Đánh giá việc thực hiện chính sách quốc gia về thuốc trên địa bàn tỉnh bắc giang - Pdf 54

Bộ giáo dục & đào tạo

Bộ y tế

Trường Đại học dược Hà nội

Trịnh Thị Thanh Hải

đánh giá việc thực hiện
chính sách quốc gia về thuốc trên
địa bàn tỉnh Bắc Giang

luận văn thạc sĩ dược học

Hà Nội - 2007


Bộ giáo dục & đào tạo

Bộ y tế

Trường Đại học dược Hà nội

trịnh thị thanh hải

đánh giá việc thực hiện
chính sách quốc gia về thuốc trên
địa bàn tỉnh Bắc Giang

luận văn thạc sĩ dược học


BVĐK

Bệnh viện đa khoa

CSQGT

Chính sách quốc gia về thuốc

CS & BVSKND

Chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân

DSĐH

Dược sĩ đại học

HĐT & ĐT

Hội đồng thuốc và điều trị

TCY

Thuốc chủ yếu

TTY

Thuốc thiết yếu

TYT



5

1.2- Chính sách quốc gia về thuốc của việt nam

7

1.2.1- Sự cần thiết Chính sách quốc gia về thuốc

7

1.2.2- Nội dung Chính sách quốc gia về thuốc của Việt
nam

9

1.2.2.1- Mục tiêu chung của Chính sách quốc gia về thuốc

10

1.2.2.2- Các mục tiêu cụ thể của CSQGT

10

1.1.3- Các chính sách và giải pháp cụ thể

11

1.1.4- Phân kỳ các giai đoạn thực hiện CSQGT



1.4.4.1- Thuận lợi

17

1.4.4.2- Khó khăn

17

1.4.5- Tổ chức mạng lưới và nhân lực y tế
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu

18
21

2.1- Đối tượng nghiên cứu

21

2.2- Phương pháp nghiên cứu

21

2.2.1- Thiết kế nghiên cứu

21

2.2.2- Phương pháp thu thập số liệu

21


27

3.1.2.1- Chất lượng hệ thống cung ứng

27

3.1.2.2- Chất lượng thuốc cung ứng

28

3.2- Đánh giá tình hình sử dụng thuốc
3.2.1- Việc lựa chọn thuốc trong các bệnh viện

31
31

3.2.1.1- Thuốc thiết yếu

31

3.2.2.1- Thuốc sản xuất trong nước

32

3.2.2- Kê đơn thuốc

34




42

3.2.3.5- Thôn g tin về thuốc

43

3.3 Bàn luận

45

3.3.1- Cung ứng thuốc thường xuyên và có chất lượng

45

3.3.2- Sử dụng thuốc an toàn hợp lý

48

Chương 4: Kết luận và kiến nghị

60

4.1- Kết luận

60

4.2- Kiến nghị

61

Thuốc hiện có tại trạm y tế xã trên danh mục
TTY Bộ Y tế theo tuyến

25

Bảng 3.3-

Giá trị trung bình một đơn thuốc

26

Bảng 3.4-

Kết quả công tác thanh, kiểm tra dược năm 2006

27

Bảng 3.5-

Tổng hợp chất lượng mẫu lấy kiểm tra theo vùng
địa lý (năm 2006)

29

Bảng 3.6-

Kết quả khảo sát chất lượng thuốc tại các trạm
y tế xã

31

Kết quả khảo sát bệnh án điều trị tiêu chảy cấp
cho trẻ em dưới 6 tuổi

37


Bảng 3.12-

Tỷ lệ TTY được bán không đơn trên tổng số
thuốc đã bán không có đơn

38

Bảng 3.13-

Tỷ lệ thuốc nội bán không đơn trên tổng số
thuốc bán không đơn

39

Bảng 3.14-

Tỷ lệ thuốc phải bán theo đơn đã bán không
đơn

41

Bảng 3.15-

Tỷ lệ kháng sinh đã được bán không đơn trên

38

Biểu đồ 3.5 - Tỷ lệ thuốc nội bán không đơn trên tổng thuốc
mua không đơn (theo số lượng)

