Luận văn thạc sỹ - Pháp luật về Doanh nghiêp tư nhân ở Việt Nam - Pdf 54

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ

PHÁP LUẬT VỀ DOANH NGHIỆP TƯ NHÂN
Ở VIỆT NAM

PHÙNG ĐỨC DŨNG

HÀ NỘI - 2018


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ
PHÁP LUẬT VỀ DOANH NGHIỆP TƯ NHÂN
Ở VIỆT NAM
PHÙNG ĐỨC DŨNG
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
MÃ SỐ: 8380107

Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS. NGUYỄN NHƯ PHÁT

HÀ NỘI - 2018


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các kết

khoa học cũng như hạn chế về kiến thức và kinh nghiệm nên chắc chắn đề tài của
Luận văn này sẽ không tránh khỏi những thiếu sót nhất định mà bản thân tôi chưa
thấy được. Tôi rất mong sự đóng góp của quý Thầy, Cô giáo và các bạn để cho đề
tài nghiên cứu của tôi được hoàn thiện hơn. Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng năm 2018
Học viên thực hiện

Phùng Đức Dũng


MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
DNTN
DN
TNHH
BLDS
LDN
GDP
XHCN

Doanh nghiệp tư nhân
Doanh nghiệp
Trách nhiệm hữu hạn
Bộ luật dân sự
Luật doanh nghiệp
Tổng sản phẩm nội địa
Xã hội chủ nghĩa


MỞ ĐẦU

1


linh hoạt, năng động, nhạy bén và các ưu thế khác mà loại hình doanh nghiệp này.
Và luật doanh nghiệp 2014 được xem là luật có quy định về DNTN hoàn thiện nhất
kể từ 1990 đến hiện nay.
DNTN đã trở thành đề tài nghiên cứu của nhiều tác giả được khai thác dưới
nhiều góc độ khác nhau. Tuy nhiên, với luật Doanh nghiệp 2014, một văn bản mới
đi vào thực tế nên chưa có nhiều đề tài nghiên cứu về vấn đề này để đánh giá, nhận
xét các quy định pháp luật từ thực tiễn áp dụng. Chính từ những cơ sở nhận thức
trên nên tôi quyết định chọn đề tài: “Pháp luật về doanh nghiệp tư nhân ở Việt
Nam” làm đề tài nghiên cứu luận văn thạc sĩ của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Đề tài này đã được nhiều nhà nghiên cứu, nhà luật học khai thác trên nhiều
góc độ khác nhai. Sơ lược một số thành tựu nghiên cứu như:
Tác giả Nguyễn Trí Tuệ với đề tài “Địa vị pháp lý của doanh nghiệp tư
nhân”, Luận án Tiến sĩ, Viện nghiên cứu Nhà nước và pháp luật, 2003. Luận án
nghiên cứu hệ thống về địa vị pháp lý của DNTN trong điều kiện kinh tế thị
trường. Lý luận và thực tiễn của quá trình hình thành và phát triển chế định địa vị
pháp lý DNTN, vai trò và vị trí của DNTN trong nền kinh tế thị trường. Thực trạng
pháp luật điều chỉnh hoạt động của DNTN và giải pháp hoàn thiện địa vị pháp lý
của loại hình DN này.
Tác giả Phạm Quý Tú với đề tài “Nhà nước quản lý bằng pháp luật đối với
DNTN và công ty TNHH”, Luận án Tiến sĩ, Viện nghiên cứu Nhà nước và pháp
luật, 2000. Luận án nghiên cứu cơ sở lý luận của việc nhà nước quản lý bằng pháp
luật đối với DNTN, công ty TNHH ở Việt Nam. Thực trạng của việc quản lý này
và các giải pháp nhằm đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động của nhà nước quản
lý bằng pháp luật đối với DNTT và công ty TNHH.
Tác giả Souphana Vongphachanh với đề tài “Địa vị pháp lý của doanh
nghiệp tư nhân theo pháp luật Lào và Việt Nam dưới góc độ so sánh”, luận văn

đã có nhiều thay đổi với một số văn bản pháp luật doanh nghiệp mới được ban
hành cùng sự vận động không ngừng của thực tiễn đòi hỏi cần có một công trình
nghiên cứu trực tiếp về DNTN.

