LỜI MỞ ĐẦU
Giáo dục đào tạo đóng vai trò quan trọng là nhân tố chìa khóa, là động lực
thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Không chỉ ở Việt Nam mà ở hầu hết các
quốc gia khác trên thế giới, các chính phủ đều coi giáo dục là quốc sách
hàng đầu. Vậy tại sao giáo dục đào tạo lại có tầm quan trọng đến chiến lược
phát triển đất nước như vậy ?
– Thứ nhất: Giáo dục đào tạo là điều kiện tiên quyết góp phần phát triển kinh
tế.
– Thứ hai: Giáo dục đào tạo góp phần ổn định chính trị xã hội.
– Thứ ba: Và trên hết giáo dục đào tạo góp phần nâng cao chỉ số phát triển
con người.
Hiểu được điều này, Việt Nam cũng là một trong những quốc gia rất coi
trọng sự phát triển của nền giáo dục, đã và đang củng cố xây dựng nền giáo
dục thực sự vững mạnh và có chất lượng. Vì vậy mà trong suốt những năm
qua Đảng và nhà nước đã luôn quan tâm và tập trung đầu tư rất nhiều cho
nền giáo dục Việt Nam.
Chính vì vậy, nhóm em cũng chọn đề tài : “ Nghiên cứu chính sách giáo dục,
đào tạo và việc thực hiện chính sách này ở Việt Nam.Từ đó nêu các kiến
nghị để hoàn thiện các chính sách giáo dục và đòa tạo nhằm nâng cao trí lực
và phẩm chất của người lao động ở Việt Nam” để đi sâu vào tìm hiểu và làm
rõ các vấn đề của đề tài.
PHẦN I: Khái quát về chính sách giáo dục, đào tạo và việc thực hiện chính
sách này ở Việt Nam.
1. Khái niệm, vai trò của chính sách giáo dục & đào tạo
Chính sách giáo dục và đào tạo là những chủ trương của Đảng và Nhà nước
nhằm bồi dưỡng, phát triển các phẩm chất và năng lực cho mỗi người dân
cả về tư tưởng, đạo đức, khoa học, sức khỏe và nghề nghiệp.
Vai trò của chính sách giáo dục & đào tạo:
Góp phần nâng cao dân trí ở mọi quốc gia, dân tộc, tạo ra hệ thống giá
trị xã hội mới. Trong nền kinh tế tri thức hiện nay, tri thức là sản phẩm
của giáo dục và đào tạo, đồng thời là tài sản quý giá nhất của con
chức UNESCO cũng đã khuyến khích các nước phải chi tiêu ít nhất
6% GDP cho giáo dục.
Nhận thức rõ vai trò của giáo dục - đào tạo đối với sự phát triển, Đảng
và Nhà nước ta khẳng đinh: “Giáo dục là quốc sách hàng đầu”. Việc
đổi mới giáo dục trong giai đoạn hiện nay đang là mối quan tâm của
các cấp, ngành, các nhà khoa học và toàn xã hội. Chọn khoa học và
giáo dục làm khâu đột phá cho phát triển. Chọn giáo dục làm tiền đề,
làm xương sống của phát triển bền vững là xác định đúng đắn và khoa
học.
2.Khái quát về chính sách giáo dục,đào tạo và việc thực hiện chính sách giáo
dục ,đào tạo ở Việt Nam.
Cùng với khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là
động lực thúc đẩy, là điều kiện cơ bản đảm bảo và thực hiện các mục tiêu kinh tế xã hội, xây dựng và bảo vệ đất nước. Phải coi đầu tư cho giáo dục là một hướng
chính của đầu tư phát triển...
- Phát triển giáo dục nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài,
đào tạo những con người có kiến thức văn hoá, khoa học, có kỹ năng nghề
nghiệp... Phải mở rộng quy mô, đồng thời chú trọng nâng cao chất lượng, hiệu quả
giáo dục, gắn học với hành, tài với đức.
- Giáo dục phải vừa gắn chặt với yêu cầu phát triển đất nước, vừa phù hợp với xu
thế tiến bộ của thời đại.
- Đa dạng hoá các hình thức đào tạo, thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục.