40

Biểu đồ 3.6- Tỷ lệ thuốc phảI kê đơn đã được bán không đơn

41

Biểu đồ 3.7- Tỷ lệ kháng sinh đã bán không đơn

42

Biểu đồ 3.8- Tỷ lệ số lần bán thuốc có hướng dẫn sử dụng

44


1

Đặt vấn đề
Để đảm bảo thực hiện thành công sự nghiệp chăm sóc bảo vệ sức khoẻ
cho nhân dân, mỗi quốc gia cần xây dựng chiến lược y tế cho đất nước. Thuốc
chữa bệnh là một loại hàng hóa đặc biệt thiết yếu có tính xã hội cao, không
những chỉ để phục vụ cho công tác khám chữa bệnh mà trong nhiều hoàn cảnh
(Thiên tai, thảm hoạ, xung đột quân sự, chiến tranh ...) thuốc còn là một nhân
tố quan trọng góp phần đảm bảo an sinh xã hội và an ninh đất nước.
Nhờ những thành tựu to lớn của cách mạng khoa học - công nghệ, công

CSQGT còn nhiều hạn chế, chưa có nghiên cứu khảo sát thống kê y tế để đánh
giá tình hình thực hiện các CSQGT tại địa phương. Để giúp các nhà quản lý có
cái nhìn tổng quan về thực trạng đạt được các mục tiêu của CSQGT. Chúng tôi
tiến hành đề tài: Đánh giá việc thực hiện Chính sách quốc gia về thuốc trên
địa bàn tỉnh Bắc Giang" trong năm 2006 nhằm các mục tiêu:
1- Đánh giá việc thực hiện hoạt động cung ứng thuốc cho người dân
trên địa bàn tỉnh Bắc Giang.
2- Đánh giá vấn đề sử dụng thuốc tại địa bàn trên.
Từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao việc thực hiện CSQGT
tại tỉnh Bắc Giang trong tời gian tới.


3

Chương 1

Tổng quan
1.1- tình hình sử dụng thuốc
1.1.1- Trên thế giới
Đã hàng ngàn năm nay, thuốc phòng chữa bệnh đã trở thành một nhu
cầu tất yếu của cuộc sống con người. Thuốc đóng vai trò quan trọng trong
công tác chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ cho nhân dân (CS & BVSKND) và nói
rộng hơn là một trong những yếu tố chủ yếu nhằm bảo đảm mục tiêu sức khoẻ
cho mọi người. Nhờ phát minh ra những thuốc mới và nhờ việc cung ứng cho
nhân dân được cải thiện, nhiều bệnh dịch lớn trên thế giới từng bước đã được
hạn chế và thanh toán.
Với sự phát triển ngày càng mạnh mẽ của khoa học và công nghệ, danh
mục các loại thuốc cũng được thay đổi và bổ sung thường xuyên. Việc sản
xuất ra nhiều loại dược phẩm đã góp phần rất lớn vào việc cải thiện công tác
chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ cho cộng đồng, nhưng bên cạnh đó cũng tạo ra

rút ngắn lại mà càng ngày càng xa. Năm 1976, các nước phát triển chỉ chiếm
27% dân số thế giới mà sử dụng đến 76% sản lượng thuốc trên thế giới, trong
khi các nước đang phát triển chiếm 73% dân số chỉ được hưởng thụ 24% sản
lượng thuốc. Mười năm sau (1985) dân số các nước đang phát triển tăng lên
75% dân số thế qiới nhưng mức hưởng thụ lại giảm xuống còn 21%. Mức tiêu
thụ thuốc trên đầu người của các nước châu âu và Bắc Mỹ là 300 USD, trong
khi đó các nước đang phát triển là 5-10 USD, ở một số vùng châu Phi chỉ đạt 1
USD. Ngay trong từng quốc gia sự chênh lệch sự chênh lệch cũng thể hiện rõ
ở các vùng địa lý- kinh tế khác nhau [20].


