh vực đất đai” có thể được hiểu như sau: “Tố
cáo trong lĩnh vực đất đai là việc công dân báo cho cơ quan, tổ chức, cá
nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật về quản lý và sử
dụng đất đai của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe
dọa gây thiệt hại lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công
dân, cơ quan, tổ chức”.
1.1.1.2. Đặc điểm của tố cáo
Một là, về chủ thể có quyền tố cáo:
Chủ thể có quyền tố cáo là cá nhân công dân vì tố cáo làm phát sinh
những hậu quả pháp lý và trách nhiệm pháp lý gắn với cá nhân công dân khi
tố cáo.
Hai là, về đối tượng của tố cáo:
Đối tượng của tố cáo là hành vi vi phạm pháp luật của bất cứ cơ quan,
phân biệt tính chất, mức độ vi phạm pháp luật có thể cấu
phạm. Có thể nói, khái niệm thành tội phạm đã được quy
tố cáo rộng hơn và cơ bản đã định trong Bộ luật Hình sự.
bao hàm cả khái niệm tố giác Tố giác tội phạm vừa là
tội phạm theo Bộ luật Tố tụng quyền, vừa là nghĩa vụ của
hình sự;
công dân. Công dân bắt buộc
Tố cáo là quyền của công phải tố giác nếu đã biết rõ về
dân. Công
dân
có
quyền một tội phạm đang chuẩn bị
quyết định việc mình sẽ tố hoặc đã được thực hiện và
cáo hay không một hành vi vi có thể bị truy cứu trách
9
nhiệm
hình
sự
về nội dung tố cáo của mình, việc vi phạm pháp luật bằng
trường hợp tố cáo sai sự thật cách báo cho cơ quan Nhà
(vu khống) thì tùy theo mức nước xem xét, làm rõ. Tố
độ có thể bị xử lý về hành giác tội phạm có thể bằng lời
chính hoặc hình sự. Việc tố hoặc bằng văn bản. Hành vi
cáo được thực hiện bằng đơn bị tố giác tội phạm phải
tố cáo hoặc tố cáo trực tiếp.
Đối tượng
được quy định trong Bộ luật
Hình sự.
Đối tượng của tố cáo là hành Đối tượng của tố giác về tội
vi vi phạm pháp luật trong phạm chỉ có hành vi vi phạm
mọi lĩnh vực, không phân biệt pháp luật có thể cấu thành
10
tính chất, mức độ vi phạm.
Thời hạn giải quyết tố cáo là
60 ngày, kể từ ngày thụ lý
giải quyết tố cáo. Đối với vụ
việc phức tạp thì thời hạn giải
quyết là 90 ngày, kể từ ngày
thụ lý giải quyết tố cáo.
Trường hợp cần thiết, người
có thẩm quyền giải quyết tố
tố vụ án hình sự, hoặc tạm
đình chỉ việc giải quyết tố
giác. Nếu sự việc bị tố giác
có nhiều tình tiết phức tạp
hoặc phải xác minh nhiều
nơi, thời hạn giải quyết tố
giác kéo dài không quá 2
tháng, hoặc Viện Kiểm sát
có thể gia hạn một lần
(nhưng cũng không quá 2
tháng).
Tố giác tội phạm trong một
số trường hợp phát sinh quan
hệ pháp lý ngay từ thời điểm
tội phạm có dấu hiệu xảy ra.
Khi công dân biết rõ tội
phạm đang đựơc chuẩn bị,
đang được thực hiện hoặc đã
được thực hiện mà không tố
giác, thì phải chịu trách
nhiệm hình sự về tội không
tố giác tội phạm theo Bộ luật
Hình sự
Nguồn: Tác giả tự tổng hợp
Thứ hai, sự khác biệt giữa tố cáo và khiếu nại
Tiêu chí
Khiếu nại
Cá nhân
Đối tượng của tố cáo rộng hơn rất
nhiều, là hành vi vi phạm pháp luật
của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân
nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt
hại tới lợi ích Nhà nước, quyền và lợi
ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá
nhân. Cá nhân có quyền tố cáo ngay
cả khi hành vi mới đe dọa gây thiệt
hại nên khả năng phòng ngừa, ngăn
chặn và giảm các thiệt hại gây ra là rất
cao.
Là những hành vi nguy hiểm cho xã
hội.
Mức quan tâm của tố cáo rộng hơn
khiếu nại, đối với lợi ích chung của
toàn xã hội. Mục đích của tố cáo
không chỉ nhằm bảo vệ và khôi phục
quyền, lợi ích hợp pháp của người tố
cáo mà còn bảo vệ quyền, lợi ích của
Nhà nước và xã hội.