Nhà nước ưu tiên đầu tư và thu hút các nguồn đầu tư khác cho giáo dục;
- Chăm lo giáo dục mầm non; bảo đảm giáo dục tiểu học là bắt buộc, Nhà nước
không thu học phí; từng bước phổ cập giáo dục trung học; phát triển giáo dục đại
học, giáo dục nghề nghiệp; thực hiện chinh sách học bổng, học phí hợp lý;
- Nhà nước ưu tiên phát triển giáo dục ở miền núi, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc
thiểu số và vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn;
- Ưu tiên sử dụng phát triển nhân tài.
rèn luyện, nâng cao phẩm chất đạo đức, trình độ chuyên môn, năng lực quản lý và
trách nhiệm cá nhân.
PHẦN II: Đánh giá thực trạng chính sách giáo dục ,đào tạo và việc thực hiện chính
sách này ở Việt Nam.
1. Khái quát về thực trạng chính sách giáo dục, đào tạo và việc thực hiện chính
sách này ở Việt Nam nhằm nâng cao trí thức và phẩm chất của NLĐ ở Viết
Nam
1.1.Quy định chính sách ưu tiên tuyển sinh và hỗ trợ học tập đối với trẻ mẫu giáo,
học sinh, sinh viên dân tộc thiểu số rất ít người (Nghị định số: 57/2017/NĐ-CP)
Điều 3. Chính sách ưu tiên tuyển sinh
Trẻ mẫu giáo, học sinh, sinh viên dân tộc thiểu số rất ít người được ưu tiên vào học
tại các cơ sở giáo dục phù hợp theo nguyện vọng:
1. Trẻ mẫu giáo được học tại các trường mầm non; trường, lớp mẫu giáo công lập.
2. Học sinh tiểu học được học tại các trường phổ thông dân tộc bán trú, trường tiểu
học.
3. Học sinh hoàn thành chương trình tiểu học được vào học tại các trường phổ
thông dân tộc nội trú, trường phổ thông dân tộc bán trú, trường trung học cơ sở.
4. Học sinh tốt nghiệp trung học cơ sở được tuyển thẳng vào học tại các trường phổ
thông dân tộc nội trú, trường trung học phổ thông, cơ sở giáo dục nghề nghiệp đào
tạo trình độ sơ cấp và trung cấp.
5. Học sinh tốt nghiệp trung học phổ thông được xét tuyển thẳng vào học tại các
trường, khoa dự bị đại học, các cơ sở giáo dục đại học, các cơ sở giáo dục nghề
nghiệp.
Điều 4. Chính sách hỗ trợ học tập
1. Mức hỗ trợ:
a) Trẻ mẫu giáo dân tộc thiểu số rất ít người học tại các cơ sở giáo dục mầm non
được hưởng mức hỗ trợ học tập bằng 30% mức lương cơ sở/trẻ/tháng.
b) Học sinh dân tộc thiểu số rất ít người học tại các trường tiểu học, trường trung
3. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội
a) Kiểm tra, đánh giá, tổng hợp tình hình thực hiện chính sách quy định tại Nghị
định này đối với các cơ sở giáo dục nghề nghiệp, hằng năm báo cáo Bộ Giáo dục
và Đào tạo để tổng hợp báo cáo Thủ tướng Chính phủ.
b) Hướng dẫn các nội dung liên quan đến chính sách ưu tiên tuyển sinh đối với học
sinh, sinh viên dân tộc thiểu số rất ít người trong quy chế tuyển sinh của các cơ sở
giáo dục nghề nghiệp.
4. Ủy ban Dân tộc
Phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo, các bộ, ngành ở trung ương và các địa
phương chỉ đạo, kiểm tra, giám sát việc thực hiện các chính sách quy định tại Nghị
định này.
5. Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương
a) Chỉ đạo Sở Giáo dục và Đào tạo, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, các sở,
ban, ngành có liên quan, Ủy ban nhân dân cấp huyện tổ chức thực hiện đúng, đủ,
kịp thời chế độ, chính sách cho trẻ mẫu giáo, học sinh, sinh viên dân tộc thiểu số
rất ít người.
b) Chỉ đạo các cơ quan chức năng của địa phương thường xuyên kiểm tra, giám sát
bảo đảm việc thực hiện chính sách đúng đối tượng, mức hỗ trợ và thời gian hỗ trợ
của năm học; hằng năm tổng kết, đánh giá và báo cáo kết quả thực hiện chính sách
cho Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Tài chính, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội,
Ủy ban Dân tộc để tổng hợp báo cáo Thủ tướng Chính phủ.