5

1.1.2- ở Việt Nam
ở Việt Nam, trong thời kỳ bao cấp, mặc dù cơ sở vật chất nghèo nàn,
kinh phí còn hạn hẹp, tình trạng khan hiếm thuốc thường xuyên xảy ra, nhưng
việc quản lý thuốc được thực hiện khá chặt chẽ. Thực hiện chính sách đổi mới
của Đảng và Nhà nước với sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế trong hệ
thống chăm sóc sức khoẻ, là tiền đề cho hàng loạt cơ sở hành nghề y, dược tư
nhân ra đời và phát triển. Trong những năm qua, cùng với hệ thống doanh
nghiệp dược nhà nước, mạng lưới kinh doanh tư nhân đã hình thành và phát
triển rộng khắp từ thành thị đến nông thôn, tạo điều kiện đưa thuốc đến tay
người bệnh một cách nhanh chóng với giá ổn định. Nhiều cơ sở hoạt động tốt,
có hiệu quả, tuân thủ các qui chế chuyên môn, là nơi tuyên truyền về y tế
thường thức cho nhân dân tạo ra sự cạnh tranh lành mạnh với hệ thống phân
phối của nhà nước [4].
Hệ thống kinh doanh dược tư nhân phát triển nhanh chóng về số lượng,
phương thức hoạt động năng động, huy động được tiềm năng về vốn và nhân
lực trong nước. Bên cạnh khu vực kinh doanh dược nhà nước, hệ thống dược tư
nhân, đặc biệt là mạng lưới bán lẻ góp phần quan trọng trong việc đáp ứng

bệnh nhiễm trùng, bệnh của các nước đang phát triển và bệnh không do nhiễm
khuẩn, bệnh của các nước phát triển [20]. Tuy nhiên, bệnh nhiễm khuẩn luôn
chiếm vị trí hàng đầu, tỷ lệ kháng sinh nhập khẩu hàng năm chiếm khoảng
40% giá trị nhập khẩu. Việc sử dụng kháng sinh không hợp lý dẫn tới tình
trạng vi khuẩn kháng thuốc, nhờn thuốc (kể cả kháng sinh có hoạt phổ rộng)
đang là một vấn đề cấp bách cần được giải quyết. Hơn nữa, việc sử dụng
kháng sinh không đủ liều đang xảy ra rất phổ biến trong cộng đồng. Một trong
những nguyên nhân dẫn đến tình trạng này là sự thiếu hụt kiến thức về sử
dụng thuốc hợp lý của cả người kê đơn lẫn người bán thuốc. Một tỷ lệ lớn các
bệnh nhân tự điều trị là một nguy cơ không thể tránh khỏi hiện tượng sử dụng
thuốc không hợp lý, lạm dụng thuốc. 80% người bệnh thường bỏ qua việc


7

khám bệnh mà đi thẳng tới nhà thuốc để mua thuốc mà không cần có đơn, bất
kỳ ai cũng có thể mua được thuốc, ở bất kỳ đâu và với số lượng bao nhiêu
cũng được, trong khi đó các nhà thuốc tư chỉ chạy theo lợi nhuận, sẵn sàng
bán thuốc tự do không cần có đơn đang diễn ra rất phổ biến[4].
Thuốc là loại hàng hoá đặc biệt, vì vậy một trong những mục tiêu cơ
bản của chính sách quốc gia về thuốc của Việt Nam là bảo đảm cung ứng
thường xuyên và đủ thuốc có chất lượng để người dân sử dụng thuốc hợp lý an
toàn, hạn chế tối đa những tai biến do kê đơn, bán thuốc và sử dụng thuốc
không đúng chuyên môn.
1.2- chính sách quốc gia về thuốc
1.2.1- Sự cần thiết của Chính sách quốc gia về thuốc
Thuốc là một trong những yếu tố quan trọng trong công tác chăm sóc
sức khoẻ nhân dân. Ngành Dược có trách nhiệm đảm bảo cung ứng nhu cầu
hợp lí về thuốc chữa bệnh cho nhân dân và tiến hành mọi hoạt động có liên
quan để đảm bảo cung ứng tốt, bao gồm sản xuất, mua bán, xuất nhập, phân

việc thực hiện được các mục tiêu: Người dân được tiếp cận với TTY, TTY có
chất lượng cao và được sử dụng hợp lý an toàn[14].
ở Việt Nam trong suốt 50 năm qua, Đảng, Chính phủ và Bộ Y tế đã ban
hành nhiều văn bản chính sách cụ thể liên quan đến thuốc. Trong thập kỷ 80,
Bộ Y tế đã phác thảo những định hướng và nguyên tắc phát triển ngành Dược,
nhưng do nhiều nguyên nhân, Bộ Y tế chưa hoàn thành được việc xây dựng
CSQGT dưới dạng một văn bản hoàn chỉnh, toàn diện để trình Chính phủ phê
duyệt và ban hành. Hiện nay lượng thuốc chữa bệnh tăng lên nhiều, chủng loại
rất phong phú, đa dạng, chất lượng có tiến bộ, việc cung ứng thuốc cho nhân
dân đã được cải thiện nhưng cũng còn một số hạn chế như mạng lưới phân
phối thuốc chưa đều khắp, có tình trạng lạm dụng thuốc trong điều trị gây tốn
kém và tác hại, công tác quản lý nhà nước chưa theo kịp yêu cầu của tình hình
thực tế. Vì thế Chính phủ ban hành Chính sách quốc gia về thuốc làm cơ sở


