1
MỞ ĐẦUđ
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Chính sách Bảo hiểm xã hội (BHXH) và Bảo hiểm y tế (BHYT) là
những chính sách xã hội quan trọng, đã được Đảng và Nhà nước ta quan tâm
thực hiện đối với người lao động, lực lượng vũ trang ngay từ sau Cách mạng
tháng Tám thành công. Chính sách đó đã từng bước được bổ sung, sửa đổi và
hoàn thiện cho phù hợp với từng giai đoạn lịch sử đấu tranh thống nhất Tổ
quốc và xây dựng đất nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa (XHCN).
Bước sang thời kỳ đổi mới, để phù hợp với chủ trương phát triển nền
kinh tế thị trường định hướng XHCN, chính sách BHXH đã được Nhà nước kịp
thời điều chỉnh. Bộ Luật Lao động đã được Quốc hội khóa IX thông qua tại kỳ
họp thứ 5 ngày 25/06/1994, quy định tại chương 12 về BHXH áp dụng với
người lao động ở mọi thành phần kinh tế. Chính phủ đã ban hành Điều lệ BHXH
đối với công nhân viên chức nhà nước (Nghị định số 12/CP ngày 26/01/1995) và
đối với sĩ quan, hạ sĩ quan, chiến sĩ, công nhân viên quốc phòng (Nghị định
45/CP ngày 15/07/1995). Để triển khai thực hiện chính sách, chế độ BHXH
đối với người lao động theo các Nghị định trên, Chính phủ đã ban hành Nghị
định số 19/CP ngày 16/02/1995 về việc thành lập BHXH Việt Nam. BHXH Việt
Nam được tổ chức theo hệ thống dọc ba cấp là: BHXH Việt Nam; BHXH các
tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và BHXH quận, huyện, thị xã, thành phố
thuộc tỉnh. Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn chủ yếu của hệ thống BHXH
Việt Nam là tổ chức thu BHXH, giải quyết và chi trả các chế độ BHXH, thực
hiện các hoạt động đầu tư để bảo toàn và tăng trưởng quỹ BHXH; kiến nghị
với Chính phủ và các cơ quan có liên quan việc sửa đổi, bổ sung các chính sách,
chế độ BHXH cho phù hợp với tình hình kinh tế - xã hội của đất nước trong
từng giai đoạn.
3
Để thực hiện cải cách tổ chức bộ máy của Chính phủ trong giai đoạn
mới, ngày 24/1/2002, Chính phủ đã ban hành Quyết định số 20/2002/QĐ-TTg
chuyển BHYT Việt Nam sang BHXH Việt Nam để thống nhất tổ chức thực
hiện các chính sách, chế độ bảo hiểm cho mọi người tham gia và hưởng các
quyền lợi về BHXH và BHYT.
Bên cạnh những kết quả đã đạt được thời gian qua, trong quá trình
hoạt động đã bộc lộ những tồn tại, hạn chế ngay trong chính sách, chế độ và
tổ chức triển khai thực hiện. Chính sách, chế độ BHXH liên tục được bổ sung,
sửa đổi và bị đan xen bởi các chính sách xã hội khác như chính sách lao động,
việc làm, tiền lương... đã tác động mạnh đến nguồn thu và chi từ quỹ dẫn đến
nguy cơ quỹ BHXH mất cân đối trong tương lai. Quyền lợi của người tham
gia bảo hiểm chưa thực sự công bằng, còn có sự phân biệt đối xử ở các cơ sở
KCB. Còn có hiện tượng quỹ BHXH bị lạm dụng do một số đối tượng cố tình
vi phạm. Vì vậy, để phục vụ ngày càng tốt hơn đối với mọi người tham gia và
hưởng các chế độ bảo hiểm, cần phải tiếp tục cải tiến, hoàn thiện trên tất cả
các nội dung quản lý quỹ BHXH.
Là người đã và đang tham gia trực tiếp quản lý trong ngành BHXH
Việt Nam, tôi chọn đề tài "Hoàn thiện quản lý quỹ bảo hiểm xã hội ở Việt
Nam" làm luận án tiến sĩ kinh tế, chuyên ngành: Quản lý kinh tế.