Chủ thể thực hiện quyền
khiếu nại không phải chịu
Chủ thể thực hiện quyền tố cáo phải
Trách nhiệm
trách nhiệm pháp lý nếu căn chịu trách nhiệm về những thông tin
pháp lý
cứ pháp lý không đầy đủ,
quy định cụ thể trong pháp luật hình sự. Việc xử lý, giải quyết tố cáo tội phạm
được quy định chặt chẽ và thực hiện theo trình tự thủ tục tố tụng hình sự. Hậu
quả pháp lý là chịu trách nhiệm hình sự.” [31, tr.5]
Việc phân loại tố cáo hiện nay dựa trên thực tiễn giải quyết tố cáo. Việc
phân loại đúng các dạng tố cáo nhằm xác định đúng phương thức giải quyết tố
cáo cho phù hợp. Tố cáo thông thường có hai dạng tố cáo hành chính và tố
cáo tội phạm và hai dạng tố cáo này được pháp luật điều chỉnh tùy theo đối
tượng được tố cáo.
13
1.1.2. Giải quyết tố cáo trong lĩnh vực đất đai
1.1.2.1. Quan niệm về giải quyết tố cáo và đặc điểm của giải quyết tố cáo
Theo quy định của Khoản 7 Điều 2 Luật Tố cáo năm 2011, “giải quyết
tố cáo là việc tiếp nhận, xác minh, kết luận về nội dung tố cáo và việc xử lý tố
cáo của người giải quyết tố cáo”.
Giải quyết tố cáo được hiểu là quá trình cơ quan nhà nước có thẩm
quyền tiếp nhận, xử lý thông tin tố cáo, xác minh, kết luận nội dung tố cáo, xử
lý tố cáo của người giải quyết tố cáo và công khai kết luận nội dung tố cáo,
quyết định xử lý hành vi vi phạm bị tố cáo. Theo đó, giải quyết tố cáo có các
đặc điểm chung cơ bản sau:
Thứ nhất, giải quyết tố cáo là hoạt động mang tính quyền lực nhà nước.
Giải quyết tố cáo là trách nhiệm của các cơ quan nhà nước. Việc giải quyết tố
cáo được thực hiện theo những thủ tục nhất định tùy vào tính chất, mức độ
nguy hiểm cho xã hội của hành vi vi phạm. Những hành vi vi phạm ở mức độ
nhẹ thì bị xử lý bằng biện pháp hành chính và sẽ do cơ quan hành chính nhà
nước tiến hành, còn những hành vi vi phạm có tính chất nguy hiểm cho xã hội
được quy định trong Bộ luật hình sự do các cơ quan tiến hành tố tụng thực
hiện theo trình tự, thủ tục được pháp luật về tố tụng quy định.
Thứ hai, giải quyết tố cáo là hoạt động phải tuân theo những hình thức
nhân dân tìm ra giải pháp, không có ép mệnh lệnh.
Ba là, giải quyết tố cáo về đất đai nhằm mục đích phát triển sản xuất,
ổn định và từng bước cải thiện đời sống nhân dân.
Bốn là, giải quyết tố cáo về đất đai một mặt phải tuân thủ quy định của
Luật Tố cáo, mặt khác phải tuân thủ quy định của Luật Đất đai và các văn bản
pháp luật khác có liên quan. Đây là điểm đặc biệt trong giải quyết tố cáo về
đất đai.
1.1.2.3. Các nguyên tắc giải quyết tố cáo trong lĩnh vực đất đai
Luật Tố cáo năm 2011 và Điều 3 Thông tư số 06/2013/TT-CP ngày
30/9/2013 về “Quy trình giải quyết tố cáo” quy định về nguyên tắc giải quyết tố
15
cáo, theo đó:
“1. Việc giải quyết tố cáo phải bảo đảm kịp thời, chính xác, khách quan,
đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục và thời hạn theo quy định của pháp luật; bảo
đảm an toàn cho người tố cáo; bảo vệ lợi ích của Nhà nước, tập thể, quyền và
lợi ích hợp pháp của công dân.
2. Trong phạm vi trách nhiệm của mình, người giải quyết tố cáo, cơ quan,
tổ chức, đơn vị, cá nhân được giao xác minh nội dung tố cáo phải áp dụng các
biện pháp theo thẩm quyền hoặc báo ngay cho cơ quan công an, cơ quan có
thẩm quyền để áp dụng các biện pháp bảo vệ người tố cáo, ngăn chặn kịp thời
hành vi vi phạm pháp luật” [22, Điều 4].
Như vậy, để hoạt động giải quyết tố cáo đạt hiệu quả cần tuân thủ các
nguyên tắc sau đây:
Một là, nguyên tắc đúng pháp luật
Đây là nguyên tắc cơ bản, bao trùm toàn bộ quá trình giải quyết tố cáo.
Nguyên tắc này đòi hỏi hoạt động giải quyết tố cáo phải tuân thủ đúng trình
tự, thủ tục, thẩm quyền mà pháp luật quy định. Không một cơ quan, tổ chức,
cá nhân nào có thể tham dự trái pháp luật vào quá trình và kết quả giải quyết
bôi nhọ danh dự công dân, không đúng sự thật làm ảnh hưởng đến uy tín,
danh dự của người bị tố cáo.
