ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGUYỄN THỊ VANG
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ,
BỆNH LÝ LÂM SÀNG BỆNH SÁN LÁ GAN LỚN
Ở TRÂU, BÒ TẠI TỈNH HÀ GIANG VÀ
BIỆN PHÁP PHÒNG TRỊ
NGÀNH: THÚ Y
MÃ SỐ: 8.64.01.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ THÚ Y
Người hướng dẫn khoa học : TS. Trần Đức Hạnh
TS. Phan Thị Hồng Phúc
Thái Nguyên, năm 2018
i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi. Dưới sự hướng
dẫn của TS. Phan Thị Hồng Phúc và TS. Trần Đức Hạnh. Số liệu và kết
quả nghiên cứu trong luận văn là hoàn toàn trung thực, khách quan và chưa
từng được sử dụng để bảo vệ một học vị nào.
Tôi xin cam đoan các trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn
gốc và mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đều được cảm ơn.
Thái Nguyên, tháng 08 năm 2018
Tác giả
Nguyễn Thị Vang
iii
Nguyễn Thị Vang
DANH MỤC CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT
cs
: Cộng sự
F.
: Fasciola
GOT
: Glutamat- Oxaloacetat- transaminaza.
GPT
: Glutamat- Pyruvat- Transaminaza.
Hb
: Hemoglobin
HST
: Huyết sắc tố
L
MỞ ĐẦU ........................................................................................................... 1
1. Tính cấp thiết của đề tài ................................................................................ 1
2. Mục tiêu nghiên cứu ...................................................................................... 2
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài ...................................................... 2
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU ............................................................ 3
1.1. Cơ sở khoa học của đề tài .......................................................................... 3
1.1.1. Vị trí của sán lá Fasciola trong hệ thống phân loại động vật học ........... 3
1.1.2. Đặc điểm hình thái của sán lá Fasciola ................................................... 3
1.1.3. Vòng đời của sán lá Fasciola ................................................................. 4
1.2. Đặc điểm của bệnh do sán lá Fasciola gây ra ở trâu, bò ............................ 7
1.2.2. Đặc điểm dịch tễ bệnh sán lá Fasciola ở trâu bò ..................................... 9
1.2.3. Triệu chứng bệnh sán lá gan ở trâu bò .................................................. 13
1.2.4. Bệnh tích của trâu, bò mắc bệnh sán lá gan .......................................... 14
1.2.5. Chẩn đoán bệnh sán lá Fasciola ở trâu bò ............................................. 14
1.2.6. Phòng và trị bệnh sán lá Fasciola ở trâu bò .......................................... 15
1.3. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước .............................................. 17
1.3.1. Tình hình nghiên cứu trong nước .......................................................... 17
1.3.2. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài ...................................................... 19
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, VẬT LIỆU, NỘI DUNG ................................... 21
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ............................................................ 21
2.1. Đối tượng, địa điểm, thời gian nghiên cứu .............................................. 21
2.1.1. Đối tượng nghiên cứu............................................................................ 21
2.1.2. Địa điểm nghiên cứu ............................................................................. 21
2.1.3. Thời gian nghiên cứu ............................................................................ 21
2.2. Vật liệu nghiên cứu .................................................................................. 21
v