2. Tình hình nghiên cứu
Hoạt động của BHXH nói chung và quản lý quỹ BHXH nói riêng
cũng đã có những công trình được công bố như:
+ Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ: "Thực trạng quản lý thu bảo
hiểm xã hội hiện nay và các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác thu",
mã số 96-01-01/ ĐT, chủ nhiệm đề tài là TS. Nguyễn Văn Châu.
Mục tiêu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài là: tìm hiểu một
số kinh nghiệm quản lý thu BHXH của một số nước trên thế giới; đánh giá
5
+ Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ: "Thực trạng và định hướng
hoàn thiện tác nghiệp chi trả các chế độ bảo hiểm xã hội hiện nay", mã số 9603-03/ĐTT, chủ nhiệm đề tài là TS. Dương Xuân Triệu.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài là đánh giá thực trạng về
các hoạt động nghiệp vụ chi trả 5 chế độ BHXH và đi sâu nghiên cứu các
phương thức chi trả BHXH trong khoảng thời gian 1995 - 1996. Tác giả đã
khái quát sơ lược về BHXH và quỹ BHXH, đã đánh giá thực trạng hoạt động
chi trả các chế độ BHXH trên các mặt như: về cơ sở vật chất phục vụ hoạt
động chi trả; về hệ thống sổ sách, mẫu biểu chi BHXH; về quản lý đối tượng
chi trả; về quy trình chi trả BHXH và lệ phí chi trả.
Tác giả đã đánh giá và nêu lên những mặt ưu điểm và nhược điểm của
hai phương thức chi trả trực tiếp và gián tiếp.
Tác giả đã đưa ra 7 kiến nghị nhằm hoàn thiện tác nghiệp chi trả các
chế độ BHXH, đó là:
- Cần hoàn thiện các văn bản quy định có liên quan đến quản lý đối
tượng, quản lý tài chính tạo hành lang pháp lý để cho BHXH các cấp có cơ sở
thực hiện.
- Xây dựng hệ thống tổ chức bộ máy chi trả hoàn chỉnh từ Trung ương
đến cơ sở.
- Tính toán mức lệ phí chi trả giữa các vùng, các khu vực cho hợp lý
hơn.
- Tăng cường cơ sở vật chất cho BHXH huyện, thị phục vụ cho công
tác chi trả trực tiếp.
- Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát tài chính trong khâu nghiệp
vụ, chuyên môn.
- Đẩy mạnh công tác học tập, rèn luyện, nâng cao trình độ nghiệp vụ
chuyên môn, phẩm chất đạo đức của cán bộ làm công tác BHXH.
khác nhau; các nguồn đóng góp, mức đóng góp và cơ chế quản lý sử dụng
quỹ BHXH.
Tóm lại, với mục tiêu, nhiệm vụ, đối tượng, phạm vi nghiên cứu và
những cách tiếp cận khác nhau, các đề tài trên đã đề cập khá nhiều vấn đề có
liên quan đến thực trạng hoạt động BHXH trong các năm qua và dự báo,
định hướng phát triển trong tương lai. Nhưng đối với quỹ BHXH chưa có
công trình nào đề cập cách toàn diện, cập nhật, chưa phân tích, đánh giá sâu
sắc nội dung và phương thức quản lý quỹ BHXH dưới dạng công trình khoa
học hoặc luận án tiến sĩ. Vì vậy, cần thiết phải có những công trình nghiên
cứu có hệ thống về vấn đề này góp phần hoàn thiện quản lý quỹ BHXH ở
nước ta hiện nay.
3. Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ của luận án
Mục đích: Nghiên cứu, hệ thống hóa cơ sở lý luận, khảo sát, tổng kết
thực tiễn, đề xuất những giải pháp góp phần hoàn thiện quản lý quỹ BHXH ở
Việt Nam.
Để thực hiện mục đích trên, luận án có nhiệm vụ:
Một là, góp phần làm rõ cơ sở lý luận về BHXH và quản lý quỹ BHXH.
Hai là, phân tích đánh giá thực trạng quản lý quỹ BHXH trong thời
gian qua, đặc biệt giai đoạn hình thành hệ thống tổ chức BHXH Việt Nam, để
tìm ra những tồn tại, vướng mắc và nguyên nhân.