3


3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận văn:
Thứ nhất, luận văn làm rõ những vấn đề lý luận khái quát về Doanh nghiệp
tư nhân; Vai trò của doanh nghiệp tư nhân trong nền kinh tế; luật áp dụng liên quan
tới DNTN.
Thứ hai, luận văn đánh giá thực trạng quy định pháp luật liên quan tới
DNTN tại Việt Nam.
Thứ ba, trên cơ sở lý luận và thực tiễn đã được nghiên cứu, luận văn đưa ra
định hướng và một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về DNTN tại Việt Nam.
Nhiệm vụ của luận văn:
- Xác định nội dung và làm rõ một số vấn đề lý luận về khái niệm, đặc điểm
có liên quan tới giá trị pháp lý con dấu doanh nghiệp; luật áp dụng trong sử dụng
con dấu doanh nghiệp trong giao dịch.
- Phân tích, làm rõ các hạn chế, bất cập, đánh giá thực trạng xác định luật áp
dụng trong sử dụng con dấu doanh nghiệp trong giao dịch ở Việt Nam.
- Từ những vướng mắc, bất cập giữa lý luận và thực trạng đưa ra một số kiến
nghị hoàn thiện pháp luật về giá trị pháp lý của con dấu doanh nghiệp ở Việt Nam
trong thời gian tới.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng của luận văn chính là doanh nghiệp tư nhân cùng pháp luật về
doanh nghiệp tư nhân.
Luận văn không đi nghiên cứu mọi vấn đề liên quan đến DNTN mà chỉ tập
trung nghiên cứu những vấn đề cơ bản về: doanh nghiệp tư nhân. Trên cơ sở đó,


5


CHƯƠNG 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ DOANH NGHIỆP TƯ NHÂN

1.1.

Lịch sử hình thành và phát triển DNTN
Sự phát triển của DNTN cần được nhìn nhận, đánh giá dưới lăng kính tổng

quan của nền kinh tế tư nhân nói chung, của các doanh nghiệp nội khối tư nhân nói
riêng. Vì vậy, trong phạm vi phần lịch sự phát triển này, thuật ngữ DNTN được
dùng để chỉ DNTN nói riêng và chỉ các loại hình doanh nghiệp thuộc khối tư nhân
nói chung.
DNTN ở Việt Nam trước thời kỳ Đổi mới
Trong bản Tuyên ngôn độc lập (1945), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lên án một
trong những tội ác của thực dân khi chúng cai trị nước ta là: “chúng không cho các
nhà tư sản của nước ta ngóc đầu lên”. Do đó, khi Việt Nam bước vào thời kỳ chống
thực dân Pháp với khẩu hiệu “Toàn dân kháng chiến”, Người đã kêu gọi những
người giàu góp vốn để mở công ty kinh doanh công nghiệp, nông nghiệp, thương
nghiệp, tài chính, giao thông để tịch thu một cách vô điều kiện các cơ sở sản xuất tư
nhân. Hưởng ứng lời kêu gọi đó, nhiều thương nhân Việt Nam giàu lòng yêu nước
đã đóng góp xứng đáng vào cuộc kháng chiến trường kỳ 1945-1954.
Đến năm 1954, hòa bình lập lại ở Miền Bắc Việt Nam và bước vào công
cuộc xây dựng lại đất nước, trong khi Miền Nam Việt Nam vẫn còn dưới chế độ Mỹ
- Diệm. Với khẩu hiệu “xây dựng chủ nghĩa xã hội”, tất cả tài sản của các thành
phần kinh tế như: kinh tế cá thể người lao động ở nông thôn, các DNTN, hộ sản
xuất thủ công, hay của các DNTN nhỏ đều bị chuyển đổi thành tài sản của nhà

tế tư nhân thoát khỏi phạm vi kinh tế hộ cá thể gần như chưa có. Các hộ sản xuất
kinh doanh phi nông nghiệp này vẫn phải hoạt động “ngầm” và chủ hộ vẫn bị kỳ
thị, vẫn bị coi là con buôn. Đây thực sự mới chỉ là giai đoạn chuẩn bị cho sự ra đời
của DNTN.
Sự phát triển của DNTN ở Việt Nam từ 1991 đến 1999
Kinh tế hộ đứng trước đòi hỏi bức thiết về mở rộng quy mô, ngành nghề sản
xuất kinh doanh, muốn thoát khỏi cảnh hoạt động ngầm cũng như được pháp luật và
xã hội chính thức thừa nhận. Điều này phù hợp với đòi hỏi khách quan. Do đó, Đại