1.2.Nghị định về phổ cập giáo dục, xóa mù chữ (Nghị định số 20/2014/NĐ-CP)
Điều 2. Chính sách đối với phổ cập giáo dục, xóa mù chữ
1. Nhà nước ưu tiên đầu tư, tạo điều kiện cho các cơ sở giáo dục thuộc hệ thống
giáo dục quốc dân thực hiện nhiệm vụ phổ cập giáo dục, xóa mù chữ; khuyến
khích và tạo điều kiện cho các tổ chức quốc tế, người nước ngoài, người Việt Nam
định cư ở nước ngoài tham gia vào việc thực hiện phổ cập giáo dục, xóa mù chữ ở
Việt Nam theo quy định của pháp luật.
dự toán ngân sách nhà nước hằng năm theo phân cấp.
Điều 35. Trách nhiệm của Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính, Bộ Giáo dục và Đào tạo cân đối nguồn hỗ trợ
của Trung ương để thực hiện phổ cập giáo dục và xóa mù chữ.
Điều 36. Trách nhiệm của các Bộ, ngành khác, các tổ chức chính trị - xã hội và
tổ chức khác
1. Các Bộ, ngành khác theo chức năng, nhiệm vụ được giao có trách nhiệm tham
gia thực hiện phổ cập giáo dục, xóa mù chữ.
2. Các tổ chức chính trị - xã hội và tổ chức khác trong phạm vi chức năng, nhiệm
vụ của mình tham gia thực hiện phổ cập giáo dục, xóa mù chữ.
Điều 37. Trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh
1. Chỉ đạo thực hiện quy hoạch mạng lưới trường học và thực hiện kế hoạch đầu tư
nâng cấp trường học phục vụ yêu cầu phổ cập giáo dục, xóa mù chữ.
2. Chỉ đạo thực hiện kế hoạch phổ cập giáo dục, xóa mù chữ của tỉnh.
3. Tổ chức kiểm tra, công nhận huyện đạt chuẩn phổ cập giáo dục xóa mù chữ.
4. Tổ chức thanh tra, kiểm tra việc thực hiện phổ cập giáo dục, xóa mù chữ.
5. Ban hành các chính sách phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của địa phương
để đẩy nhanh phổ cập giáo dục, xóa mù chữ trên địa bàn.
Điều 38. Trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp huyện
1. Chỉ đạo thực hiện quy hoạch mạng lưới trường học và thực hiện kế hoạch đầu tư
nâng cấp trường học phục vụ yêu cầu phổ cập giáo dục, xóa mù chữ.
2. Chỉ đạo thực hiện kế hoạch phổ cập giáo dục, xóa mù chữ của huyện.
3. Tổ chức kiểm tra, công nhận xã đạt chuẩn phổ cập giáo dục, xóa mù chữ.
4. Tuyên truyền, vận động các tổ chức, cá nhân tham gia phổ cập giáo dục, xóa mù
chữ.
Điều 39. Trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã
1. Xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch phổ cập giáo dục, xóa mù chữ của xã.
2. Tổ chức thực hiện phổ cập giáo dục, xóa mù chữ trên địa bàn.
đối tượng ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc
biệt khó khăn và đối tượng theo học các ngành đặc thù đáp ứng nhu cầu nhân lực
cho phát triển kinh tế - xã hội; thực hiện bình đẳng giới trong giáo dục đào tạo.
Điều 68. Nội dung quản lý nhà nước về giáo dục đại học
1. Xây dựng và chỉ đạo thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách phát
triển giáo dục đại học.
2. Ban hành và tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật về giáo dục đại học.
3. Quy định khối lượng, cấu trúc chương trình đào tạo, chuẩn đầu ra tối thiểu của
người học sau khi tốt nghiệp; tiêu chuẩn giảng viên; tiêu chuẩn cơ sở vật chất và
thiết bị của cơ sở giáo dục đại học; việc biên soạn, xuất bản, in và phát hành giáo
trình, tài liệu giảng dạy; quy chế thi và cấp văn bằng, chứng chỉ.
4. Quản lý việc bảo đảm chất lượng giáo dục đại học; quy định về tiêu chuẩn đánh
giá chất lượng giáo dục đại học, chuẩn quốc gia đối với cơ sở giáo dục đại học,
chuẩn đối với chương trình đào tạo các trình độ giáo dục đại học và yêu cầu tối
thiểu để chương trình đào tạo được thực hiện, quy trình, chu kỳ kiểm định chất
lượng giáo dục, quản lý nhà nước về kiểm định chất lượng giáo dục đại học.