Ba là, đề xuất quan điểm và giải pháp hoàn thiện quản lý quỹ BHXH
ở Việt Nam.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng: Nghiên cứu quá trình quản lý quỹ BHXH bao gồm: quản
lý Nhà nước quỹ BHXH và quản lý sự nghiệp quỹ BHXH ở Việt Nam.
8
Phạm vi nghiên cứu: Sự ra đời và quá trình đổi mới quản lý quỹ HT&TC
- Đề xuất quan điểm và những giải pháp nhằm hoàn thiện quản lý quỹ
BHXH ở Việt Nam.
7. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phục
lục, nội dung của luận án gồm 3 chương, 8 tiết.
10
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN
VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI VÀ QUẢN LÝ QUỸ BẢO HIỂM XÃ HỘI
1.1. BẢO HIỂM XÃ HỘI, CHÍNH SÁCH BẢO HIỂM XÃ HỘI VÀ QUỸ
BẢO HIỂM XÃ HỘI
1.1.1. Khái niệm, bản chất, vai trò bảo hiểm xã hội
1.1.1.1. Khái niệm bảo hiểm xã hội
Trong hoạt động của đời sống xã hội cũng như trong hoạt động sản
xuất kinh doanh, ngoài những biến cố đã được con người tính toán khoa học
và được dự báo trước; con người luôn luôn phải đối mặt với những rủi ro bất
ngờ có thể xảy ra do rất nhiều nguyên nhân như: thiên tai (bão lụt, động đất,
hạn hán...), tai nạn giao thông (máy bay, tàu thủy, tàu hỏa, ô tô, xe máy...), tai
nạn trong lao động sản xuất, ốm đau, dịch bệnh, hỏa hoạn... Những bất trắc,
rủi ro đó đã gây ra và đem đến cho con người những tổn thất, hậu quả to lớn
cả về mặt kinh tế, lẫn môi trường sinh thái và môi trường xã hội. Chính vì vậy
mà con người đã phải đưa ra nhiều biện pháp để phòng ngừa, hạn chế và khắc
phục những biến cố rủi ro đó. Những biện pháp phòng ngừa, né tránh và hạn
chế rủi ro thường được con người chủ động đưa ra các quy định cụ thể (bộ
luật, luật, pháp lệnh, nghị định, quyết định, thông tư...) trong từng lĩnh vực
soát, ngăn ngừa, né tránh và giảm thiểu rủi ro có thể xảy ra. Chẳng hạn, để
giảm thiểu về tai nạn giao thông, thì phải tuyên truyền đối với người tham gia
giao thông để họ chấp hành nghiêm luật giao thông; những người lái xe phải
có bằng lái xe; phân luồng giao thông cho người và phương tiện... Để giảm
thiểu tai nạn lao động, yêu cầu mọi người lao động phải học nội quy, quy chế
làm việc, mặc đồ bảo hộ khi lao động, chấp hành quy trình làm việc, vận hành
máy móc. Để giảm thiểu về hỏa hoạn, yêu cầu đơn vị, cá nhân phải chấp hành
tốt nội quy phòng cháy, chữa cháy, kịp thời khắc phục hậu quả để hạn chế tổn
thất đến mức độ cao nhất.
Để khắc phục hậu quả rủi ro con người có thể chấp nhận và tự khắc
phục hoặc tham gia bảo hiểm.
12
Chấp nhận rủi ro là người gặp phải rủi ro phải chấp nhận khoản tổn
thất đó, bản thân họ phải tự bù đắp tổn thất cho mình. Họ có thể chủ động lập
quỹ dự phòng trước để bù đắp, khắc phục những tổn thất do biến cố rủi ro gây
nên; hoặc cũng có thể đi vay ngân hàng, các tổ chức tài chính để bù đắp tổn
thất trong trường hợp họ không lập quỹ dự phòng trước. Ở hình thức này,
người gặp phải rủi ro thường bị động (ngay cả trong trường hợp có lập quỹ dự
phòng nhưng số thiệt hại quá lớn, vượt quá cả quỹ dự phòng); vì vậy sẽ rất
khó khăn khi rủi ro xảy ra đối với họ.