hội Đảng cộng sản Việt Nam toàn quốc lần VII (1991) đã chính thức thừa nhận nền
kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường nhưng có định
hướng XHCN.
Tiếp theo đó, tháng 12/1990, Luật DNTN được Đảng và nhà nước chính thức
thông qua và có hiệu lực thi hành từ ngày 15/4/1991. Đây là bước ngoặt hết sức
quan trọng cho DNTN Việt Nam bởi Luật DNTN 1990 chính thức được đặt nền
tảng pháp lý cho DNTN Việt Nam. DNTN và sở hữu tư nhân được chính thức pháp
luật thừa nhận và bảo hộ. Luật DNTN 1990 có tác dụng như một luồng gió mới, phá
vỡ những rào cản vô hình (từ trong nhận thức) và hữu hình (qua những quy định,
quy phạm) trước đây đã từng trói buộc kinh tế tư nhân. Giai đoạn 10 năm 19901999 có thể coi là giai đoạn khai sinh ra DNTN.
Sự phát triển của DNTN ở Việt Nam từ 2000 đến nay
Sau nhiều lần soạn thảo, tháng 5/1999, Luật doanh nghiệp ra đời và có hiệu
lực thi hành từ ngày 01/01/2000. Sự ra đời của LDN 1999 là bước đột phá cả về tư
duy lẫn kỹ năng quản lý đối với khối kinh tế tư nhân. Do yêu cầu của kinh tế thị
trường, hội nhập kinh tế quốc tế nên các DNTN của nước ta đã gia tăng nhanh
chóng. Trong năm 2000 có 20.548 DNTN được thành lập, năm 2001 tăng lên
22.777 DNTN; năm 2002 tăng tiếp lên 24.794 DNTN; năm 2003 là 25.653 DNTN;
năm 2004 có 29.980 và tới năm 2008 đã tăng lên 46.530 DNTN. 1 Cho đến nay, với
cơ chế mở cửa, chính sách hội nhập quốc tế và sự phát triển đa dạng các loại hình
doanh nghiệp cho thương nhân lựa chọn, loại hình DNTN dù không tiếp tục phát

nghiệp theo nghĩa là những thực thể kinh doanh nói chung. Điển hình Luật doanh
nghiệp 2005 định nghĩa: “Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản,
có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật
nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh.”4. Sự tiến bộ về định nghĩa
doanh nghiệp được thể hiện trong LDN 2014 định nghĩa: Doanh nghiệp là tổ chức
có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được đăng ký thành lập theo quy định
của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh. 5 Định nghĩa này được sửa đổi một cách
chính xác hơn bao gồm thống kê loại hình các tổ chức kinh tế bao gồm: Doanh
nghiệp, hợp tác xã và các tổ chức kinh tế khác theo quy định của pháp luật dân sự,
trừ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Theo đó có những tổ chức kinh tế
không phải là doanh nghiệp như hợp tác xã và các tổ chức kinh tế khác. Trong khi
đó tổ chức kinh tế lại không bao gồm doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
Chính vì vậy LDN 2014 đã có những chỉnh sửa một cách hợp lý hơn về khái niệm
doanh nghiệp.
Cho nên, việc lựa chọn một hình thức doanh nghiệp phù hợp với tính chất
kinh doanh, quy mô ngành nghề kinh doanh và khả năng người bỏ vốn thành lập
công ty là vô cùng quan trọng, có tác động tới sự tồn tại và phát triển của doanh
4

Khoản 1 Điều 4 LDN 2005

5

Khoản 7 Điều 4 LDN 2014


nghiệp sau này.
Các loại hình doanh nghiệp cơ bản hiện nay gồm có:
- Doanh nghiệp tư nhân (DNTN): là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ
và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh


Khái niệm DNTN
Ở Việt Nam, sự tồn tại và phát triển của khu vực kinh tế tư nhân mới được

pháp luật chính thức thừa nhận từ năm 1990, khi Luật DNTN và Luật Công ty được
thông qua. Cũng từ đó, thuật ngữ “DNTN” được sử dụng và biết đến ngày càng
nhiều. Tuy nhiên, cho đến hôm nay, trong thực tế vẫn có những trường hợp hiểu
nhầm về nội hàm của khái niệm này. Phổ biến nhất là tình trạng sử dụng thuật ngữ
“DNTN” để chỉ một (hoặc các) doanh nghiệp “thuộc thành phần kinh tế tư nhân”.
Và như vậy, những người nhầm lẫn đã dùng thuật ngữ “DNTN” như là một đối
trọng để phân biệt với “Doanh nghiệp Nhà nước” – doanh nghiệp thuộc thành phần
kinh tế nhà nước.
Dùng thuật ngữ “DNTN” như là cách gọi vắn tắt của “Doanh nghiệp thuộc
thành phần kinh tế tư nhân” là không chính xác. Chúng ta nên sử dụng một thuật
ngữ khác phù hợp hơn để chỉ những doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế tư nhân,
đó là “Doanh nghiệp dân doanh”, vì thực ra, từ buổi đầu được qui định ở Luật
DNTN 1990, Luật Doanh nghiệp 1999, cho đến Luật Doanh nghiệp 2005 và Luật
Doanh nghiệp 2014 hiện hành, DNTN luôn là một trong những hình thức đặc trưng
về tổ chức kinh doanh mà cá nhân muốn đầu tư có thể lựa chọn. Về bản chất,
DNTN được pháp luật về doanh nghiệp ở Việt Nam qui định tương tự như Doanh
nghiệp cá nhân (Sole Proprietorship) ở các nước khác. Và như vậy, DNTN chỉ là
một loại hình doanh nghiệp đặc thù thuộc thành phần kinh tế tư nhân mà thôi.
Như vậy, dựa vào sự phân loại doanh nghiệp nêu trên ta có thể thấy, DNTN
là một trong các loại hình doanh nghiệp được pháp luật điều chỉnh và quy định
trong Luật doanh nghiệp 2014. Chủ sở hữu của DNTN là một cá nhân với đầy đủ
năng lực hành vi dân sự và năng lực pháp luật – chứ không phải là một tổ chức hay
nhiều người đồng sở hữu. Và chủ sở hữu DNTN phải chịu trách nhiệm toàn bộ bằng
tài sản của mình cho hoạt động của doanh nghiệp chứ không phải chỉ chịu trách
nhiệm trong phần vốn góp như các loại hình công ty TNHH hay CTCP hay thành
viên hợp danh của công ty hợp danh. Điều này có nghĩa là tài sản của doanh nghiệp

và quản lý sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Cần phân biệt tính tổ chức liên
kết hợp tác dưới giác độ chủ sở hữu với tính tổ chức trong nội bộ doanh nghiệp. Dù
một chủ, DNTN vẫn là đơn vị kinh doanh mang tính chất một tổ chức, trong đó có
người quản lý điều hành, có người lao động làm công, v.v.. Chính vì vậy DNTN vẫn
thỏa mãn dấu hiệu cơ bản đầu tiên của một doanh nghiệp nói chung: bản thân


DNTN là “một tổ chức kinh tế”.
Tuy nhiên, khác với Doanh nghiệp nhà nước do cơ quan nhà nước thành
lập, Công ty TNHH một thành viên do một tổ chức hoặc một cá nhân thành lập
làm chủ, trong DNTN, chủ sở hữu chỉ có thể là một cá nhân. Cá nhân này vừa là
chủ sở hữu, vừa là người sử dụng tài sản đồng thời cũng là người quản lý hoạt
động của doanh nghiệp. Đối tượng có quyền thành lập DNTN là mọi cá nhân Việt
Nam và cá nhân nước ngoài trừ những trường hợp quy định khoản 2 điều 18 Luật
Doanh nghiệp 2014.
Giữa DNTN và cá nhân người chủ sở hữu có mối quan hệ lệ thuộc và gắn bó
rất chặt chẽ. DNTN chỉ có duy nhất một cá nhân cụ thể là chủ sở hữu, nếu có sự
thay đổi từ cá nhân này sang cá nhân khác thì DNTN đó về bản chất phải chấm dứt
sự tồn tại, như trong trường hợp bán DNTN, người mua doanh nghiệp phải đăng ký
kinh doanh lại. Nếu có sự thay đổi về số lượng chủ sở hữu thì DNTN đó cũng phải
chấm dứt sự tồn tại. Trường hợp cá nhân chủ DNTN mà chết, mất tích hoặc rơi vào
các trường hợp bị cấm thành lập quản lý doanh nghiệp (không còn chủ sở hữu đủ
điều kiện) thì DNTN phải giải thể. Trường hợp chủ DNTN chết, người thừa kế (nếu
có) chỉ được hưởng thừa kế về tài sản chứ không được thừa kế tư cách chủ sở hữu
DNTN. Nếu chỉ có một người thừa kế và người này muốn tiếp tục duy trì khai thác
khối tài sản trong doanh nghiệp bằng hoạt động kinh doanh dưới hình thức DNTN
thì phải làm thủ tục đăng ký kinh doanh lại. Nếu số lượng chủ sở hữu tăng lên hơn
một, thì phải làm thủ tục chuyển đổi DNTN sang hình thức Công ty TNHH 2 thành
viên trở lên. Ngược lại, một cá nhân chỉ được thành lập một DNTN. Theo quan
điểm truyền thống về loại hình DNTN thì không có sự phân biệt về quyền, quyền

