(Luận văn thạc sĩ) pháp luật về bảo hiểm xã hội ở việt nam hiện nay ths luật 60 38 01 - Pdf 70

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

NGUYỄN THỊ HÀ

100
80

PHÁP LUẬT VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
60

East
West

40

North
20
0
1st Qtr 2nd Qtr 3rd Qtr 4th Qtr

Chuyên ngành: Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật
Mã số

: 60 38 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS LÊ THỊ HOÀI THU

HÀ NỘI – 2013


2.2.2. Thực trạng triển khai bảo hiểm xã hội tự nguyện ......................................... 67
2.2.3. Thực trạng triển khai bảo hiểm thất nghiệp ................................................. 69
2.2.4. Thực trạng Quỹ bảo hiểm xã hội .................................................................. 72
2.3. Thực trạng giải quyết tranh chấp về BHXH .................................................... 75
CHƢƠNG 3: MỘT SỐ PHƢƠNG HƢỚNG VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM
HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT BẢO HIỂM XÃ HỘI Ở VIỆT NAM .. 79
3.1. Những yêu cầu đặt ra đối với việc hoàn thiện pháp luật bảo hiểm xã hội ở
Việt Nam ............................................................................................................... 79
3.2. Những phương hướng cơ bản hoàn thiện pháp luật BHXH ............................. 82
3.3. Những giải pháp cơ bản nhằm hoàn thiện pháp luật bảo hiểm xã hội ở
Việt Nam ............................................................................................................... 84
3.3.1. Hoàn thiện hệ thống pháp luật bảo hiểm xã hội ........................................... 84
3.3.2. Nghiên cứu một số chế độ bảo hiểm xã hội đáp ứng mục tiêu phát triển
BHXH trong giai đoạn tới ..................................................................................... 95
3.3.3.Giải pháp về cách thức tổ chức thực hiện có hiệu quả pháp luật bảo hiểm
xã hội ................................................................................................................... 96
KẾT LUẬN .................................................................................... 99
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ......................................... 101


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Viết tắt

Viết đầy đủ

BHXH

Bảo hiểm xã hội


Luật bảo hiểm xã hội 2006


DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

STT

Số hiệu
bảng

1

Bảng 2.1

Số đối tượng tham gia BHXH giai đoạn 2007 - 2011

61

2

Bảng 2.2

Đối tượng tham gia BHXH bắt buộc theo loại hình

62

Tên bảng

Trang


Bảng 2.6

Tình hình giải quyết bảo hiểm thất nghiệp năm

2010,

70

2011
7

Bảng 2.7

Cân đối thu chi quỹ BHXH giai đoạn 2007 – 2011

73


MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
BHXH là trụ cột trong hệ thống an sinh xã hội, vì vậy việc hồn thiện
chính sách BHXH đóng vai trị to lớn trong việc góp phần đảm bảo ổn định đời
sống cho cán bộ, công chức, quân nhân và NLĐ. Đối với nước ta bảo đảm
ngày càng tốt hơn hệ thống an sinh xã hội luôn là chủ trương, nhiệm vụ lớn của
Đảng và Nhà nước, thể hiện bản chất tốt đẹp của chế độ ta và có ý nghĩa quan
trọng đối với sự ổn định chính trị - xã hội và phát triển bền vững của đất nước.
Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nư ớc của dân, do dân
và vì dân; mọi đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta đều nhằm
phục vụ cho lợi ích của nhân dân lao động, của tồn dân. Chính sách BHXH

BHXH, khơng tập trung đi sâu vào vấn đề kinh tế của pháp luật BHXH.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
BHXH khơng phải là vấn đề mới nhưng nó trở thành mối quan tâm của
các nhà nghiên cứu và hoạt động thực tiễn. Trong thời gian gần đây, nhiều
nhà khoa học, nhà nghiên cứu và những người quan tâm đến BHXH đã có
nhiều bài viết, cơng trình khoa học nhằm đóng góp ý kiến xây dựng hệ thống
BHXH ở nước ta: cuốn sách “Pháp luật an sinh xã hội- những vấn đề lí luận
và thực tiễn” của Tiến sĩ Nguyễn Hiền phương, Luận văn thạc sĩ của Phạm
Lan Hương “Pháp luật về bảo hiểm xã hội bắt buộc và thực tiễn thực hiện
trên địa bàn tỉnh Phú Thọ và Nguyễn Thị Lan Hương với nội dung: “Pháp
luật về bảo hiểm xã hội đối với lao động nữ ở Việt Nam hiện nay”. Bên cạnh
đó, rất nhiều bài viết của các nhà khoa học trên các tạp chí khoa học pháp lý
chuyên ngành về nội dung BHXH: tạp chí BHXH; tạp chí Luật học; tạp chí
Nhà nước và pháp luật.

