Khoá luận tốt nghiệp
1. PHẦN MỞ ĐẦU
1.1. Tính cấp thiết của đề tài:
Thực hiện Nghị Quyết 10 của Bộ Chính trị năm 1988, đã đưa nền kinh tế
nông nghiệp, nông thôn nước nhà và của cả tỉnh nói chung, xã Đông Hà
huyện Đông hưng nói riêng có nhiều đổi thay. Thực hiện Luật đất đai năm
1993 và Nghị Định 64/CP của Chính phủ về giao đất nông nghiệp, cấp giấy
chứng nhận cho hộ gia đình cá nhân sử dụng ổn định, lâu dài, tạo cho người
sử dụng đất an tâm và có kế hoạch đầu tư, cải tạo làm nâng cao hiệu quả sử
dụng đất. Song bên cạnh đó với thói quen của người dân trong quá trình thực
hiện việc giao nhận ruộng đất phải có tốt, xấu, trung bình dẫn đến tình trạng
ruộng đất giao bị nhỏ lẻ, manh mún.
Khái niệm đất nông nghiệp manh mún được hiểu:
Một là sự manh mún về ô thửa đối với một đơn vị sản xuất (thường là
nông hộ), một hộ gia đình, cá nhân có nhiều thửa ruộng, trên nhiều xứ đồng
và diện tích trên một thửa nhỏ. Hai là diện tích thẻ hiện trên một vùng sản
xuất, diện tích còn nhỏ không tương thích với lực lượng sản xuất và các yếu
tố về phương tiện sản xuất khác. Kiểu manh mún trên làm cho việc đầu tư,
cải tạo và việc áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất gặp khó khăn làm cho
công lao động bị tăng lên. hơn nữa việc tình trạng ruộng đất manh mún còn
làm khó khăn trong việc quản lý, quy hoạch và sử dụng đất đai.
Trong quá trình sử dụng đất, Đảng và Nhà nước cũng như người sử dụng
đất nhận thấy nhiều bất cập, hạn chế, nhất là việc áp dụng các biện pháp khoa
học, kỹ thuật vào sản xuất. Từ hạn chế trên Chính phủ đã ban hành chỉ thị số
10/1998/ CT - TTg ngày 20 tháng 2 năm 1998 và Chỉ thị số 18/1999 /CTTTg ngày 01 tháng 7 năm 1999, khuyến khích nông dân, Chính quyền địa
phương các cấp xây dựng phương án chuyển đổi ruộng đất từ thửa nhỏ manh
mún dồn thành những thửa lớn thuận tiện cho việc sản xuất nông nghiệp.
Đặng Tuấn
1.2.1. Tìm hiểu thực trạng sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn xã Đông
Hà, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình.
1.2.2. Đánh giá ảnh hưởng của chính sách “Dồn điền đổi thửa” đến hiệu
quả sử dụng đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân và công tác quản lý
Đặng Tuấn
2
LỚP QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI (2006-2010) TẠI THÁI BÌNH
Khoá luận tốt nghiệp
Nhà nước đối với đất nông nghiệp trên địa bàn xã Đông Hà- huyện Đông
hưng tỉnh Thái Bình.
1.2.3. Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông
nghiệp dựa trên cơ sở kết quả nghiên cứu, góp phần thực hiện mục tiêu công
nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn.
Đặng Tuấn
3
LỚP QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI (2006-2010) TẠI THÁI BÌNH
Khoá luận tốt nghiệp
2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
2.1. Tổng quan về Chính sách quản lý và sử dụng đất nông nghiệp ở
Việt Nam trong bối cảnh lịch sử phát triển và những thay đổi gần đây.
Khoá luận tốt nghiệp
góp chung đất đai và tư liệu sản xuất khác như ( trâu, bò, gia súc và các công
cụ sản xuất khác) vào hợp tác xã với sự quản lý chung. Từ năm 1961 đến năm
1975, có khoảng 20.000 hợp tác xã bậc cao đã ra đời với sự tham gia của hơn
80% hộ nông dân.
Miền nam, chính phủ của chính quyền sài gòn cũ thực hiện chương trình
cải cách điền địa dưới một hình thức khác, thông qua một hình thức quản lý
thuê đất; quy định về mức hạn điền ( năm 1956) và chương trình phân chia lại
đất đai ( năm 1970) kết quả là khoảng 1.3 triệu ha đất nông nghiệp được phân
chia lại cho hơn một triệu hộ nông dân vào năm 1970 và quá trình này được
biết đến với khẩu hiệu "ruộng đất về tay người cày" và hoàn thành vào cuối
năm 1974. sau hi thống nhất đất nước năm 1975, chính phủ Việt nam tiếp tục
phát triển xã hơn nữa theo hướng tập thể hóa.