tư vào kinh doanh, tạo được sự tin tưởng với đối tác, khách hàng.
– Đối với người cho vay có khả năng thu hồi vượt quá tài sản còn lại đầu tư
vào kinh doanh của chủ sở hữu vì chủ sở hữu chịu trách nhiệm bằng cả tài sản
không đầu tư vào kinh doanh.
Tuy nhiên, nhược điểm cũng phải kể đến là:
- Đối với chủ sở hữu: không có sự phân tán rủi ro từ chủ sở hữu này sang chủ
nợ, không khuyến khích các nhà đầu tư bỏ vốn trực tiếp vào kinh doanh… nhiều


người sẽ không dám đầu tư vào các lĩnh vực kinh doanh mạo hiểm dẫn tới mất cân
đối nền kinh tế.
– Đối với người cho vay thì khó có khả năng kiểm soát, xác định tài sản bảo
đảm tiền vay.
1.4.3. DNTN không có tư cách pháp nhân
Pháp nhân là thuật ngữ pháp lý chỉ một thực thể mang tính hội đoàn. Có rất
nhiều quan điểm và học thuyết giải thích cho khái niệm pháp nhân như: có thuyết
cho pháp nhân là một chủ thể giả tạo, có thuyết cho nó là một chủ thể thực sự...vv
Song theo quy định của pháp luật Việt Nam thì pháp nhân là những tổ chức (khác
với thể nhân – chỉ con người) có tư cách pháp lý độc lập để tham gia các hoạt động
pháp lý khác như kinh tế, xã hội.
Theo Khoản 1 Điều 74 BLDS 2015 thì một tổ chức được công nhận là pháp
nhân khi có đủ các điều kiện sau đây:
- Được thành lập hợp pháp tức là phải được tồn tại dưới một hình thái xác
định và phải được cơ quan có thẩm quyền thành lập, cho phép thành lập, đăng ký
hoặc công nhận;
- Có cơ cấu tổ chức chặt chẽ bao gồm các cơ quan lãnh đạo, bộ phận chuyên
môn của tổ chức, đảm bảo cho tổ chức có khả năng thực tế để hoạt động và điều
hành đảm bảo tính nhất quán trong hoạt động pháp nhân;
- Có tài sản độc lập với cá nhân, tổ chức khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài
sản đó tức pháp nhân tự chịu trách nhiệm tài sản của mình và trong giới hạn tài sản

Chứng khoán là một phương tiện hàng hóa trừu tượng có thể thỏa thuận và
có thể thay thế được, đại diện cho một giá trị tài chính. Chứng khoán gồm các
loại: chứng khoán cổ phần (ví dụ cổ phiếu phổ thông của một công ty), chứng
khoán nợ (như trái phiếu nhà nước, trái phiếu công ty...) và các chứng khoán phái
sinh (như các quyền chọn, hợp đồng quy đổi - Swap, hợp đồng tương lai, Hợp đồng
kỳ hạn). Ở các nền kinh tế phát triển, loại chứng khoán nợ là thứ có tỷ trọng giao
dịch áp đảo trên các thị trường chứng khoán. Còn ở những nền kinh tế nơi mà thị
trường chứng khoán mới được thành lập, thì loại chứng khoán cổ phần (chứng
khoán vốn) lại chiếm tỷ trọng giao dịch lớn hơn. Trong tiếng Việt, chứng khoán còn
được hiểu theo nghĩa hẹp là chứng khoán cổ phần và các chứng khoán phái sinh, ví
dụ như trong từ "sàn giao dịch chứng khoán".6
Theo Luật Doanh nghiệp thì doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp do một
6