1.1.3. Ý nghĩa của công tác giải quyết tố cáo trong lĩnh vực đất đai
Tố cáo là quyền chính trị - pháp lý cơ bản của công dân, gắn liền với
các quyền tự do khác của công dân trong tổng hòa quyền và nghĩa vụ của
công dân. Vì vậy, thực hiện quyền tố cáo và giải quyết tố cáo của công dân là
hoạt động đảm bảo quyền làm chủ của công dân, góp phần mở rộng nền dân
chủ xã hội chủ nghĩa và bảo đảm pháp chế.
Hoạt động tố cáo khẳng định mối quan hệ giữa nhà nước và nhân dân
trong quản lý nhà nước, đặc biệt là trong quản lý nguồn tài nguyên đất đai.
Khiếu nại, tố cáo nói chung và tố cáo trong lĩnh vực đất đai nói riêng hiện nay
17
đang là vấn đề “nóng” trong xã hội. Nếu không giải quyết nhanh chóng, kịp
thời và dứt điểm các khiếu kiện, tố cáo về đất đai sẽ gây hậu quả nghiêm
trọng đến tình hình kinh tế - xã hội nói chung của cả nước, của từng địa
phương, từng dự án nói riêng.
Giải quyết tố cáo về đất đai góp phần phát hiện, ngăn chặn và xử lý kịp
thời những hành vi tham nhũng, sai phạm trong quản lý nhà nước về đất đai.
Thông qua quá trình giải quyết đó, những hành vi tham nhũng, lãng phí, vi
phạm pháp luật được làm sáng tỏ, trong sạch bộ máy quản lý nhà nước về đất
đai đồng thời củng cố lòng tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước.
Giải quyết tố cáo về đất đai đảm bảo tính dân chủ, đảm bảo quyền và
lợi ích hợp pháp của công dân. Nếu hoạt động tố cáo của công dân chỉ dừng
lại ở việc phát hiện và thông tin các hành vi vi phạm pháp luật của các cá
nhân, tổ chức, cơ quan trong hoạt động quản lý đất đai thì chưa hoàn toàn
đảm bảo quyền và lợi ích của công dân. Kết quả của giải quyết tố cáo về
đất đai còn khôi phục quyền và lợi ích của công dân bị xâm phạm, đáp ứng
về những việc làm trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân”.
Ngày 27/11/1981, Pháp lệnh quy định về việc xem xét và giải quyết các
khiếu nại, tố cáo của công dân năm 1981 được ban hành và là văn bản pháp lý
đầu tiên qui định một cách tập trung, đầy đủ và chi tiết việc tiếp nhận và giải
quyết khiếu nại, tố cáo của công dân. Sau khi Pháp lệnh này được ban hành,
ngày 29/3/1982, Hội đồng Bộ trưởng ban hành Nghị định số 58/HĐBT về
việc thi hành Pháp lệnh đã qui định cụ thể về thẩm quyền và trách nhiệm của
công dân trong việc khiếu nại, tố cáo. Tiếp tục thừa kế những thành tựu đạt
được của Pháp lệnh năm 1981 và bổ sung những thiếu sót, khắc phục những
tồn tại, ngày 2/5/1991, Pháp lệnh Khiếu nại, Tố cáo được ban hành thay thế
Pháp lệnh năm 1981. Trong Pháp lệnh Khiếu nại, Tố cáo năm 1991, lần đầu
tiên quyền khiếu nại và quyền tố cáo được quy định riêng biệt. Ngày
28/01/1992, Hội đồng Bộ trưởng ban hành Nghị định số 38/HĐBT về việc thi
hành Pháp lệnh Khiếu nại, Tố cáo.
19
Ngày 02/12/1998, Quốc hội đã thông qua Luật Khiếu nại, Tố cáo và
Luật có hiệu lực từ ngày 01/01/1999 thay thế Pháp lệnh năm 1991. Đây là văn
bản có hiệu lực cao nhất về quyền khiếu nại, tố cáo của công dân so với các
văn bản trước đó.
Tiếp tục hoàn thiện các quy định pháp luật về quyền khiếu nại, quyền tố
cáo, ngày 25/6/2004, Quốc hội ban hành Luật sửa đổi, bổ sung Luật Khiếu
nại, Tố cáo. Ngày 29/11/2005, Quốc hội thông qua Luật số 58/2005/QH11
ngày 29/11/2005 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Khiếu nại, Tố cáo của
Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam.
Trong lĩnh vực đất đai, sau giai đoạn bắt đầu đổi mới (1986-1991),
chúng ta vẫn còn thiếu nhiều quy định và ngay cả hệ thống pháp luật đất đai
đã ban hành cũng còn nhiều bất cập, chưa đáp ứng được tình hình đổi mới của
đất nước. Để phù hợp với giai đoạn mới và thực hiện đổi mới toàn diện nền