BÔ GIÁO Dụ c & ĐÀO TAO
TRƯỜNG ĐAI HOC
BO Y TE
Dươc HÀ
NÔI
T R ị NH T H ị TH AN H Hả I
ĐÁNH GIÁ VIỆC THỰC HIỆN
CHÍNH SÁCH QUỐC GIA VÊ THUỐC TRÊN
ĐỊA BÀN TỈNH BẮC GIANG
■
■
■
■
LUẬN V Ă N T H Ạ C s ĩ
Dược HỌC
C H U Y Ê N N G À N H : T ổ CHỨC VÀ Q U Ả N LÝ
Dược
M Ã SỐ: 637120
DAN H M Ụ C CÁ C C H Ữ V I Ế T T Ắ T
BVĐK
Bệnh viện đa khoa
CSQGT
Chính sách quốc gia về thuốc
c s & BVSKND
Chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân
DSĐH
Dược sĩ đại học
HĐT & ĐT
Hội đồng thuốc và điều trị
TCY
Thuốc chủ yếu
TTY
Thuốc thiết yếu
1.1.3- Các chính sách và giải pháp cụ thể
1.1.4- Phân kỳ các giai đoạn thực hiện CSQGT
1.3- Mợt sô kết quả và kinh nghiệm của quá trình
triển khai CSQGT tại 10 tỉnh thí điểm và trong
phạm vi toàn quốc
1.4- Vài nét về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội và
V tê của tỉnh bác giang
1.4.1 - Vị trí, địa lý, dân số
1.4.2- Khí hậu, thòi tiết
1.4.3- Tình hình kinh tế- xã hội
1.4.4- Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác chăm sóc và
bảo vê sức khoẻ nhàn dân
1.4.4.1-
Thuận lợi
17
1.4.4.2-
Khó khăn
17
Tổ chức mạng lưới và nhân lực y tế
18
Sử lý số liệu
23
KÊT QUẢ NGHIÊN c ú u VÀ BÀN LUẬN
24
Đánh giá hoạt động cung ứng thuốc
24
Hệ thống cung ứng
24
3.1.1.1-
Đánh giá khả năng cung ứng thuốc thường xuyên
24
3.1.1.2-
Khả năng sẵn có thuốc thiết yếu
25
3.1.1.3-
Thuốc thiết yếu
31
3.2.2.1-
Thuốc sản xuất trong nước
32
Kê đơn thuốc
34
1.4.5Chương 2:
Chương 3:
3.13.1.1-
3.1.2-
3.23.2.1 -
3.2.2-
3.2.2.1-
Thực hiện danh mục TTY
39
3.2.3.3-
Về việc thực hiện qui chế kê đơn
41
3.2.3.4-
Về việc sử dụng thuốc kháng sinh
42
3.2.3.5-
Thôn g tin về thuốc
43
Bàn luận
45
3.3.1-
Cung ứng thuốc thường xuyên và có chất lượng
45
64
DANH MỤC BẢNG
Trang
Bảng 2.1-
Thông tin về dân số và kinh tế tỉnh Bắc Giang
14
Bảng 2.2-
Số liệu về tình trạng sức khoẻ ngưòi dân tỉnh
Bắc Giang
19
Bảng 3.1-
Số liệu về hệ thống dược tại tỉnh Bắc Giang
24
Bảng 3.2-
Thuốc hiện có tại trạm y tế xã trên danh mục
25
32
bệnh viện
Bảng 3.8-
Tỷ lệ TTY sử dụng trong đơn khảo sát tại khu
34
vực bệnh viện công
Bảng 3.9-
Tỷ lệ TTY được bán trên tổng số thuốc bán
35
theo đơn
Bảng 3.10-
Kết quả khảo sát đơn thuốc
36
Bảng 3.11-
Kết quả khảo sát bệnh án điều trị tiêu chảy cấp
37
Trang
Biểu đổ 3.1 - Chất lượng thuốc theo vùng địa lý năm 2006
29
Biểu đồ 3.2- Tinh hình sử dụng thuốc sản xuất trong nước ở
bệnh viện (theo số lượng)
32
Biểu đồ 3.3 - Tỷ lệ thuốc thiết yếu được dùng trong đơn
35
Biểu đồ 3.4 - Tỷ lệ TTY mua không đơn trên tổng thuốc bán
không đơn (theo số lượng)
38
Biểu đồ 3.5 - Tỷ lệ thuốc nội bán không đơn trên tống thuốc