5. Thực hiện công tác thống kê, thông tin về tổ chức và hoạt động giáo dục đại học.
6. Tổ chức bộ máy quản lý giáo dục đại học.
7. Tổ chức, chỉ đạo việc đào tạo, bồi dưỡng, quản lý giảng viên và cán bộ quản lý
giáo dục đại học.
8. Huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực để phát triển giáo dục đại học.
9. Tổ chức, quản lý công tác nghiên cứu, ứng dụng khoa học, công nghệ, sản xuất,
kinh doanh trong lĩnh vực giáo dục đại học.
10. Tổ chức, quản lý hoạt động hợp tác quốc tế về giáo dục đại học.
11. Quy định việc tặng danh hiệu vinh dự cho người có nhiều công lao đối với sự
nghiệp giáo dục đại học.
12. Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử
lý vi phạm pháp luật về giáo dục đại học.
Tổ chức, cá nhân có một trong các hành vi sau đây thì tùy theo tính chất, mức độ vi
phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính; cá nhân còn có thể bị truy
cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của
pháp luật:
1. Thành lập cơ sở giáo dục đại học hoặc tổ chức hoạt động giáo dục trái pháp luật;
2. Vi phạm các quy định về tổ chức, hoạt động của cơ sở giáo dục đại học;
3. Xuất bản, in, phát hành tài liệu trái pháp luật;
4. Làm hồ sơ giả, vi phạm quy chế tuyển sinh, thi cử và cấp văn bằng, chứng chỉ;
5. Xâm phạm nhân phẩm, thân thể giảng viên, cán bộ quản lý giáo dục; ngược đãi,
hành hạ người học;
6. Vi phạm quy định về bảo đảm chất lượng và kiểm định chất lượng giáo dục đại
học;
7. Gây rối, làm mất an ninh, trật tự trong cơ sở giáo dục đại học;
8. Làm thất thoát kinh phí, lợi dụng hoạt động giáo dục đại học để thu tiền sai quy
định hoặc vì mục đích vụ lợi;
9. Gây thiệt hại về cơ sở vật chất của cơ sở giáo dục đại học;
10. Các hành vi khác vi phạm pháp luật về giáo dục đại học.
1.4Luật giáo dục nghề nghiệp (Luật số 74/2014/QH13 của Quốc hội)
Điều 6. Chính sách của Nhà nước về phát triển giáo dục nghề nghiệp
1. Phát triển hệ thống giáo dục nghề nghiệp mở, linh hoạt, đa dạng theo hướng
chuẩn hóa, hiện đại hóa, dân chủ hóa, xã hội hóa và hội nhập quốc tế, liên thông
giữa các trình độ giáo dục nghề nghiệp và liên thông với các trình độ đào tạo khác.
2. Đầu tư cho giáo dục nghề nghiệp được ưu tiên trong kế hoạch phát triển kinh tế xã hội, phát triển nhân lực. Ngân sách cho giáo dục nghề nghiệp được ưu tiên trong
tổng chi ngân sách nhà nước dành cho giáo dục, đào tạo; được phân bổ theo
nguyên tắc công khai, minh bạch, kịp thời.
3. Đầu tư nâng cao chất lượng đào tạo, phát triển mạng lưới cơ sở giáo dục nghề
nghiệp theo quy hoạch; tập trung đầu tư hình thành một số cơ sở giáo dục nghề
nghiệp trọng điểm chất lượng cao đáp ứng nhu cầu nhân lực của thị trường lao
nghề hoặc khi chuyển sang học ngành, nghề khác thì không phải học lại những nội
dung đã học.
2. Hiệu trưởng trường trung cấp, trường cao đẳng căn cứ vào chương trình đào tạo
quyết định mô-đun, tín chỉ, môn học hoặc nội dung mà người học không phải học
lại.
3. Liên thông giữa các trình độ trong giáo dục nghề nghiệp được thực hiện theo
quy định của Thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục nghề nghiệp ở
trung ương; liên thông giữa các trình độ đào tạo của giáo dục nghề nghiệp với các
trình độ đào tạo của giáo dục đại học được thực hiện theo quy định của Thủ tướng
Chính phủ.
Điều 71. Trách nhiệm quản lý nhà nước về giáo dục nghề nghiệp
1. Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về giáo dục nghề nghiệp.
2. Cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục nghề nghiệp ở trung ương chịu trách
nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về giáo dục nghề nghiệp và có
các nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
a) Xây dựng, trình cấp có thẩm quyền ban hành hoặc ban hành theo thẩm quyền và
tổ chức thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách phát triển giáo dục
nghề nghiệp;
b) Xây dựng, trình cấp có thẩm quyền ban hành hoặc ban hành theo thẩm quyền và
tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về giáo dục nghề nghiệp;
c) Quy định mục tiêu, nội dung và phương pháp đào tạo; tiêu chuẩn nhà giáo; danh
mục nghề đào tạo ở các trình độ; tiêu chuẩn cơ sở vật chất và thiết bị đào tạo; ban
hành quy chế tuyển sinh, kiểm tra, thi, xét công nhận tốt nghiệp và cấp văn bằng,
chứng chỉ đào tạo trong giáo dục nghề nghiệp;
d) Quy định việc đăng ký và cấp giấy chứng nhận đăng ký hoạt động giáo dục
nghề nghiệp;
đ) Quản lý và tổ chức thực hiện việc kiểm định chất lượng giáo dục nghề nghiệp;
e) Thực hiện công tác thống kê, thông tin về tổ chức và hoạt động đào tạo nghề
nghiệp;
a) Thanh tra việc thực hiện pháp luật, chính sách về giáo dục nghề nghiệp;
b) Phát hiện, ngăn chặn và xử lý theo thẩm quyền hoặc kiến nghị cơ quan nhà nước
có thẩm quyền xử lý các vi phạm pháp luật về giáo dục nghề nghiệp;
c) Xác minh, kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố
cáo về giáo dục nghề nghiệp;
d) Các nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của pháp luật về thanh tra.
3. Tổ chức và hoạt động của thanh tra chuyên ngành về giáo dục nghề nghiệp được
thực hiện theo quy định của pháp luật về thanh tra.
Điều 73. Xử lý vi phạm
1. Người nào có một trong các hành vi sau đây thì tùy theo tính chất, mức độ vi
phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm
hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật:
a) Thành lập cơ sở giáo dục nghề nghiệp hoặc tổ chức hoạt động giáo dục nghề
nghiệp trái quy định của pháp luật;
b) Vi phạm các quy định về tổ chức, hoạt động của cơ sở hoạt động giáo dục nghề
nghiệp;
c) Xuất bản, in, phát hành tài liệu trái quy định của pháp luật;
d) Làm hồ sơ giả, vi phạm quy chế tuyển sinh, kiểm tra, thi, xét công nhận tốt
nghiệp và cấp văn bằng, chứng chỉ;
đ) Xâm phạm nhân phẩm, thân thể nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục nghề nghiệp;
ngược đãi, hành hạ người học;
e) Vi phạm quy định về kiểm định chất lượng giáo dục nghề nghiệp;
g) Gây rối, làm mất an ninh, trật tự trong cơ sở hoạt động giáo dục nghề nghiệp;
h) Làm thất thoát kinh phí, lợi dụng hoạt động giáo dục nghề nghiệp để thu tiền sai
quy định hoặc vì mục đích vụ lợi;
i) Gây thiệt hại về cơ sở vật chất của cơ sở hoạt động giáo dục nghề nghiệp;
k) Các hành vi khác vi phạm pháp luật về giáo dục nghề nghiệp.
1. Tham mưu cho Ủy ban nhân cấp tỉnh hướng dẫn, chỉ đạo việc thực hiện Thông
tư này trên địa bàn.
2. Chủ trì, phối hợp với cơ quan tài chính, thanh tra và các đơn vị có liên quan tổ
chức thanh tra, kiểm tra việc thực hiện, kịp thời chấn chỉnh và xử lý những trường
hợp sai phạm.
3. Phê duyệt kế hoạch vận động tài trợ của cơ sở giáo dục cấp trung học phổ thông
và các cơ sở giáo dục khác trực thuộc đảm bảo phù hợp với nhiệm vụ triển khai
năm học.
4. Tổng hợp báo cáo Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tình hình vận động, tiếp nhận, quản
lý và sử dụng tài trợ của cơ sở giáo dục thuộc thẩm quyền quản lý.
Điều 11. Trách nhiệm của phòng giáo dục và đào tạo
1. Chủ trì, phối hợp với cơ quan tài chính, thanh tra và các đơn vị có liên quan tổ
chức thanh tra, kiểm tra việc thực hiện Thông tư này, kịp thời chấn chỉnh và xử lý
những trường hợp sai phạm.