Bảo hiểm là công cụ quan trọng và có hiệu quả nhất để khắc phục hậu
quả, tổn thất khi rủi ro xảy ra. Những đối tượng (bao gồm cả tổ chức, đơn vị,
cá nhân) có cùng khả năng gặp phải một loại rủi ro nào đó đóng góp một
khoản phí cho nhà quản lý bảo hiểm để hình thành quỹ dự trữ dùng để bồi
thường thiệt hại hoặc trợ cấp cho đối tượng tham gia bảo hiểm khi gặp phải
rủi ro. Ở hình thức này, đối tượng tham gia bảo hiểm luôn yên tâm, chủ động
vì khi rủi ro xảy ra sẽ nhận được tiền bồi thường (hoặc trợ cấp) lớn hơn nhiều
những chính sách xã hội quan trọng nhất trong hệ thống chính sách bảo đảm
xã hội. Mặc dù đã có quá trình phát triển tương đối dài, nhưng cho đến nay
còn có nhiều khái niệm về BHXH, chưa có khái niệm thống nhất, chẳng hạn
như:
Thứ nhất, bảo hiểm xã hội là tổng hợp những quy định của
Nhà nước về đảm bảo vật chất, góp phần ổn định đời sống của
người lao động và gia đình trong các trường hợp người lao động ốm
đau, thai sản, hết tuổi lao động, chết, bị tai nạn lao động, bệnh nghề
nghiệp, mất việc làm, gặp rủi ro hoặc các khó khăn khác [98, tr. 2324].
Thứ hai, bảo hiểm xã hội là mọi chế độ về bảo hiểm cho
người lao động. Đây là loại bảo hiểm bắt buộc. Những người lao
động bắt buộc phải đóng góp theo các quy định của Chính phủ vào
các tổ chức bảo hiểm quốc gia để được nhận các khoản trợ cấp của
14
Nhà nước khi hưu trí, ốm đau, thất nghiệp hay trong các trường hợp
khác [99, tr. 21].
Thứ ba, bảo hiểm xã hội là một loại chế độ pháp định bảo vệ
người lao động, sử dụng nguồn tiền đóng góp của người lao động,
của người sử dụng lao động nếu có và được sự tài trợ, bảo hộ của
Nhà nước, nhằm trợ giúp vật chất cho người được bảo hiểm và gia
đình trong trường hợp bị giảm hoặc mất thu nhập bình thường do
ốm đau, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thai sản, thất nghiệp,
hết tuổi lao động theo quy định của pháp luật hoặc chết [93, tr. 18].
Thứ tư, bảo hiểm xã hội là cách gộp chung các biện pháp
mà Nhà nước hoặc xã hội giúp đỡ vật chất cho các thành viên trong
xã hội khi họ già yếu, ốm đau hoặc mất khả năng lao động và có
những khó khăn đặc biệt khác trong cuộc sống [71, tr. 776].
và gia đình họ, góp phần đảm bảo an toàn xã hội.
Để góp phần bảo vệ quyền lợi cho người lao động trên toàn thế giới và
đảm bảo an toàn xã hội, ngày 4 tháng 6 năm 1952, Tổ chức Lao động Quốc tế
(ILO) ban hành Công ước số 102 về quy phạm tối thiểu an toàn xã hội, trong
đó có quy định 9 chế độ trợ cấp, đó là:
+ Chăm sóc y tế;
+ Trợ cấp ốm đau;
+ Trợ cấp thất nghiệp;
+ Trợ cấp tuổi già (hưu bổng);
+ Trợ cấp trong trường hợp tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp;
+ Trợ cấp gia đình;
+ Trợ cấp thai sản;
16
+ Trợ cấp tàn tật;
+ Trợ cấp tiền tuất.
Đồng thời, Tổ chức Lao động Quốc tế cũng khuyến nghị các nước thành
viên phải thực hiện ít nhất là 3 chế độ trong các chế độ nói trên. Trong ba chế
độ đó thì phải có ít nhất 1 chế độ là các chế độ 3, 4, 5, 8 và 9 [14, tr. 123-142].