mua không đơn (theo số lượng)
40
Biểu đồ 3.6- Tỷ lệ thuốc phải kê đơn đã được bán không đơn
41
Biểu đồ 3.7- Tỷ lệ kháng sinh đã bán không đơn
trị, đến thói quen của người dân tự mua thuốc sử dụng tuỳ tiện, bất hợp lý. đưa
đến tai biến sử dụng thuốc, kháng thuốc, dị ứng thuốc ngày càng nhiều. Tổ
chức y tế thế giới (WHO) đã khuyến cáo. để sử dụng thuốc an toàn và hợp lý,
9
mỏi quốc gia cần xây dựng chính sách quốc gia về thuốc (CSQGT) sao cho
phù hợp với đặc điểm tình hình của nước mình. Tại Nghị quyết 37/CP ngày
20/06/1996 của Chính phủ đã ban hành CSQGT với mục tiêu cơ bản là: Đàm
bảo cung ứng thuốc thường xuyên và đủ thuốc có chất lượng đến người dân và
đảm báo sử dụng thuốc an toàn hiệu quà. Đó là cơ sở cho ngành Dược nói
riêng và ngành Y tế nói chung thực hiện tốt chức năng chăm sóc và bảo vệ sức
khoẻ nhân dân trong thời kỳ mới.
Bắc Giang là một tỉnh miền núi mới được tách ra năm 1997, do tình
hình thiếu nhân lực về y tế nên công tác triển khai thực hiện các mục tiêu của
CSQGT còn nhiều hạn chế, chưa có nghiên cứu khảo sát thống kê y tế để đánh
giá tình hình thực hiện các CSQGT tại địa phương. Đê giúp các nhà quán lý có
cái nhìn tống quan về thực trạng đạt được các mục tiêu của CSQGT. Chúng tôi
tiến hành đề tài: “Đánh giá việc thực hiện Chính sách quốc gia về thuốc trên
địa bàn tỉnh Bắc Giang" trong năm 2006 nhằm các mục tiêu:
1- Đánh giá việc thực hiện hoạt động cung ứng thuốc cho người dân
trên địa bàn tỉnh Bắc Giang.
2- Đánh giá vấn đề sử dụng thuốc tại địa bàn trên.
Từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao việc thực hiện CSQGT
tại tỉnh Bắc Giang trong tời gian tới.
5
biến. Mội nghiên cứu 25.951 tnrờng hợp ở Andhra Pradesh cho thấy 47%
thuốc ở các hiệu thuốc trong thành thị được bán không có chí định của thày
thuốc[4]. Khoảng 200.000 người chết mỗi năm tại Trung Quốc do sử dụng
thuốc không đúng liều[21 ].
Việc sử dụng kháng sinh không hợp lý là một trong những yếu tố làm
tăng tình trạng kháng thuốc đang lan tràn trên toàn thế giới. Nguyên nhân dan
đến hiện lượng vi khuẩn kháng thuốc là do việc dùng kháng sinh bừa bãi và
lạm dụng của cả nhân viên y tế cũng như người sử dụng.
Việc cung ứng thuốc ở các nước đang phát triển cũng đang đứng trước
những thách thức nặng nề. Sản lượng thuốc trên thế giới đang tăng với tốc độ
9-10% mỏi năm và cứ sau mỗi thập kỷ, giá trị sản lượng thuốc lại tang gấp 2
đến 2,5 lần (1976: 43 tỷ USD; 1985: 94 tỷ USD. 1994: 256 ty USD). Bình
quân tiền thuốc sử dụng trên đầu người cũng tăng (1976: 10,3 USD: 1985:
19,4 USD, 1995: 40 USD)[20].