2


Luận văn này tập trung nghiên cứu nội dung pháp luật BHXH ở Việt
Nam trên cơ sở Luật BHXH hiện hành, đánh giá một cách tổng thể những ưu
thế và tìm ra những điểm hạn chế cần sửa đổi, bổ sung trong hệ thống pháp
luật về BHXH thời gian tới.
3. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
- Nghiên cứu vấn đề lí luận BHXH và chính sách về BHXH ở nước ta hiện
nay: các chế độ BHXH bắt buộc; BHXH tự nguyện, BHTN được qui định trong
pháp luật - Thực trạng áp dụng qui định pháp luật về BHXH trong thực tế,
những kết quả đạt được và những tồn tại cần khắc phục để đảm bảo BHXH là
công cụ hữu hiệu nhất của sàn an sinh xã hội ở nước ta trong thời gian tới.
- Đề xuất một số giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả pháp
luật về BHXH; đóng góp những ý kiến đề xuất cho việc sửa đổi Luật BHXH để

Chương 1: Khái quát chung về bảo hiểm xã hội và sự điều chỉnh của
pháp luật đối với bảo hiểm xã hội
Chương 2: Thực trạng pháp luật bảo hiểm xã hội ở VN hiện nay
Chương 3: Một số phương hướng và kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp
luật bảo hiểm xã hội ở Việt Nam.

4


CHƢƠNG 1
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI VÀ SỰ ĐIỀU CHỈNH
CỦA PHÁP LUẬT ĐỐI VỚI BẢO HIỂM XÃ HỘI
1.1. BHXH – một bộ phận quan trọng của an sinh xã hội
Trong xã hội, con người là trung tâm của mọi sự phát triển xã hội, vừa là
đối tượng trực tiếp tạo ra của cải cho xã hội, vừa là đối tượng tiêu dùng. Con
người có nhiều nhu cầu khác nhau và để thỏa mãn những nhu cầu đó phụ
thuộc nhiều vào khả năng tài chính mỗi người. Tuy nhiên, trong thực tế cuộc
sống cũng như trong quá tình sản xuất ngoài những điều kiện thuận lợi, con
người gặp nhiều rủi ro như: ốm đau, tai nạn, bệnh tật, dịch bệnh mất việc làm
mất khả năng lao động, già cả, bị chết…. Để vượt qua những hồn cảnh khó
khăn tác động đến bản thân, gia đình con người cần có sự đùm bọc, chia sẻ từ
xã hội. Khi nền cơng nghiệp phát triển thì đội ngũ cơng nhân làm thuê tăng
lên và từ đây xuất hiện mối quan hệ giữa NLĐ làm thuê và người chủ sử
dụng. Trước những biến cố có thể ảnh hưởng đến thu nhập như: ốm đau, tai
nạn, rủi ro, mất việc làm hoặc hết độ tuổi lao động thì NLĐ đã tìm cách khắc
phục bằng những biện pháp: thành lập các quỹ tương tế, hội đoàn…đồng thời
làm xuất hiện các tổ chức bảo trợ cho khoản tiền tiết kiệm của NLĐ giúp
NLĐ cả lúc sống cũng như khi họ chết. Trước sự đấu tranh mạnh mẽ của
NLĐ để đảm bảo sự ổn định cho nguồn thu nhập ngay cả khi họ gặp những
rủi ro bất ngờ, NSDLĐ và nhà nước cũng có sự đóng góp vào một quỹ nhằm

Theo quan điểm của ILO
BHXH là Sự bảo vệ của xã hội đối với các thành viên của mình thơng
qua các biện pháp cơng cộng, nhằm chống lại các khó khăn về kinh tế, xã hội
do bị ngừng hoặc giảm thu nhập, gây ra bởi ốm đau, thai sản, tai nạn lao
động, thất nghiệp, thương tật, tuổi già và chết; đồng thời đảm bảo các chăm
sóc y tế và trợ cấp cho các gia đình đơng con 25]
Theo Từ điển Bách khoa toàn thư:

6


BHXH là sự thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho NLĐ khi họ bị
mất hoặc giảm thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề
nghiệp, tàn tật, thất nghiệp, tuổi già, tử tuất, dựa trên cơ sở một quỹ tài chính
do sự đóng góp của các bên tham gia BHXH có sự bảo hộ của nhà nước theo
pháp luật nhằm đảm bảo an tồn đời sống cho NLĐ và gia đình họ, đồng thời
góp phần đảm bảo an tồn xã hội 29].
Trong Luật BHXH: “BHXH là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một
phần thu nhập của NLĐ khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai
sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, hết tuổi lao động hoặc
chết, trên cơ sở đóng vào quỹ BHXH” 28.
BHXH cịn được nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau:
Dưới góc độ kinh tế, BHXH là một phạm trù kinh tế tổng hợp, được coi
là sự bù đắp và thay thế phần thu nhập đảm bảo ổn định cuộc sống cho NLĐ
khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập trên cơ sở thành lập và sử dụng quỹ tiền tệ
dự trữ của cộng đồng những người tham gia bảo hiểm theo quy định của pháp
luật. Trong quá trình lao động, đặc biệt trong thời kỳ phát triển kinh tế thị
trường, q trình cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa thì con người ln gặp phải
những khó khăn, rủi ro như: tai nạn lao động, ốm đau, bệnh tật, mất việc làm,
thất nghiệp. Chính vì vậy, để ổn định cuộc sống NLĐ phải tìm đến các biện

lao động hoặc chết. Như vậy, về phương diện pháp lý, BHXH là tổng thể các
quy định của Nhà nước quy định về quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của các bên
khi tham gia vào quan hệ BHXH; mức đóng góp, phương thức đóng góp và
mức hưởng đối với những đối tượng áp dụng BHXH…Trên cơ sở các quy
định pháp luật, các bên tham gia phải tuân thủ.
Dù tiếp cận dưới góc độ nào thì mục tiêu chính của BHXH cũng được
thể hiện rõ, nhằm bảo vệ NLĐ trước những biến cố cuộc sống và được bảo vệ
bằng hệ thống chính sách.

8


Như vậy, có thể thấy BHXH chính là dạng trợ cấp nhằm bảo đảm thu
nhập cho NLĐ nên bảo hiểm y tế được tách ra không thuộc khái niệm
BHXH. Khái niệm về BHXH nước ta thể hiện rõ mục đích phi thương mại và
có sự bảo hộ của nhà nước thơng qua q trình đóng góp và quản lý quỹ
BHXH, thơng qua đó Nhà nước bảo hộ các hoạt động của quỹ BHXH và
nhằm mục đích bảo đảm an tồn xã hội và tạo động lực hữu hiệu để phát triển
kinh tế.
Tuy có sự định nghĩa khác nhau về bảo hiểm, nhưng xét về nội dung
các khái niệm trên đều bao hàm những nội dung cơ bản của BHXH là sự bù
đắp thu nhập cho NLĐ và trong một số trường hợp cịn là gia đình của họ
trong những trường hợp nhất định mà dẫn đến mất hoặc giảm thu nhập và dựa
trên cơ sở có sự đóng góp vào quỹ BHXH
1.1.2. Chức năng của bảo hiểm xã hội
Mục tiêu của hoạt động BHXH nhằm thực hiện chính sách xã hội của
Nhà nước, bảo đảm cho NLĐ các khoản trợ cấp tối thiểu khi gặp những rủi
ro. Chức năng của BHXH được xác định bởi chức năng chung của BHXH kết
hợp với tính xã hội cao của nó tạo thành.
1.1.2.1. Bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho người lao

định (giữa thời kì trẻ trung khỏe mạnh – người tham gia thuộc thế hệ trước;
hoặc thời kì già trong cuộc đời NLĐ đó); chức năng này được thể hiện rõ qua
hoạt động thu chi của quỹ BHXH.
1.1.2.3. Góp phần nâng cao năng suất lao động
Khi tham gia vào thị trường lao động, NLĐ luôn mong muốn công sức
mà họ bỏ ra phải được đền đáp xứng đáng, tức tiền lương, tiền công họ nhận
được tương đương với sức lao đô ̣ng mà h ọ bỏ ra. Ngoài ra, khi họ gặp phải
những rủi ro dẫn đến nguồn thu nhập bị giảm, bị mất khiến đời sống khó
khăn, họ càng cần một cơ chế nhằm giúp đỡ họ vượt qua khó khăn này. Trên
thực tế, chỉ có BHXH mới thực hiện tốt được chức năng này. Như vậy, có