9

cho ngành Dược nói riêng và ngành Y tế nói chung. Chính sách quốc gia về
thuốc của Việt Nam nhằm đưa ra những chính sách, chiến lược quan trọng
nhất để định hướng phát triển lâu dài cho ngành Dược nói riêng và ngành Y tế
nói chung. CSQGT không những thể hiện trách nhiệm và sự quan tâm của
chính phủ đối với việc đảm bảo nhu cầu về thuốc cho nhân dân và yêu cầu
phát triển, hiện đại hoá ngành Duợc trong tương lai mà còn đề ra những chủ
trương, biện pháp nhằm tạo ra những điều kiện mới và khả năng mới để khai
thác, phát huy những nguồn lực trong nước cả khu vực nhà nước và tư nhân,
của ngành Dược và cả các ngành liên quan và đồng thu hút nguồn lực nước
ngoài để phát triển và hiện đại hoá ngành Dược Việt Nam[14].
CSQGT là kim chỉ nam cho việc hoạch định sự phát triển của ngành
Dược Việt Nam[14].
1.2.2- Nội dung Chính sách quốc gia về thuốc của Việt nam.

1.1.4.1- Sử dụng thuốc hợp lý, an toàn, hiệu quả và thực hiện chính sách
về thuốc thiết yếu.
1.1.4.2- Bảo đảm chất lượng thuốc.
1.1.4.3- Chính sách về sản xuất, cung ứng, xuất nhập khẩu thuốc.
1.1.4.4- Phát huy và phát triển thuốc y học cổ truyền.
1.1.4.5- Đào tạo nguồn nhân lực dược.
1.1.4.6- Thông tin thuốc.
1.1.4.7- Tăng cường công tác quản lý nhà nước về thuốc.
1.1.4.8- Nghiên cứu khoa học, hợp tác quốc tế về dược.
1.2.4- Phân kỳ các giai đoạn thực hiện CSQGT
- Giai đoạn 1: 1996 - 2000
- Giai đoạn 2: 2001 - 2005
- Giai đoạn 3: 2006 2010


12

1.3- một số kết quả của quá trình triển khai CSQGT tại 10
tỉnh thí điểm và trong phạm vi toàn quốc
Sau khi ban hành Chính sách quốc gia về thuốc năm 1996, được sự giúp đỡ
của Chương trình hợp tác Việt Nam- Thuỵ Điển thông qua cục quản lý dược
Việt Nam, năm 1997 việc triển khai thí điểm CSQGT đã được thực hiện ở 7
tỉnh/thành phố đại diện cho 7 vùng kinh tế - xã hội là: Tuyên Quang, Hà Nội,
Thanh Hóa, Thừa thiên Huế, Lâm Đồng, Đồng Nai và Đồng Tháp. Từ 1999
Bộ y tế và Chương trình hợp tác Việt Nam- Thuỵ Điển bổ sung thêm 3 tỉnh
nữa cùng tham gia vào dự án là Hà Giang, Lào Cai, Quảng Nam.
Một số tỉnh đã có ý thức được tầm quan trọng của việc thực hiện
CSQGT nên cử Phó Chủ tịch làm trưởng Ban điều hành CSQGT. Cũng có tỉnh
cử Giám đốc Sở Y tế làm trưởng Ban điều hành. Hiện nay có một số tỉnh chưa
có Phó Giám đốc Sở y tê là dược sĩ phụ trách công tác dược[14].