Trong khi đó tình trạng phán bố tiêu dùng thuốc đang hết sức chênh
lệch giữa các nước phát triển. Điều đáng nói là khoảng cách đó không được
rút ngắn lại mà càng ngày càng xa. Năm 1976, các nước phát triển chỉ chiếm
27% dân số thế giới mà sử dụng đến 76% sán lượng thuốc trên thế giới, trong
khi các nước đang phát triển chiếm 73% dân số chí được hưởng thụ 24% sán
lượng thuốc. Mười năm sau (1985) dân số các nước đang phát triển tăng lên
75% dân số thế qiới nhưng mức hưởng thụ lại giảm xuống còn 21%. Mức tiêu
thụ thuốc trên đầu người của các nước châu âu và Bấc Mỹ là 300 USD. trong
khi đó các nước đang phái triển là 5-10 USD, ở một sô vùng châu Phi chi đạt I
USD. Ngay trong từng quốc gia sự chênh lệch sự chênh lệch cũng thể hiện rõ
ờ các vùng địa lý- kinh tế khác nhau [20],
5
1.1.2- ở Việt N am
Bên cạnh những ihành quá không thè phù nhận do tiến trình đổi mới,
những bất cập của cơ chế thị trường cũng bộc lộ, có tác động mạnh đến hành
nghề y dược tư nhân. Tinh trạng các cơ sở hành nghề dược tư nhân chạy theo
lợi nhuận, vi phạm các qui chế chuyên môn như: qui chế thuốc độc, qui chê
thuốc hướng tâm thần, qui chế kê đơn và bán thuốc theo đơn... không phái là
ít. Việc lạm dụng thuốc đang là vấn đề đáng lo ngại, bởi lẽ nó không chí ánh
hưởng đốn sức khoẻ người bệnh mà còn gây nhiều hậu quả đáng tiếc về
sau[4|. Theo báo cáo của tổ chức Y tế thế giới, khoảng 17 triệu người chết
hàng năm do nguyên nhân là các bệnh nhiễm khuẩn, trên môt nửa sô này là
trẻ em[4], [16J . Cũng như nhiều nước đang phát triển, việc tự sử dụng thuốc,
đặc biệt là kháng sinh đã ở mức đáng lo ngại, 50% số người mua kháng sinh
là không có đơn, trong đó số người sử dụng đồng thời từ 2 kháng sinh trở lên
chiếm tỷ lệ 1 \ c/(. Cá biệl có trường hợp trong một đợi điều trị dùng tới 8-14
loại kháng sinh cho một người, đáng chú ý là việc sử dụng kháng sinh không
đủ liều, 30% số người mua kháng sinh từ 1-2 ngày... [4],
Việt Nam đang bước vào thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Mỏ
hình bệnh tật của đất nước đang là một mô hình đan xen giữa mô hình của
bệnh nhiễm trùng, bệnh của các nước đang phát triển và bệnh không do nhiễm
khuẩn, bệnh của các nước phát triển [20]. Tuy nhiên, bệnh nhiễm khuẩn luôn
chiếm vị trí hàng đầu, tỷ lệ kháng sinh nhập khẩu hàng năm chiếm khoảng
40% giá trị nhập khẩu. Việc sử dụng kháng sinh không hợp lý dẫn tới tình
trạng vi khuẩn kháng thuốc, nhờn thuốc (kê cả kháng sinh có hoạt phổ rộng)
đang là một vấn đề cấp bách cần được giải quyết. Hơn nữa, việc sử dụng
kháng sinh không đủ liều đang xảy ra rất phổ biến trong cộng đồng. Một trong
những nguyên nhân dẫn đến tình trạng này là sự thiếu hụt kiên thức về sử
dụng thuốc hợp lý của cả người kê đưn lẫn người bán thuốc. Một tỷ lệ lớn các
bệnh nhân tự điều trị là một nguy cơ không thể tránh khỏi hiện tượng sử dụng
thuốc không hợp lý, lạm dụng thuốc. 80% người bệnh thường bỏ qua việc
8
sách về TTY là hạt nhân cơ bản của CSQGT. Chính sách quốc gia về thuốc thể
hiện quyết tâm của chính phủ nhằm đảm bảo cho nhân dân có thuốc chữa
bệnh, đồng thời cũng là cơ chế phối hợp giữa ngành y tế và các bộ ngành khác
để đảm bảo thực hiện mục tiêu nói trên [ 14].