10


BHXH đời sống của NLĐ và gia đình họ ln được đảm bảo, BHXH đã giúp
NLĐ yên tâm, gắn bó cùng công việc, với nơi làm việc, tạo động lực giúp
NLĐ phát huy hết năng lực trong công việc.
Đối với NSDLĐ, khi đội ngũ lao động cống hiến cho công việc họ sẽ
yên tâm hơn khi đầu tư nâng cao chất lượng máy móc, nâng cao năng suất lao
động; qua đó NSDLĐ cũng dự tốn được những chi phí dự trù phải chi cho
NLĐ, đó chính là chức năng địn bẩy kinh tế phát triển.
1.1.2.4. Phát huy tiềm năng và gắn bó lợi ích
Tham gia vào hệ thống BHXH thì NLĐ, NSDLĐ và Nhà nước có nghĩa
vụ đóng góp cho cơ quan BHXH, để thành một quỹ tập trung. Thông qua hoạt
động của quỹ, một nguồn vốn nhàn rỗi sẽ được đưa vào đầu tư mang lại lợi
nhuận, tăng thêm nguồn thu cho quỹ. Với hình thức hoạt động đóng góp và
phát triển quỹ BHXH như vậy, BHXH hồn tồn có thể giúp NLĐ vượt qua
những khó khăn khi gặp phải rủi ro góp phần bảo đảm ổn định và an tồn đời
sống cho NLĐ và gia đình họ.
BHXH giúp giảm thiểu thiệt hại cho số đông trong xã hội đồng thời làm

trong đơn vị. Như vậy, đối tượng tham gia vào hệ thống BHXH gồm:
NSDLĐ và NLĐ, nhưng đối tượng thụ hưởng là NLĐ.
1.1.3.2. Hoạt động của bảo hiểm xã hội nhằm mục đích phi lợi nhuận
Các hình thức bảo hiểm trong thực tế hoạt động với mục đích mang lại
lợi nhuận cho nhà đầu tư; tuy nhiên, sự tồn tại của BHXH lại nhằm mục tiêu
xã hội. Trên thực tế chức năng này được thể hiện thông qua tổ chức quản lý
BHXH, đây là tổ chức dịch vụ công do Nhà nước thành lập và hoạt động
nhằm phục vụ mục đích do nhà nư ớc đặt ra. Quỹ BHXH được quản lý tập
trung thống nhất, việc đầu tư quỹ BHXH không nhằm mục đích kinh doanh,
khơng mang lại lợi ích cho cá nhân khi thực hiện hoạt động đó và mục tiêu
cuối cùng là nhằm phục vụ sự nghiệp BHXH.

12


1.1.3.3. Đối tượng được bảo hiểm xã hội là người lao động
BHXH là hệ thống bảo đảm các khoản thu nhập thay thế cho NLĐ khi
họ bị giảm hoặc mất khả năng lao động hay mất việc làm, vì vậy dẫn đến mất
hoặc giảm khoản thu nhập, qua đó cũng bảo đảm nhu cầu sinh sống cần thiết
cho họ cùng gia đình. Những biến cố làm giảm hoặc mất thu nhập của NLĐ ở
đây là những biến cố từ lao động như: mất việc làm, ốm đau, thai sản, tai nạn
lao động, tuổi già.
Đối tượng được bảo hiểm là thu nhập NLĐ vì vậy trong một số trường
hợp thân nhân của NLĐ là đối tượng được hưởng trợ cấp từ BHXH. NLĐ và
gia đình được hưởng các khoản bù đắp khi họ thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đóng
BHXH và đáp ứng điều kiện do Luật định. NLĐ đóng góp BHXH trên một
mức lương hoặc thu nhập nào đó, có nghĩa là mức lương và thu nhập đó đã
được bảo hiểm, nếu mức thu nhập này bị giảm hoặc mất do các nguyên nhân
được pháp luật qui định thì người tham gia được quỹ BHXH đảm bảo bù đắp
hoặc thay thế phần thu nhập bị mất đó.