2. Phê duyệt Kế hoạch vận động tài trợ của cơ sở giáo dục mầm non, cơ sở giáo
dục cấp tiểu học, trung học cơ sở đảm bảo phù hợp với nhiệm vụ triển khai năm
học.
3. Tổng hợp báo cáo Ủy ban nhân dân cấp huyện tình hình vận động, tiếp nhận,
quản lý và sử dụng tài trợ của cơ sở giáo dục thuộc thẩm quyền quản lý.
Điều 12. Trách nhiệm của thủ trưởng cơ sở giáo dục
Thủ trưởng cơ sở giáo dục chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc vận động, tiếp
nhận, quản lý và sử dụng các khoản tài trợ cho cơ sở giáo dục, cụ thể:
1. Tổ chức thực hiện các quy định tại Thông tư này; thực hiện tổng kết, đánh giá
nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả việc vận động, tiếp nhận, quản lý và sử
dụng tài trợ.
2. Phê duyệt báo cáo quyết toán các khoản tài trợ theo quy định tại Khoản 3 Điều 8
Thông tư này; gửi kết quả thực hiện đến cơ quan quản lý cấp trên và nhà tài trợ.
3. Thành lập Tổ tiếp nhận tài trợ theo quy định tại Khoản 1 Điều 6 Thông tư này.
Hội đồng trường đối với cơ sở giáo dục công lập, Hội đồng quản trị đối với cơ sở
giáo dục dân lập, tư thục (sau đây gọi là Hội đồng trường) có trách nhiệm sau:
1. Thông qua kế hoạch tài trợ đối với cơ sở giáo dục mầm non, tiểu học, trung học
cơ sở, trung học phổ thông trước khi trình sở giáo dục và đào tạo, phòng giáo dục
và đào tạo phê duyệt; Phê duyệt kế hoạch vận động tài trợ đối với trường trung cấp
sư phạm, trường cao đẳng sư phạm, cơ sở giáo dục đại học.
2. Kiểm tra, giám sát việc thực hiện quy trình vận động, tiếp nhận, quản lý và sử
dụng tài trợ của cơ sở giáo dục theo đúng quy định tại Thông tư này.
Điều 15. Khen thưởng và xử lý vi phạm
1. Nhà tài trợ có đóng góp tích cực cho sự nghiệp phát triển giáo dục và đào tạo
được thủ trưởng cơ sở giáo dục và các cơ quan quản lý cơ sở giáo dục vinh danh
theo thẩm quyền hoặc đề xuất với cấp trên các hình thức khen thưởng theo quy
định của Luật Thi đua khen thưởng.
2. Các cơ quan, tổ chức, cá nhân và thủ trưởng cơ sở giáo dục nhận tài trợ thực
hiện quy trình vận động, tiếp nhận, quản lý và sử dụng tài trợ trái với quy định tại
Thông tư này thì tùy theo mức độ vi phạm sẽ bị xử lý hành chính hoặc bị truy cứu
trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.
2. Đánh giá chính sách giáo dục, đào tạo tại Việt Nam.
*Ưu điểm:
Nhìn chung thì việc thực hiện những chính sách giáo dục và đào tạo ở Việt Nam đã
đạt được những ưu điểm sau:
-Hiện nay, hệ thống giáo dục ở nước ta đã khá hoàn chỉnh từ bậc mầm non đến sau
đại học; hầu hết các bản, làng, xã, phường đều có trường lớp tiểu học; trường trung
học cơ sở được xây dựng ở các xã hoặc cụm liên xã; trường trung học phổ thông
được xây ở các huyện, một số huyện có 2 ÷ 3 trường. Hệ thống giáo dục ở nước ta
về cơ bản đã đáp ứng được như cầu học tập của nhân dân. Đến nay, hầu hết người
dân trong độ tuổi đi học đều được đến trường.
-Thứ nhất, mức hưởng thụ về đào tạo của người dân ngày càng tăng lên thể hiện ở:
cho giáo dục, đào tạo.
- Việc phân định giữa quản lý nhà nước với hoạt động quản trị trong các cơ sở giáo
dục, đào tạo chưa rõ. Công tác quản lý chất lượng, thanh tra, kiểm tra, giám sát
chưa được coi trọng đúng mức. Sự phối hợp giữa các cơ quan nhà nước, tổ chức xã
hội và gia đình chưa chặt chẽ. Nguồn lực quốc gia và khả năng của phần đông gia
đình đầu tư cho giáo dục và đào tạo còn thấp so với yêu cầu.