1.1.1.2. Bản chất của bảo hiểm xã hội
Bất kỳ một nhà nước nào trên thế giới cũng phải thừa nhận rằng sự
nghèo khổ của người dân do ốm đau, tai nạn rủi ro, thất nghiệp, tật nguyền
bẩm sinh... gây ra không chỉ là trách nhiệm của bản thân cá nhân, của gia
đình, của những người thân của họ mà còn phải là trách nhiệm của nhà nước
và của cộng đồng xã hội.
Cùng với quá trình phát triển, tiến bộ của loài người, BHXH được coi
là một chính sách xã hội quan trọng của bất kỳ nhà nước nào, nhằm bảo đảm
an toàn cho sản xuất, cho đời sống vật chất và tinh thần cho mọi người trong
ai tham gia BHXH cũng được phân phối với số tiền giống nhau. Phân phối
trong BHXH vừa mang tính bồi hoàn vừa không mang tính bồi hoàn. Những
biến cố xảy ra mang tính tất nhiên đối với con người là thai sản (đối với lao
động nữ), tuổi già và chết, trong trường hợp này, BHXH phân phối mang tính
bồi hoàn vì người lao động đóng BHXH chắc chắn được hưởng khoản trợ cấp
đó. Còn trợ cấp do những biến cố làm giảm hoặc mất khả năng lao động, mất
việc làm, những rủi ro xảy ra trái ngược với ý muốn của con người như ốm
đau, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, là sự phân phối mang tính không bồi
hoàn; có nghĩa là chỉ khi nào người lao động gặp phải tổn thất do ốm đau, tai
nạn lao động, bệnh nghề nghiệp... thì mới được hưởng khoản trợ cấp đó.
BHXH hoạt động theo nguyên tắc "cộng đồng - lấy số đông bù cho số ít"
tức là dùng số tiền đóng góp nhỏ của số đông người tham gia BHXH để bù
đắp, chia sẻ cho một số ít người với số tiền lớn hơn so với số đóng góp của
từng người, khi họ gặp phải những biến cố rủi ro gây tổn thất.
18
Hoạt động BHXH là một loại hoạt động dịch vụ công, mang tính xã
hội cao; lấy hiệu quả xã hội làm mục tiêu hoạt động. Hoạt động BHXH là quá
trình tổ chức, triển khai thực hiện các chế độ, chính sách BHXH của tổ chức
quản lý sự nghiệp BHXH đối với người lao động tham gia và hưởng các chế
độ BHXH. Là quá trình tổ chức thực hiện các nghiệp vụ thu BHXH đối với
người sử dụng lao động và người lao động; giải quyết các chế độ, chính sách
và chi BHXH cho người được hưởng; quản lý quỹ BHXH và thực hiện đầu tư
bảo tồn và tăng trưởng quỹ BHXH.
Nghiên cứu về sự giống và khác nhau giữa BHXH và bảo hiểm
thương mại sẽ làm rõ hơn bản chất của BHXH.
Bảo hiểm thương mại là biện pháp chia sẻ tổn thất về mặt tài chính
của một hay một số ít người gặp phải một hay một số loại rủi ro nào đó, được
hay không có thu nhập, tình trạng sức khỏe... tự nguyện lựa chọn, tham gia
bảo hiểm và phải nộp phí bảo hiểm theo thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm.
- Thời hạn có hiệu lực điều chỉnh quan hệ giữa đối tượng tham gia bảo
hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm thường là có thời hạn và ngắn (một số năm
hoặc theo một chu kỳ hoạt động của đối tượng tham gia bảo hiểm); chẳng
hạn, bảo hiểm tai nạn giao thông các phương tiện vận tải thường là một năm;
bảo hiểm một chuyến vận chuyển, chuyến du lịch, bảo hiểm gieo trồng, chăn
nuôi... thường là theo một chu kỳ hoạt động, kinh doanh của đối tượng.
- Đối tượng tham gia bảo hiểm thương mại có thể tự chọn các sản
phẩm bảo hiểm do các doanh nghiệp bảo hiểm bán ra, với mức được bù đắp,
bồi thường theo từng mức phí đóng góp và những điều kiện cụ thể khác của
đối tượng như: tình trạng tài sản, tình trạng về sức khỏe, giới tính, điều kiện
môi trường, lao động, sinh hoạt...