Trong một phần tư thế kỷ kể từ khi WHO đề xuất các khái niệm TTY
và CSQGT. tính đến cuối năm 2000 có hơn 160 quốc gia đã xây dựng và công
bố Danh mục TTY; hơn 100 quốc gia đã xây dựng và công bố CSQGT. Đồng
thời, khái niệm sử dụng thuốc hợp lý cũng trở nên phổ biến. Vấn đề tiếp cận
TTY cho nhân dân cùng có những tiến bộ vượt bậc: gần 3,8 tỉ người được tiếp
cận với TTY vào năm 1997 so với 2,1 tỉ người năm 1977. năm 2002, 25 năm
sau khi Danh mục TTY mẫu của WHO được ban hành lần đầu tiên, khái niệm
TTY đã trở thành một khái niệm toàn cầu. Chính sách TTY và CSQGT có một
mối quan hệ tương hỗ. Chính sách TTY là nền tảng cơ bản của CSQGT.
Ngược lại, các nội dung của CSQGT có ảnh hướng trực tiếp hoặc gián tiếp đến
việc thực hiện được các mục tiêu: Người dân được tiếp cận với TTY, TTY cỏ
chất lượng cao và được sử dụng hợp lý an toànỊ 14].
Ớ Việt Nam trong suốt 50 năm qua, Đảng, Chính phủ và Bộ Y tế đã ban
hành nhiều văn bản chính sách cụ thể liên quan đến thuốc. Trong thập ký 80,
Bộ Y tế đã phác thảo những định hướng và nguyên tắc phát triến ngành Dược,
nhưng do nhiều nguyên nhân, Bộ Y tế chưa hoàn thành được việc xây dựng
CSQGT dưới dạng một văn bản hoàn chỉnh, toàn diện để trình Chính phú phô
duyệt và ban hành. Hiện nay lượng thuốc chữa bệnh tăng lên nhiều, chủng loại
rất phong phú, đa dạng, chất lượng có tiến bộ, việc cung ứng thuốc cho nhàn
dân đã được cải thiện nhưng cũng còn một số hạn chế như mạng lưới phân
phối thuốc chưa đều khắp, có tình trạng lạm dụng thuốc trong điều trị gây tốn
kém và tác hại, công tác quản lý nhà nước chưa theo kịp yêu cầu của tình hình
thực tế. Vì thế Chính phủ ban hành Chính sách quốc gia về thuốc làm cơ sở
nói trên một mặt thể hiện sự cam kết chính trị mạnh mẽ của Chính phu Việt
10
Nani Irong vấn đề đám bảo thuốc cho nhân dân, mặt khác là đường lối, chính
sách để phát triển ngành Dược Việt Nam góp phần xứng đáng vào việc phục
vụ tốt sự nghiệp chăm sóc, bảo vệ sức khoe nhân dân.
1.2.2.1- Mục tiêu chung của Chính sách quốc gia về thuốc.
CSQGT cua Việt Nam có hai mục tiêu chung: "Báo đám cung ứng
thường xuyên và đủ thuốc có chất lượng cho nhân dân" và ’Bảo đảm cung ứng
thuốc hợp lý, an toàn và có hiệu quả".
Hai mục tiêu này là một thể thống nhất và chỉ khi nào cả hai mục tiêu
được thực hiện tốt mới có thế nói ngành Dược và ngành y tế hoàn thành được
nhiệm vụ của mình.