- Chương trình giáo dục còn coi nhẹ thực hành, vận dụng kiến thức; phương pháp
giáo dục, kiểm tra, thi và đánh giá lạc hậu, thiếu thực chất; thiếu gắn kết giữa đào
tạo với nghiên cứu khoa học, sản xuất, kinh doanh và nhu cầu của thị trường lao
động; chưa chú trọng đúng mức việc giáo dục đạo đức, lối sống và kĩ năng làm
việc.
- Chính sách về giáo dục đào tạo còn nhiều bất cập, phạm vi tự chủ đại học còn
hẹp; quản lý đào tạo chưa theo chuẩn quốc tế nên hạn chế trong liên thông, liên
kết, trao đổi sinh viên giữa Việt Nam với nước ngoài.
3. Kết quả chính sách giáo dục, đào tạo và việc thực hiện chính sách này ở Việt
Nam nhằm nâng cao trí thức và phẩm chất của NLĐ ở VN.
Trong những năm vừa qua, phát triển nguồn nhân lực thông qua giáo dục và
đào tạo luôn được nhà nước ta chú trọng phát triển trên mọi lĩnh vực dưới nhiều
hình thức khác nhau nhằm đảm bảo nguồn lực cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa
cả về số lượng và chất lượng. Nghị quyết đại hội Đảng lần thứ IX đã định hường
cho nguồn nhân lực Việt Nam “ Người lao động có trí tuệ cao, có tay nghề thành
thạo, có phẩm chất tốt đẹp, được đào tạo bồi dưỡng và phát triển bởi một nên giáo
dục tiên tiến gắn với một nền khoa học – công nghệ và hiện đại.
Trên thực tế, các chính sách giáo dục , đào tạo nhằm nâng cao trí thức, phẩm
chất của người lao động ở nước ta đã đạt được một số thành tựu nhất định xong
vaanxconf nhiều bất cập, cụ thể là:
235 trường đại học, 1,76 triệu sinh viên
Theo thống kê của Bộ GD-ĐT, tính đến hết năm học 2016-2017, hệ thống hiện
có 235 trường đại học, học viện (bao gồm 170 trường công lập, 60 trường tư thục
Tính đến tháng 6/2017, các Viện NCKH mới tuyển được khoảng 38% NCS so với
chỉ tiêu đã đăng ký.
Tính từ đầu năm 2016 đến 31/7/2017, tổng số ngành mở mới ở trình độ đại
học là 184 ngành, tập trung chủ yếu vào các nhóm ngành Kỹ thuật, Công nghệ kỹ
thuật, Máy tính và Công nghệ thông tin, Khoa học xã hội và hành vi, Kinh doanh
quản lý, Pháp luật.
Số lượng ngành mới mở trong năm 2017 theo nhóm ngành.
Tuy nhiên, theo đánh giá của Bộ GD-ĐT, nhiều trường vẫn chưa quan tâm
đầu tư các điều kiện đảm bảo chất lượng đào tạo để đáp ứng quy mô tuyển sinh;
đội ngũ giảng viên, đặc biệt là giảng viên cơ hữu chưa đáp ứng yêu cầu về trình độ
chuyên môn; nguồn lực tài chính phân tán; chưa đầu tư dự báo thị trường nên các
ngành đào tạo còn trùng lặp, chồng chéo trong một địa bàn...
Nhiều nơi mở ngành đào tạo vẫn dựa vào năng lực và kinh nghiệm vốn có,
dẫn đến những ngành xã hội cần thì lại thiếu. Đó là những nguyên nhân khiến cơ
cấu ngành nghề chưa hợp lý và chất lượng đào tạo hạn chế, chưa đáp ứng nhu cầu
phục vụ phát triển KT-XH của đất nước.
Gần 73.000 giảng viên, hơn 16.500 tiến sĩ
Về phát triển đội ngũ giảng viên, năm học 2016-2017, tổng số giảng viên trong các
trường đại học là 72.792 người , tăng 4,6% so với năm học 2015-2016, trong đó
giảng viên có trình độ tiến sĩ là 16.514 (tăng 21,4%) và thạc sĩ là 43.065 (tăng
6,6%).