đóng quỹ. Sự bảo hộ của nhà nước được thể hiện thông qua việc quản lý hoạt
động BHXH (quản lý hoạt động quỹ BHXH).
1.2. Sự điều chỉnh của phát luật đối với bảo hiểm xã hội
1.2.1. Nguyên tắc điều chỉnh phát luật đối với bảo hiểm xã hội
Nguyên tắc điều chỉnh pháp luật đối với BHXH là những tư tưởng chỉ
đạo xuyên suốt và chi phối toàn bộ hệ thống quy phạm pháp luật BHXH
trong việc điều chỉnh quan hệ BHXH, những nguyên tắc điều chỉnh pháp luật
BHXH thể hiện quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước
trong vấn đề đảm bảo ổn định đời sống, đảm bảo mục tiêu an sinh xã hội,
phát triển kinh tế - xã hội. Mỗi nguyên tắc BHXH có nội dung riêng, phản
ánh những quy luật khách quan khác nhau của chính sách BHXH, tuy nhiên
chúng luôn tồn tại mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau, tạo thành một hệ

14


thống thống nhất, việc thực hiện tốt nguyên tắc này sẽ tạo điều kiện cho việc
thực hiện có hiệu quả nguyên tắc khác. Vì vậy, trong hoạt động BHXH cần
phải kết hợp thực hiện giữa các nguyên tắc nhằm nâng cao hiệu quả việc quản
lý tổ chức, thực hiện các chính sách BHXH.
1.2.1.1. Nhà nước thống nhất quản lý BHXH
Sự quản lý của Nhà nước không chỉ xuất phát từ nhu cầu đảm bảo sự ổn
định, phát triển bền vững của hệ thống BHXH mà còn xuất phát từ chức năng
của Nhà nước. Nhà nước với tư cách là chủ sở hữu cao nhất, người đại diện
cho toàn xã hội phải thực hiện trách nhiệm đối với công dân của mình, quản lý
tồn bộ các lĩnh vực an sinh xã hội trong đó có BHXH, chỉ có Nhà nước mới
có đầy đủ các điều kiện, khả năng thực hiện trọng trách này. Mặt khác, sự tham
gia của Nhà nước vào hoạt động BHXH thể hiện sự tiến bộ và tính thần nhân
đạo của mỗi quốc gia.
Sự thống nhất quản lý BHXH trước hết thể hiện ở chỗ Nhà nước định ra

trong Hiến pháp 1992 (Điều 56) và Bộ Luật lao động (Điều 7) 29].
Nguyên tắc đảm bảo quyền tham gia BHXH thể hiện rõ nhất ở việc quy
định phạm vi đối tượng áp dụng BHXH. Nguyên tắc này được thể hiện trong
các quy định cả BHXH bắt buộc và BHXH tự nguyện, theo đó những đối
tượng chưa thuộc diện tham gia BHXH bắt buộc sẽ thuộc diện tham gia
BHXH tự nguyện 29].
Đối với những người có quan hệ lao động, quyền tham gia BHXH của
NLĐ đã được quy định cho chủ sử dụng lao động. NSDLĐ có NLĐ thuộc
diện tham gia BHXH thì có nghĩa vụ đóng bảo hiểm cho NLĐ, đối với những
trường hợp khơng tn thủ theo quy định thì sẽ bị xử phạt theo quy định pháp
luật. Đối với những người không tham gia quan hệ lao động hoặc không
thuộc diện tham gia BHXH bắt buộc thì có cơ hội tham gia và hưởng bảo
hiểm trong loại hình BHXH tự nguyện.

16


1.2.1.3. Mức hưởng bảo hiểm xã hội trên cơ sở mức đóng, thời gian
đóng bảo hiểm và chia sẻ giữa những người tham gia
BHXH là một trong những hình thức phân phối lại thu nhập giữa những
người tham gia BHXH nên cần xác định một cách công bằng hợp lý, tức mức
hưởng căn cứ vào mức đóng góp và thời gian đóng góp vào quỹ BHXH. Mức
hưởng BHXH cần có sự tương xứng giữa mức đóng góp và sự hưởng thụ của
NLĐ, hạn chế sự bù đắp của Nhà nước với quỹ BHXH, tránh tình trạng ngân
sách Nhà nước phải bảo trợ cho những mức BHXH cao, vì vậy, mức đóng
quỹ thường được khống chế ở mức trần nhất định.
Vai trò của BHXH đối với xã hội là nhằm mục đích chia sẻ rủi ro, mang
tính tương trợ cộng đồng, vì vậy khơng phải ai tham gia đóng BHXH đều
được hưởng tất cả các chế độ, mặc dù cùng mức đóng. Mức trợ cấp BHXH
khơng được cao hơn mức tiền lương, tiền cơng khi NLĐ đang làm việc, tránh