2.2.1. Mẫu nghiên cứu ..................................................................................... 21
2.2.2. Dụng cụ và hoá chất .............................................................................. 22
3.3.2. Bệnh tích đại thể của gan trâu, bò nhiễm sán lá gan ............................. 46
3.3.3. Bệnh tích vi thể của gan trâu, bò mắc bệnh sán lá gan ......................... 48
3.3.4. Số lượng hồng cầu, bạch cầu và hàm lượng huyết sắc tố của trâu, bò
mắc bệnh sán lá gan ........................................................................................ 52
3.4. Nghiên cứu hiệu lực tẩy sán lá gan của một số loại thuốc ....................... 54
3.4.1. Hiệu lực của thuốc tẩy sán lá gan cho trâu, bò ..................................... 54
3.4.2. Độ an toàn của thuốc tẩy sán lá gan trâu bò ......................................... 56
3.5. Đề xuất biện pháp phòng chống bệnh sán lá gan cho trâu, bò ở tỉnh
Hà Giang ......................................................................................................... 60
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ ............................................................................. 62
1. Kết luận ....................................................................................................... 62
1.1. Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ bệnh sán lá gan trâu, bò ở 3 huyện của tỉnh
Hà Giang: ........................................................................................................ 62
2. Đề nghị ........................................................................................................ 63
TÀI LIỆU THAM KHẢO .............................................................................. 64
vii
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1. Kết quả mổ khám trâu, bò và thu thập sán lá gan .......................... 28
Bảng 3.2. Kết quả xác định loài sán lá gan ký sinh ở trâu, bò ........................ 30
Bảng 3.3. Tỷ lệ và cường độ nhiễm sán lá gan ở trâu, bò tại các địa phương 31
Bảng 3.4. Tỷ lệ và cường độ nhiễm sán lá gan ở trâu, bò theo mùa vụ .......... 34
Bảng 3.5. Tỷ lệ và cường độ nhiễm sán lá gan trâu, bò theo tính biệt ........... 35
Bảng 3.6. Tỷ lệ và cường độ nhiễm sán lá gan trâu, bò theo tuổi .................. 38
Bảng 3.7. Tỷ lệ và cường độ nhiễm sán lá gan trâu, bò theo phương thức
chăn nuôi ......................................................................................................... 40
Bảng 3.8. Một số biểu hiện triệu chứng của trâu, bò bị nhiễm sán lá gan ...... 44
Bảng 3.9. Bệnh tích đại thể gan bò bị sán lá gan ký sinh ............................... 46
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Bệnh sán lá gan ở trâu, bò (Fasciolosis) do hai loài sán lá Fasciola
hepatica và Fasciola gigantica gây ra, được coi là bệnh ký sinh trùng phổ
biến và gây thiệt hại lớn về kinh tế cho ngành chăn nuôi trâu, bò trên toàn thế
giới nói chung và Việt Nam nói riêng.
Sán lá gan ký sinh gây nhiều tác hại đến sức sinh trưởng, sinh sản ở trâu,
bò; mỗi sán ký sinh ở ống dẫn mật lấy 0,2ml máu mỗi ngày làm tổn thương
thành ống dẫn mật, xơ gan, thiếu máu…tiết độc tố gây trúng độc, viêm nhiễm
tăng sinh ở nhu mô gan…
Nguy hiểm hơn bệnh sán lá gan ở trâu, bò còn truyền lây sang người gây
viêm gan, xơ gan thậm chí biến chứng ung thư gan ở người.
Hà Giang là một tỉnh miền núi, đất trồng cỏ rộng thuận lợi cho ngành
chăn nuôi trâu, bò. Là một trong những ngành nghề trọng điểm của tỉnh trong
những năm gần đây vì vậy chăn nuôi trâu, bò được đánh giá có tiềm năng rất
phát triển.
Ngày 10 tháng 12 năm 2015, Nghị quyết 209 của Hội đồng nhân dân
tỉnh Hà Giang khóa XVI kỳ họp thứ 16, về việc ban hành chính sách khuyến