- Đối tượng tham gia bảo hiểm chỉ được bồi thường thiệt hại khi xảy
ra rủi ro. Mức độ bồi thường nhiều hay ít phụ thuộc vào mức phí đóng góp và
mức độ tổn thất thực tế được quy định trong hợp đồng bảo hiểm, mà không có
liên quan gì đến thu nhập của họ có hay không và nhiều hay ít. Bảo hiểm
20
thương mại chỉ bù đắp được một phần tổn thất khó khăn tạm thời, cấp bách
cho người được hưởng bảo hiểm.
BHXH và bảo hiểm thương mại có tính chất, đối tượng, phương thức
và mục đích hoạt động khác nhau, nhưng giữa chúng có những nguyên lý hoạt
động mang tính phổ biến và nhất quán, mà bất kỳ loại hình bảo hiểm nào khi
hoạt động cũng phải tuân thủ, đó là:
Thứ nhất, bảo hiểm là một hình thức hoạt động nhằm phân tán rủi ro,
hỗ trợ lẫn nhau giữa những đơn vị, cá nhân cùng tham gia bảo hiểm thực hiện
theo nguyên tắc "cộng đồng - lấy số đông bù cho số ít". Vì vậy, dịch vụ bảo
toàn xã hội, phục vụ cho mọi thành viên trong xã hội, lợi nhuận không phải là
mục tiêu của hoạt động BHXH. Do đó, BHXH có vai trò to lớn trong đời
sống kinh tế - xã hội của con người, được thể hiện trên các mặt sau:
- BHXH góp phần ổn định đời sống của người tham gia BHXH, đảm
bảo an toàn xã hội. Những người tham gia BHXH sẽ được thay thế hoặc bù
đắp một phần thu nhập khi họ bị suy giảm, mất khả năng lao động, mất việc
làm, chết. Việc thay thế hoặc bù đắp chắc chắn sẽ xảy ra đối với mọi người
lao động tham gia BHXH đến khi họ hết tuổi lao động được hưởng lương hưu
hoặc khi họ chết (được hưởng tiền tuất, mai táng phí). Việc bù đắp cũng chỉ
xảy ra đối với một số người đối với một số chế độ bảo hiểm còn lại như ốm
đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, mất việc làm... Nhờ có sự
đảm bảo thay thế hoặc bù đắp thu nhập kịp thời mà người lao động nhanh
chóng khắc phục được những tổn thất vật chất, sớm phục hồi sức khỏe, ổn
định cuộc sống để tiếp tục quá trình lao động, hoạt động bình thường của bản
thân. Đây là vai trò cơ bản nhất của BHXH, nó quyết định nhiệm vụ, tính chất
và phương thức hoạt động của BHXH.
- BHXH góp phần thực hiện công bằng xã hội. Phân phối trong
BHXH là sự chuyển dịch thu nhập mang tính xã hội, là sự phân phối lại giữa
những người có thu nhập cao, thấp khác nhau theo xu hướng có lợi cho những
22
người có thu nhập thấp; là sự chuyển dịch thu nhập của những người khỏe
mạnh, may mắn có việc làm ổn định cho những người ốm, yếu, gặp phải
những biến cố rủi ro trong lao động sản xuất và trong cuộc sống. Vì vậy,
BHXH góp phần làm giảm bớt khoảng cách giữa người giàu và người nghèo.
- BHXH góp phần phòng tránh và hạn chế tổn thất, đảm bảo an toàn
cho sản xuất và đời sống xã hội của con người. Để thực hiện có hiệu quả các
biện pháp ngăn ngừa, hạn chế tổn thất, các đơn vị, tổ chức kinh tế đề ra các
tham gia BHXH và qua các thế hệ. Một số ít nước thiết kế theo mô hình "tọa
thu, tọa chi". Do tính chất hoạt động của bảo hiểm là các biến cố rủi ro phát
sinh không đều về thời gian. Vì vậy, ngay trong mô hình quỹ được thiết kế
theo mô hình "tọa thu, tọa chi" thì trong một khoảng thời gian nhất định, quỹ
BHXH vẫn có số dư tạm thời nhàn rỗi. Đặc biệt là quỹ BHXH thiết kế theo
mô hình tồn tích thì luôn luôn có số dư tạm thời nhàn rỗi rất lớn. Đây chính là
một nguồn vốn trong nước rất quan trọng, được hình thành từ sự đóng góp
của người lao động và người sử dụng lao động, là sự "tiết kiệm tạm thời"
trong chi tiêu tạo ra được một nguồn vốn để đầu tư phát triển kinh tế của đất
nước. Nguồn vốn này càng quan trọng đối với những nước đang thiếu nguồn
vốn đầu tư cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH).