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia


cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt
động của doanh nghiệp; doanh nghiệp tư nhân không được phát hành bất kỳ loại
chứng khoán nào; mỗi cá nhân chỉ được quyền thành lập một doanh nghiệp tư nhân.
Vì chứng khoán cũng là một loại tài sản cho nên chứng khoán có giá và có
thể dễ dàng mua đi bán lại chúng được. Một doanh nghiệp hay một tổ chức khi phát
hành chứng khoán là doanh nghiệp, tổ chức đó muốn thu hút thêm vốn cho doanh
nghiệp, tổ chức mình để có thể tăng nguồn lực hoạt động. Khi cá nhân, tổ chức thực
hiện hoạt động mua chứng khoán là chủ thể đó thực hiện hoạt động đầu tư, góp vốn
với mong muốn tìm kiếm lợi nhuận. Người đầu tư có thể lựa chọn rất nhiều các loại
chứng khoán khác nhau như: cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ đầu tư, chứng
khoán phái sinh.
Trong các loại hình doanh nghiệp quy định trong Luật doanh nghiệp 2014 thì
doanh nghiệp tư nhân và công ty hợp danh không có quyền phát hành bất cứ một

Chủ doanh nghiệp tư nhân có toàn quyền quyết định đối với việc sử dụng lợi
nhuận sau khi đã nộp thuế và thực hiện các nghĩa vụ tài chính khác theo quy định
của pháp luật (Khoản 1, Điều 185, LDN 2014).
Chủ doanh nghiệp tư nhân có thể trực tiếp hoặc thuê người khác quản lý,
điều hành hoạt động kinh doanh. Trường hợp thuê người khác làm Giám đốc quản
lý doanh nghiệp thì vẫn phải chịu trách nhiệm về mọi hoạt động kinh doanh của
doanh nghiệp (Khoản 2, Điều 185, LDN 2014).
Đối với những loại hình doanh nghiệp góp vốn khác, khi cần đưa ra những
quyết định về mọi hoạt động kinh doanh cũng như hoạt động quản trị nội bộ của
doanh nghiệp thì thông thường doanh nghiệp sẽ phải ban hành những quyết định
hoặc tổ chức một cuộc họp nhằm phê duyệt quyết định có liên quan với nhiều bên
có thẩm quyền trong doanh nghiệp xét duyệt, thông qua quyết định đó trước khi áp
dụng trên thực tế. Còn đối với DNTN hoạt động này chỉ cần thông qua một chủ thể
duy nhất đó chính là chủ sở hữu doanh nghiệp. Điều này giúp tinh giản rất nhiều
phần nào các thủ tục tồn tại trong nội bộ doanh nghiệp.
Thứ hai, chủ doanh nghiệp tư nhân phải chịu chế độ trách nhiệm vô hạn đối
với các khoản nợ của công ty. Chế độ trách nhiệm vô hạn tạo điều kiện cho khách
hàng, đối tác tin tưởng đối với doanh nghiệp khi tiến hành hoạt động kinh doanh
của doanh nghiệp.
Thứ ba, lợi nhuận của doanh nghiệp tư nhân thuộc về chủ doanh nghiệp tư
nhân sau khi đã tiến hành toàn bộ nghĩa vụ đối với bên thứ ba.
Bên cạnh những ưu điểm đối với doanh nghiệp tư nhân, thì luật Doanh
nghiệp cũng hạn chế rất nhiều đối với loại hình doanh nghiệp như về cách thức huy


động vốn, quyền của chủ doanh nghiệp tư nhân.
- Chủ doanh nghiệp tư nhân không được đồng thời làm chủ hộ kinh doanh,
thành viên công ty hợp danh, doanh nghiệp tư nhân không được quyền góp vốn
thành lập hoặc mua cổ phần, phần vốn góp trong công ty hợp doanh.
- Chủ doanh nghiệp tư nhân chịu chế độ trách nhiệm vô hạn đối với các


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status