khích phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hóa trên địa bàn tỉnh Hà Giang,
trong đó có nghề chăn nuôi trâu, bò là trọng tâm. Tuy nhiên, các bệnh ký sinh
trùng trên trâu, bò chưa được người chăn nuôi quan tâm đúng mức do trình
độ và kinh nghiệm của người chăn nuôi còn hạn chế, một số bà con chăn nuôi
không nói được tiếng kinh nên chưa tiếp cận được khoa học cũng như kỹ
thuật chăn nuôi trâu, bò. Đặc biệt bà con chăn nuôi chưa phân biệt cụ thể về
tẩy sán lá gan với tẩy giun nên việc phòng trị bệnh sán lá gan cho trâu, bò tại
tỉnh Hà Giang còn nhiều bất cập. Trong những năm qua, việc nghiên cứu về
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Cơ sở khoa học của đề tài
1.1.1. Vị trí của sán lá Fasciola trong hệ thống phân loại động vật học
Theo Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [19], sán lá gan ký sinh và gây bệnh
cho gia súc nhai lại được xếp trong hệ thống phân loại động vật như sau:
Ngành Plathelminthes Schneider, 1873
Phân ngành Platodes Leuckart, 1954
Lớp Trematoda Rudolphhi, 1808
Phân lớp Prosostomadidea Skrjabin và Guschanskaja, 1962
Bộ Fasciolata Skrjabin et Schulz, 1937
Phân bộ Fasciolata Skrjabin et Schulz, 1937
Họ Fasciolidae Railliet, 1895
Phân họ Fasciolinae Stiles et Hassall, 1898
Giống Fasciola Linnaeus (Linnaeus, 1758)
Loài Fasciola hepatica (Linnaeus,1758)
Loài Fasciola gigantica (Cobbold, 1885)
1.1.2. Đặc điểm hình thái của sán lá Fasciola
Cũng như nhiều loài sán lá khác, sán lá gan lưỡng tính, có thể thụ tinh
chéo hoặc tự thụ tinh. Sán lá có giác miệng và giác bụng, giác bụng không nối
với cơ quan tiêu hoá. Sán lá không có hệ hô hấp, tuần hoàn và cơ quan thị
giác (ở giai đoạn mao ấu có dấu vết sắc tố mắt). Hệ sinh dục rất phát triển với
cả bộ phận sinh dục đực và cái trong cùng một sán lá. Tử cung sán lá chứa
đầy trứng.
Có thể phân biệt hai loài sán lá gan thuộc giống Fasciola như sau:
- F.gigantica (Linnaeus, 1758): có chiều dài thân gấp 3 lần chiều rộng,
"vai" không có hoặc nhìn không rõ rệt, nhánh ruột chia toả ra nhiều nhánh ngang.
4
5
không có khả năng thoát vỏ nhưng vẫn tồn tại đến 8 tháng trong vỏ.
Miracidium có hình tam giác, xung quanh thân có lông và di chuyển được
trong nước. Khi gặp vật chủ trung gian thích hợp (ốc Lymnaea), Miracidium
xâm nhập cơ thể ốc và phát triển thành bào ấu (Sporocyst). Những
Miracidium không gặp vật chủ trung gian thì rụng lông, rữa dần và chết.
Bào ấu (Sporocyst) hình túi, màu sán lá, được bao bọc bởi lớp màng
mỏng, các tế bào ngọn lửa hoạt động hình thành hầu, ống ruột và các đám
phôi. Trong 1 ốc có thể có 1 - 2 ấu trùng. Khoảng 3 - 7 ngày, bào ấu sinh sản
vô tính cho ra nhiều Redia (lôi ấu). Một bào ấu sinh ra 5 - 15 lôi ấu.
Redia hình suốt chỉ, ít hoạt động, có miệng, hầu, ruột, hình túi đơn gian.
Có hai hệ: Redia thế hệ I và Redia thế hệ II cùng phát triển trong ốc - vật chủ
trung gian. Ở nhiệt độ 16oc hoặc thấp hơn, lôi ấu chỉ sinh sản Redia I và dừng
phát triển, ở nhiệt độ phù hợp (20 - 30oc), sau 29 - 35 ngày, lôi ấu biến thành
vĩ ấu (Cercaria). Một Redia có thể sinh ra 12 - 20 Cercaria.
Cercaria (vĩ ấu) là ấu trùng ở pha sống tự do của sán lá gan, có cấu tạo
thân hình tròn lệch, đuôi dài hơn thân giúp vĩ ấu vận chuyển được dễ dàng
trong nước. Cấu tạo của vĩ ấu gồm giác miệng, giác bụng, hầu, thực quản và
ruột phân thành hai nhánh.
Theo Grigoryan G. A. (1958)[40], trong cơ thể Cercaria có những dạng
Glycogen cung cấp năng lượng cho hoạt động sống của ấu trùng, đặc biệt là
cho sự vận động không ngừng của đuôi. Đuôi là cơ quan vận động của vĩ ấu.
Theo một số tác giả, đuôi làm nhiệm vụ thay đổi vị trí của ấu trùng trong môi
trường nước. Lora R. Ballweber, M. S., D. V. M. (2015)[43] cho biết, nhờ sự
hoạt động tích cực của đuôi mà vĩ ấu tiếp cận để bám vào các cây thuỷ sinh,
tạo thành kén (Adolescaria).