1.2.2.2- Các mục tiêu cụ thể cùa CSQGT.
Hai mục tiêu trên của CSQGT đã được cụ thể hoá thành 9 mục tiêu cụ
thể sau đây:
a. Đám bảo cung ứng đủ thuốc có chất lượng, giá cả thích hợp: Thực
hiện sự công bằng trong cung ứng thuốc cho người bệnh, ưu tiên TTY, chú
trọng thuốc cổ truyền.
b. Tận dụng các nguồn lực đế phát triển ngành công nghiệp dược phẩm
Việt Nam đáp ứng phần lớn nhu cầu thuốc chữa bệnh cho nhân dân.
c. Phái triển và hoàn thiện màng lưới cung ứng thuốc cho cộng đổng,
chú trọng những vùng khó khăn, miền núi, vùng sâu, vùng xa.
d. Báo đảm chất lượng thuốc trong sản xuất tồn trử lưu thông.
e. Nâng cao hiệu lực công tác quản lý nhà nước về Dược trên cơ sở hoàn
chính hệ thống pháp luật và qui chế.
f. Bảo đảm cho thầy thuốc kê đơn chọn lựa, chí định thuốc hợp lý, an
toàn.
-G ia i đoạn 1: 1996 -2 0 0 0
- Giai đoạn 2: 2001 - 2005
- Giai đoạn 3: 2006 - 2010
dược.
12
1.3- MỘT SỐ KẾT QUẢ CỦA QUÁ TRÌNH TRIEN k h a i CSQGT
tại
10
TỈNH THÍ ĐIỂM VÀ TRONG PHẠM VI TOÀN Q ư ố c
Sau khi han hành Chính sách quốc gia về thuốc năm 1996, được sự giúp đỡ
của Chương trình hợp tác Việt Nam- Thuỵ Điển thòng qua cục quản lý dược
Việt Nam, năm 1997 việc triển khai thí điểm CSQGT đã được thực hiện ở 7
tỉnh/thành phố đại diện cho 7 vùng kinh tế - xã hội là: Tuyên Quang. Hà Nội,
Thanh Hóa. Thừa thiên Huế, Lâm Đổng, Đồng Nai và Đổng Tháp. Từ 1999
Bộ y tế và Chương trình hợp tác Việt Nam- Thuỵ Điển bổ sung thêm 3 tinh
nữa cùng tham gia vào dự án là Hà Giang. Lào Cai. Quảng Nam.
Một số tỉnh đã có ý thức được tầm quan trọng của việc thực hiện
CSQGT nên củ' Phó Chu tịch làm trưởng Ban điều hành CSQGT. Cũng có tính
cử Giám đốc Sở Y tế làm trưởng Ban điều hành. Hiện nay có một số tỉnh chưa
có Phó Giám đốc Sở y tê là dược sĩ phụ trách công tác dược[14].
Ngân sách cho việc triển khai CSQGT còn thiếu, nhân lực thường xuyên
để triển khai các hoạt động bị hạn chế. Thiếu các tài liệu tối thiểu như Danh
mục thuốc thiết yếu, Hướng dẫn điều trị tại các trạm y tế Xã[ 14].
trong việc thực hiện CSQGT qua từng thời gian.
1.4- VÀI NÉT VỂ ĐIỂU KIỆN TỤ NHIÊN - XÃ HỘI VÀ Y TẾ CỦA TỈNH
BẮC GIANG
1.4.1- Vị trí, địa lý, dân số:
Bắc Giang là tính miền núi, có vị trí nằm chuyển tiếp giữa các tỉnh
Đông Bắc với các tinh đồng bang sông Hồng và thủ đô Hà Nội; phía Nam giáp
các tinh Bắc Ninh, Hải Dương; phía Bắc giáp tỉnh Lạng Sơn; phía Đông giáp
tinh Quảng Ninh; phía Tây giáp Thái Nguyên và Hà Nội. Tổng diện tích đất tự
nhiên có 3.822knr; trong đó có 1/3 là đất nông nghiệp; 1/3 đất rừng, còn lại là
đất ở, đất chuyên dùng và đất chưa sử dụng. Địa hình gồm 02 tiểu vùng là
14
miền núi và trung du, có đồng bằng xen kẽ. Có 03 con sông lớn chảy qua,
cùng hệ thống ao, hồ, đầm, mạch nước ngầm phong phú.