nhân đạo và cộng đồng của hoạt động BHXH, có tác dụng điều hịa thu nhập,
tạo ra sự ổn định chung cho xã hội, thúc đẩy nền kinh tế phát triển một cách
toàn diện và bền vững.
1.2.1.5. Quỹ Bảo hiểm xã hội được quản lý thống nhất, dân chủ, cơng
khai và hạch tốn độc lập
BHXH là chính sách ảnh hưởng đến nhiều mặt của đời sống xã hội, chứa
dựng cả nội dung kinh tế, nội dung xã hội và nội dung pháp lý. Để đảm bảo
thực hiện hài hòa các nội dung trên và đạt được những mục tiêu thì một trong
những vấn đề cần được quan tâm là việc quản lý và sử dụng quỹ BHXH. Việc
quản lý và sử dụng quỹ trên cơ sở Nhà nước thống nhất quản lý, hạch toán
theo quy định của pháp luật, độc lập với ngân sách Nhà nước. Trong cơ cấu
của quỹ BHXH, mỗi một quỹ thành phần có yêu cầu sử dụng, đối tượng và
chế độ hưởng khác nhau, do đó việc sử dụng quỹ phải đúng mục đích.
Đồng thời, quỹ BHXH được lập theo mơ hình lập quỹ tồn tích cộng
đồng nên việc hạch tốn của từng quỹ thành phần được thực hiện theo hàng

18


năm và thông báo định kỳ với cơ quan quản lý. Quỹ BHXH là quỹ tài chính
độc lập tự thu, tự chi, sau khi thành lập quỹ độc lập với ngân sách Nhà nước,
có sự kiểm tra, giám sát của đại diện các bên tham gia: NSDLĐ, NLĐ và Nhà
nước.
1.2.2. Nội dung pháp luật Bảo hiểm xã hội
Khi tham gia vào quan hệ BHXH, các bên có mối quan hệ ràng buộc
chặt chẽ về quyền lợi và trách nhiệm BHXH. Nhà nước quản lý và bảo hộ các
hoạt động của BHXH; ngồi ra, hoạt động BHXH cịn chịu sự giám sát chặt
chẽ của NLĐ (thơng qua tổ chức cơng đồn) và NSDLĐ (thông qua tổ chức
của giới chủ) theo cơ chế ba bên. Những mối quan hệ nội tại của hệ thống
BHXH là mối quan hệ xuyên suốt trong hoạt động BHXH được pháp luật

hiểm cho chính họ, giữa các bên có mối quan hệ chặt chẽ vói nhau về nghĩa
vụ, trách nhiệm và quyền lợi, trên cơ sở các quy định của pháp luật. Quyền và
nghĩa vụ của các bên trong quan hệ BHXH ở Việt Nam được pháp luật quy
định:
a. Quyền và nghĩa vụ của người lao động
NLĐ tham gia vào quan hệ BHXH với hai tư cách: vừa là người tham
gia BHXH, vừa là người được hưởng BHXH nếu đáp ứng đủ điều kiện theo
quy định của pháp luật, thể hiện được sự kết hợp giữa quyền, nghĩa vụ của họ
khi tham gia vào quan hệ BHXH. Với tư cách là bên nhận BHXH, NLĐ được
trợ cấp khi gặp rủi ro trong cuộc sống. Đồng thời, họ có nghĩa vụ đóng góp
vào BHXH để được hưởng những quyền lợi khi gặp khó khăn. Mức đóng góp
của NLĐ được pháp luật các nước quy định khác nhau và thơng thường mức
đóng góp của NLĐ thấp hơn mức đóng của NSDLĐ.
Với tư cách là người được hưởng BHXH, NLĐ (trong một số trường
hợp bao gồm cả gia đình của họ) khi rơi vào những trường hợp mà nguồn thu
nhập bị mất như ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, hưu trí,

20



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status