Từ khi Miracidium chui vào ốc đến khi phát triển thành Cercaria cần
khoảng 50 - 80 ngày. Sau khi thành thục, Cercaria thoát khỏi vỏ ốc, ra môi
trường ngoài, bơi tự do trong nước, có kích thước 0,28 - 0,30mm chiều dài và
non cần 7 - 14 ngày, thành vĩ ấu trưởng thành cần 13 - 14 ngày.
7
- Ở ngoài ốc vật chủ trung gian: vĩ ấu phát triển thành kén (Adolescaria)
sau 2 giờ.
- Ở trâu, bò: khi trâu bò, bê nghé nuốt phải Adolescaria, sau 79 - 88 ngày
trong ống dẫn mật của trâu bò đã có sán lá gan trưởng thành đẻ trứng theo
phân ra ngoài.
Điều kiện nhiệt độ và ẩm độ của nước ta rất thuận lợi cho sự nhiễm và
gây bệnh sán lá gan (kể cả gây nhiễm và nhiễm tự nhiên). Ở những vùng có
mầm bệnh tồn tại, trung bình 3 tháng sán lá gan lại hoàn thành vòng đời trong
cơ thể trâu, bò, nghĩa là trâu cứ 3 tháng lại tạo ra một đời sán lá mới. Trong
khi trâu bò đã có sán lá gan ký sinh, tiếp tục nhiễm thêm mầm bệnh mới, gây
tình trạng bội nhiễm sán lá gan, vì vậy cường độ nhiễm tăng lên theo tuổi
trâu, bò.
As, to, pH
Phân
Mao ấu
Trứng
Fasciola
(ống dẫn mật)
MT nước
Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (2008) [12], sán lá gan gây bệnh ở vật
chủ bằng các tác động cơ học, tác động của độc tố, sự chiếm đoạt dinh dưỡng
và tác động mang trùng. Khi trâu bò mới nhiễm bệnh, sán lá non di hành
trong cơ thể làm tổn thương ở ruột, thành mạch máu, nhu mô gan. Một số ấu
trùng có thể theo máu di chuyển "lạc chỗ" đến phổi, lách, cơ hoành, tuyến
tuỵ,...gây tổn thương và xuất huyết nặng hoặc nhẹ. Sán lá non xuyên qua các
nhu mô gan, làm tổ chức gan bị phá hoại, tạo ra những đường di hành đầy
máu và mảnh tổ chức gan bị phá huỷ. Gan bị viêm từ nhẹ đến nặng tùy theo
số lượng ấu trùng nhiễm vào cơ thể. Trâu bò bị thiếu máu do xuất huyết, có
thể chết do mất máu.
Tác động cơ giới của sán lá còn tiếp tục khi sán lá đã vào ống dẫn mật,
tiếp tục tăng lên về kích thước và phát triển thành sán lá trưởng thành. Sán lá
trưởng thành thường xuyên kích thích niêm mạc ống mật bằng các gai cutin
trên cơ thể, gây viêm ống mật. Số lượng sán lá nhiều có thể làm tắc ống mật,
mật ứ lại không xuống ruột được sẽ tràn vào máu, gây hiện tượng hoàng đản.
Trong quá trình ký sinh, sán lá thường xuyên tiết độc tố. Độc tố tác động
vào thành ống mật và mô gan, gây biến đổi đại thể và vi thể, làm tăng quá
trình viêm. Đồng thời, độc tố của sán lá còn hấp thu vào máu, gây hiện tượng
trúng độc toàn thân, gây huỷ hoại máu, làm biến chất protein trong máu, làm
albumin giảm, globulin tăng. Độc tố của sán lá còn làm tăng nhiệt độ cơ thể,
tăng bạch cầu (đặc biệt là bạch cầu ái toan). Độc tố của sán lá còn tác động
vào thần kinh, làm cho con vật có triệu chứng thần kinh (run rẩy, đi xiêu
vẹo,…). Độc tố của sán lá gan tác động vào thành mạch máu, làm tăng tính
thẩm thấu của thành mạch, gây hiện tượng thuỷ thũng, làm cho máu đặc lại.