Điều kiện quan trọng để người lao động được hưởng đầy đủ mọi
quyền lợi về BHXH, ngoài việc người lao động phải đóng góp thì người sử
dụng lao động cũng phải đóng góp đầy đủ vào quỹ BHXH. Điều đó đã làm
cho người lao động gắn bó với người sử dụng lao động hơn, làm cho quá trình
sản xuất được ổn định, bền vững, có năng suất cao hơn, tạo ra nhiều của cải
hơn cho xã hội và tích lũy xã hội cao hơn. Mặt khác, khi chính sách BHXH
được áp dụng đối với mọi người lao động sẽ tạo ra được một sự phân công lao
động xã hội hợp lý, có hiệu quả, tạo ra được một thị trường lao động năng
động. Bởi vì người lao động có thể làm việc ở bất cứ đơn vị nào, thuộc mọi
thành phần kinh tế, mọi loại hình sở hữu thì họ vẫn được quyền tham gia và
hưởng thụ tất cả mọi chế độ về BHXH. Chính điều đó tạo điều kiện cho người
24
lao động và người sử dụng lao động được tự do thỏa thuận về điều kiện làm
việc phù hợp với nhu cầu, trình độ, nghề nghiệp, tay nghề, thu nhập với từng
người lao động. Đó là những yếu tố quan trọng vừa để khai thác, sử dụng triệt
để nguồn lực lao động; vừa để nâng cao hiệu suất công tác, năng suất lao
quản lý, tác động lên các chủ thể, các đối tượng là những tổ chức và mọi
thành viên trong xã hội, nhằm xây dựng đất nước ngày càng giàu mạnh, xã
hội công bằng, dân chủ và văn minh.
Chính sách xã hội có phạm vi tác động rất rộng lớn, tác động đến mọi
mặt đời sống của con người. Tùy theo điều kiện, đặc điểm, trình độ phát triển
kinh tế - xã hội và truyền thống văn hóa của từng nước trong từng giai đoạn
mà ở đó nhà nước có thể ban hành những chính sách cụ thể về xã hội. Có thể
kể đến một số chính sách, đó là: chính sách về giáo dục, đào tạo, y tế, văn
hóa, dân số, bảo vệ bà mẹ trẻ em, xóa đói giảm nghèo, chính sách ưu đãi xã
hội, chính sách cứu trợ, chính sách việc làm và tiền lương, chính sách bảo
đảm xã hội (trong đó chính sách BHXH giữ vai trò nòng cốt)... Tất cả các
chính sách đó cùng được vận hành hòa quyện với nhau, tác động qua lại và
làm tiền đề cho nhau, nhằm mục tiêu vì sự tồn tại, phát triển, hoàn thiện về
cuộc sống vật chất, tinh thần ngày càng tốt hơn của mỗi con người và của cả
cộng đồng xã hội.
1.1.2.2. Chính sách bảo hiểm xã hội trong hệ thống bảo đảm xã hội
Đảm bảo xã hội được hiểu là sự bảo vệ của xã hội đối với tất cả mọi
thành viên trong xã hội, được thực hiện thông qua một loạt các biện pháp
công cộng để trợ giúp sự giảm sút, hẫng hụt đột ngột về kinh tế - xã hội của
con người, do bị suy giảm, mất việc làm, thiên tai, hỏa hoạn, chiến tranh...
gây ra.
Con người trong suốt cuộc đời có thể gặp rất nhiều rủi ro bất ngờ do
suy giảm hay mất khả năng lao động, mất việc làm, do thiên tai, hỏa hoạn,