diện về vấn đề này). Bộ chỉ báo quốc gia đánh giá thực hiện CSQGT gồm
những chỉ số điển hình phản ánh kết quả thực hiện các nội dung của CSQGT,
là cơ sở để đánh giá và so sánh một cách định lượng, những tiến bộ đạt được
trong việc thực hiện CSQGT qua từng thời gian.
1.4- vài nét về điều kiện tự nhiên - xã hội và y tế của tỉnh
bắc giang
1.4.1- Vị trí, địa lý, dân số:
Bắc Giang là tỉnh miền núi, có vị trí nằm chuyển tiếp giữa các tỉnh
Đông Bắc với các tỉnh đồng bằng sông Hồng và thủ đô Hà Nội; phía Nam giáp
các tỉnh Bắc Ninh, Hải Dương; phía Bắc giáp tỉnh Lạng Sơn; phía Đông giáp
tỉnh Quảng Ninh; phía Tây giáp Thái Nguyên và Hà Nội. Tổng diện tích đất tự
nhiên có 3.822km2; trong đó có 1/3 là đất nông nghiệp; 1/3 đất rừng, còn lại là
P

P

đất ở, đất chuyên dùng và đất chưa sử dụng. Địa hình gồm 02 tiểu vùng là


14

miền núi và trung du, có đồng bằng xen kẽ. Có 03 con sông lớn chảy qua,
cùng hệ thống ao, hồ, đầm, mạch nước ngầm phong phú.
Bắc Giang hiện có 10 đơn vị hành chính, gồm 01 thành phố Bắc Giang
và 09 huyện (02 huyện đồng bằng là Việt Yên, Hiệp Hòa; 04 huyện miền núi
thấp là Yên Dũng, Lạng giang, Tân Yên, Yên Thế và 03 huyện vùng cao là
Sơn động, Lục Ngạn, Lục Nam). Dân số tòan tỉnh đến hết năm 2007 ước có
1.613 ngàn người , với 27 dân tộc cùng sinh sống trên địa bàn; đồng bào dân
tộc ít người chiếm 12,9%. Mật độ dân số bình quân 413 người/km2. Dân số
P


72
408 USD

Bắc Giang là một tỉnh có dân số khá đông, gần 1,6 triệu người. Sau
nhiều năm phấn đấu đã giảm được tốc độ phát triển dân số, hiện chỉ còn
11,8% 0 ; tuổi thọ người dân đã được nâng lên đáng kể, đạt 72 tuổi, trên mức
R

R

trung bình của cả nước, do vậy tỷ lệ người già đang có xu hướng ngày càng
tăng. Phần lớn dân cư vẫn sống phân tán trên diện rộng ở khu vực nông thôn,
miền núi; tỷ lệ dân dân thành thị chỉ chiếm chưa đầy 10%. Nhân dân nhìn
chung còn nghèo, với thu nhập bình quân đầu người đến nay mới đạt 408USD,
chưa bằng 1/2 bình quân chung của cả nước. Những yếu tố trên là một thách
thức, khó khăn rất lớn cho công tác chăm sóc, bảo vệ sức khoẻ nhân dân nói
chung và công tác cung ứng thường xuyên, đủ thuốc có chất lượng đến người


15

dân cũng như việc bảo đảm sử dụng hợp lý, an toàn, hiệu quả thuốc chữa bệnh
cho người dân nói riêng.
1.4.2- Khí hậu, thời tiết
Bắc Giang nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa vùng Đông Bắc
Việt Nam, một năm có 04 mùa rõ rệt: mùa Xuân mát mẻ, độ ẩm cao; mùa Hè
nóng ẩm, mưa nhiều; mùa Thu khô ráo, mát mẻ; mùa Đông lạnh và khô. Nhiệt
độ bình quân hàng năm khoảng từ 230 - 240C; tháng 2 có nhiệt độ trung bình
P

vực giáo dục, văn hóa, y tế, lao động, việc làm, xóa đói giảm nghèo đã đạt
nhiều thành tựu quan trọng. Trong giáo dục, đã hoàn thành phổ cập giáo dục
tiểu học đúng độ tuổi và phổ cập trung học cơ sở; đang hướng tới phổ cập
trung học phổ thông trong toàn tỉnh; hệ thống trường chuẩn quốc gia đang
được tích cực xây dựng; chất lượng giáo dục có những tiến bộ nhất định. Sự
nghiệp văn hóa- thông tin- thể thao- phát thanh- truyền hình được quan tâm
đầu tư. Phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa đang ngày
càng phát triển; đến hết năm 2006, có 74,4% số hộ đạt danh hiệu gia đình văn



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status