Cũng do tác động của độc tố nên giữa những tiểu thuỳ gan có hiện tượng
thấm nhiễm huyết thanh và tế bào, hình thành nên các mô liên kết mới dọc
theo các vách ngăn của tiểu thuỳ gan và quanh ống mật, vì vậy những ống
9
10
Kết quả kiểm tra trâu, bò ở một số địa phương xung quanh Hà Nội, Bắc
Giang, Thái Nguyên, Hoà Bình, tỷ lệ nhiễm sán lá gan là 44,53%. Trong đó,
trâu nhiễm 33,92%, bò nhiễm 54,21% (Lương Tố Thu và Bùi Khánh Linh,
1996 [29]).
Tỷ lệ và cường độ nhiễm sán lá gan ở gia súc nhai lại phụ thuộc vào
những yếu tố sau:
- Yếu tố thời tiết, khí hậu và mùa vụ:
Thời tiết, khí hậu của một vùng, một khu vực có liên quan trực tiếp đến
sự tồn tại và phát triển của ốc - vật chủ trung gian của sán lá gan. Điều kiện
ẩm ướt, mưa nhiều tạo ra môi trường nước, giúp ốc nước ngọt sống và sinh
sản thuận lợi.
Trịnh Văn Thịnh (1978) [28], Phạm Văn Khuê và Phan Lục (1996)[9],
Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999)[11] … cho biết, trâu bò nhiễm sán lá gan
thường tăng lên vào mùa vật chủ trung gian phát triển. Những năm mưa, tỷ lệ
nhiễm sán lá gan tăng lên so với những năm nắng ráo và khô hạn. Mùa vụ gắn
liền với sự thay đổi thời tiết khí hậu. Mùa hè thu, số gia súc bị nhiễm sán lá gan
tăng cao hơn các mùa khác trong năm. Cuối mùa thu và mùa đông bệnh thường
phát ra.
- Yếu tố vùng và địa hình
Vùng và địa hình là hai khái niệm khác nhau, song có liên quan chặt chẽ
với nhau. Các vùng khác nhau có địa hình không giống nhau. Địa hình là yếu
tố quan trọng quyết định sự khác nhau giữa các vùng.
Các vùng khác nhau trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng đều
thuộc bốn loại địa hình: ven biểu, đồng bằng, trung du và miền núi.
Hầu hết các nhà ký sinh trùng học thống nhất rằng, gia súc nhai lại ở
vùng đồng bằng nhiễm sán lá gan nhiều nhất, tỷ lệ và cường độ nhiễm giảm
dần đối với đàn gia súc nhai lại ở vùng ven biển, vùng trung du và vùng núi.
5 - 8 năm tuổi nhiễm 42,4% - 57,5%, trâu trên 8 năm tuổi nhiễm 56,8 66,3%, trâu ở độ tuổi phế canh (loại thải) khi mổ khám thấy tỷ lệ nhiễm cao
12
tới 84,6% (những trâu này bị bệnh rất nặng, gan phải huỷ bỏ toàn bộ do có
quá nhiều sán lá ký sinh).
- Vật chủ trung gian của Fasciola spp.
Sự phân bố các loài ốc - vật chủ trung gian của sán lá gan phụ thuộc vào
các vùng địa lý khác nhau. Theo Phạm Văn Khuê và Phan Lục (1996), vật
chủ trung gian của sán lá Fasciola là các loài ốc nước ngọt Lymnaea: L.
auricularia, L. swinhoei, L.viridis, Agalba truncatula, Radix ovata.
Phan Địch Lân và cs (1985) [16] đã nghiên cứu đặc điểm sinh học của ốc
- vật chủ trung gian của F.gigantica ở miền Bắc Việt Nam. Tác giả cho biết,
vật chủ trung gian của sán lá Fasciola là hai loài ốc nước ngọt thuộc giống
Lymnae với tên gọi là ốc vành tai (L.swinhoei) và ốc chanh (L.viridis). Loài
swinhoei có vỏ mỏng, dễ vỡ, không có nắp miệng, kích thước 20mm, vòng
xoắn cuối cùng rất lớn, chiếm gần hết phần thân, vỏ loe ra như vành tai. Loài
L. viridis cũng có vỏ mỏng, không có nắp miệng, kích thước 10mm, vỏ dễ vỡ,
có 4 - 5 vòng xoắn cuối cùng lớn.