Bắc Giang hiện có 10 đơn vị hành chính, gồm 01 thành phố Bắc Giang
và 09 huyện (02 huyện đồng bằng là Việt Yên, Hiệp Hòa; 04 huyện miền núi
thấp là Yên Dũng, Lạng giang, Tân Yên, Yên Thế và 03 huyện vùng cao là
Sơn động, Lục Ngạn, Lục Nam). Dân số tòan tỉnh đến hết năm 2007 ước có
1.613 ngàn người , với 27 dân tộc cùng sinh sống trên địa bàn; đồng bào dân
tộc ít người chiếm 12,9%. Mậl độ dân số bình quân 413 người/km2. Dân số
Sống
ở nông thôn chiếm gần 90%; đô thị trên 10%. Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên
hiện nay là 1,12%{).
B ảng 2.1- Thông tin về dân sô và kinh tê tình Bắc G iang
Nội d un g thông tin
Tổng dân số
15
dàn cũng như việc bảo đảm sử dụng hợp lý, an toàn, hiệu quả thuốc chữa bệnh
cho người dân nói riêng.
1.4.2- Khí hậu, thời tiết
Bắc Giang nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió m ùa vùng Đông Bắc
Việt Nam. một năm có 04 mùa rõ rệt: mùa Xuân mát mẻ, độ ẩm cao; mùa Hè
nóng ẩm. mưa nhiều; mùa Thu khỏ ráo, mát mẻ; mùa Đông lạnh và khô. Nhiệt
độ bình quán hàng năm khoang từ 23" - 24"C: tháng 2 có nhiệt độ trung binh
thấp nhất khoảng 16°C; tháng nóng nhất là tháng 7, có nhiệt độ trung bình từ
29°- 30()c. Độ ẩm khống khí trung bình cả năm là 83%.
1.4.3- Tình hình kinh tế- xã hội
Là một tinh nóng nghiệp, mới được tái lập từ năm 1997 (tách ra từ tính
Hà Bắc). Trong thời gian qua, tình hình kinh tế- xã hội của tỉnh đã có những
những bước tiến bộ mạnh mẽ. Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân trong 10
năm qua đạt trên 8c/ t ; trong đó năm 2006 tăng 9,5%; ước năm 2007 tăng trên
10%. Cơ cấu kinh tế đang chuyển dịch tích cực, theo hướng công nghiệp hóa,
hiện đại hóa; tăng nhanh tỷ trọng sản xuất công nghiệp; giảm tỷ trọng nông
nghiệp. Nguồn lực lao động, dân cư cũng đang chuyển dịch từ lao động nông
nghiệp sang lao động công nghiệp, dịch vụ; từ nông thôn ra thành thị. Các lình
vực giáo dục, văn hóa, y tế, lao động, việc làm, xóa đói giảm nghèo đã dạt
nhiều thành tựu quan trọng. Trong giáo dục, đã hoàn thành phổ cập giáo dục
tiểu học đúng độ tuổi và phổ cập trung học cơ sở; đang hướng tới phổ cập
trung học phổ thông trong toàn tỉnh; hệ thống trường chuẩn quốc gia đang
được tích cực xây dựng; chất lượng giáo dục có những tiến bộ nhất định. Sự
nghiệp văn hóa- thông tin- thể thao- phát thanh- truyền hình được quan tâm
đầu tư. Phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa đang ngày
càng phát triển; đến hết năm 2006, có 74,4% số hộ đạt danh hiệu gia đình vãn