Ốc L.viridis thường sống ở những nơi nước xâm xấp, đẻ trứng thành ổ 7
- 10 trứng sau 7 ngày nở thành ốc con, ốc L.swinhoei thường sống trôi nổi ở
cống rãnh, ao, hồ, đẻ trứng quanh năm, mỗi ổ có 60 - 150 trứng. Trong điều
kiện nhiệt độ ở nước ta, ốc đẻ quanh năm và quanh năm có ốc con được nở ra.
Theo Nguyễn Trọng Kim (1997) [10], giữa tỷ lệ nhiễm ấu trùng sán lá
gan của ốc - vật chủ trung gian với tỷ lệ nhiễm sán lá gan của trâu, bò có mối
tương quan thuận, nghĩa là nếu tỷ lệ nhiễm ấu trùng sán lá gan ở ốc nước ngọt
cao thì tỷ lệ nhiễm sán lá gan của trâu, bò ở khu vực đó cũng cao.
- Sức đề kháng của trứng và ấu trùng sán lá gan:
Trứng sán lá gan được thải theo phân trâu bò ra môi trường ngoại
nuôi dưỡng tốt và sán lá ở giai đoạn trưởng thành, ký sinh trong ống dẫn mật
với số lượng ít. Thể mãn tính thường xuất hiện sau thể cấp tính 1 - 2 tháng.
Nhìn chung, khi trâu bò bị bệnh sán lá gan kéo dài, nếu không được điều
trị kịp thời thì trâu bò thường chết trong tình trạng thiếu máu, ỉa chảy và suy kiệt.
14
1.2.4. Bệnh tích của trâu, bò mắc bệnh sán lá gan
Tuỳ theo mức độ nhiễm sán lá mà bệnh tích có sự khác nhau.
Đối với trâu bò nhiễm sán lá nặng, bệnh tích thấy rõ là viêm gan cấp
tính, gan sưng to, màu nâu sẫm, xung huyết. Trên mặt gan có thể thấy những
đường di hành của sán lá non tạo thành những vệt đỏ thẫm, dài 2 - 4mm,
trong có sán lá non với số lượng nhiều. Lớp thanh mạc xuất huyết nhẹ, đôi khi
có tơ huyết. Khi nhiễm nặng thấy viêm phúc mạc, gan xuất huyết nhiều, niêm
mạc mắt nhợt nhạt.
Ở những trâu bò nhiễm sán lá gan đã lâu, gan viêm mãn tính, những chỗ
mô gan bị phá huỷ tạo thành sẹo mầu vàng xám. Gan xơ cứng, niêm mạc ống
dẫn mật dầy, có hiện tượng canxi hoá mặt trong thành ống. Lòng ống dẫn mật
giãn rộng, chứa đầy dịch màu nâu và sán lá Fasciola. Khi ống mật bị canxi
hoá nhiều, sán lá ở chỗ đó thường bị chết hoặc chuyển đến chỗ ít biến đổi hơn.
Nghiên cứu bệnh sán lá gan ở trâu bò, Phan Địch Lân (1985) [16] cho
biết: khi mổ khám trâu bò bị bệnh sán lá gan thấy có bệnh tích đặc biệt là gan
to hơn nhiều so với bình thường (gấp 2 - 3 lần). Gan màu đỏ sẫm, biểu hiện
xung huyết. Dưới vỏ gan thấy ứ nước, trên mặt gan còn giữ lại những đường
ngoằn nghèo do sán lá di hành. Tổ chức liên kết phát triển tạo nên những sẹo
đặc biệt. Trong gan còn thấy những sán lá non không đến được ống dẫn mật,
đóng kén to bằng hạt đậu và chết trong kén. Cắt tổ chức gan thấy lạo xạo do
biến chất thoái hoá. Do tăng sinh tổ chức liên kết nên gan cứng và xơ gan.
Trường hợp viêm phúc mạc xoang bụng chứa nhiều nước (cổ chướng).