Sau năm 1975 ở miền Bắc, các hợp tác xã (HTX) nông nghiệp mở rộng
quy mô từ HTX toàn nông thôn đến HTX toàn xã. ở miền nam, nông dân vẫn
được phép hoạt động dưới hình thức thị trường tự do đến tận năm 1977 đến
năm 1978 sau đó cũng từng bước đi theo hướng tập thể hóa. Kết quả thực
hiện mô hình kinh tế tập thể khác nhau ở các vùng, cụ thể ở vùng đồng bằng
sông Cửu long, chỉ có khoảng 6% số hộ nông dân tham gia HTX nông
nghiệp. Khác với miền Bắc, ở miền Nam hộ nông dân vẫn là đơn vị sản xuất
cơ bản mặc dù họ tham gia HTX nông nghiệp. Họ sử dụng chung lao động và
các nguồn lực sản xuất nhưng họ tự quyết định trong vấn đề sử dụng các đầu
vào sản xuất và áp dụng công nghệ. Sau năm 1975, nền kinh tế Việt Nam nói
chung và nông nghiệp nói riêng phải gánh chịu những hậu quả nặng nề của
cuộc chiến tranh để lại và những hậu quả từ những chính sách trong thời kỳ
kinh tế kế hoạch hóa tập trung và thời kỳ kinh tế trong nông nghiệp. Trong
thời kỳ sở hữu tập thể trong nông nghiệp, sản xuất giảm do người nông dân
thiếu động cơ làm việc, sản lượng nông nghiệp tăng hàng năm ở mức rất thấp
tháng 4 năm 1988. Với sự ra đời của nghị quyết 10 thường được biết đến với
tên khoán 10, người nông dân được giao đất nông nghiệp sử dụng từ 10- 15
năm và lần đầu tiên hộ nông dân được thừa nhận như một đơn vị kinh tế tự
chủ trong nông nghiệp. Bắt đầu từ thời kỳ này, các tư liệu sản xuất ( máy
móc, trâu, bò, gia súc và công cụ khác) được sở hữu dưới hình thức cá thể.
Đặng Tuấn
6
LỚP QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI (2006-2010) TẠI THÁI BÌNH
Khoá luận tốt nghiệp
Một khía cách khác của chính sách này đó là người nông dân ở miền Nam
được giao lại đất họ đã sở hữu trước năm 1975
Tuy nhiên cùng với khoán 10 chưa có luật tương ứng dẫn đến một số quyền
sử dụng đất như chuyển nhượng, cho thuê hoặc thừa kế chưa được luật pháp
hóa và thừa nhận. Một loạt các vấn đề khác nẩy sinh liên quan đến sản xuất
chẳng hạn như trạm điện, hệ thống giao thông nông thôn, thị trường,… mà
trước đây thuộc trách nhiệm quản lý của các HTX nông nghiệp. để giải quyết
các vấn đề này luật đất đai năm 1993 đã ra đời.
2.1.3. Sự phát triển của quản lý ruộng đất sau thời kỳ đổi mới
Trong suốt thời kỳ đổi mới, một loạt các chính sách và văn bản luật trong
lĩnh vực nông nghiệp và nông thôn, đặc biệt liên quan đến vấn đề sử dụng đất
đai đã ra đời. Những chính sách quan trọng nhất là luật đất đai năm 1993, sau
đó là luật đất đai sửu đổi, bổ sung năm 1998 và năm 2001; Luật đất đai mới
năm 2003; nghị định 64/NĐ-CP năm 1993 và nghị định 02/NĐ-CP năm 1994
về quy định trong phân bố đất rừng và đất nông nghiệp. Bên cạnh đó cũng có
hàng loạt các chính sách liên quan trực tiếp hoặc hỗ trợ gián tiếp đến vấn đề
quan đến đất đai và thủ tục đăng ký đất đai . Luật đất đai mới ra đời thay thế
cho luật đất đai năm 1993 và các sửa đổi bổ sung của luật đất đai được ban
hành vào tháng 12 năm 2003 có hiệu lực tháng 7 năm 2004. Đối với đất nông
nghiệp không thay đổi thời hạn sử dụng và diện tích hạn điền so với luật đất
đai năm 1993; tuy nhiên lần đầu tiên đất đai được xem như là "hàng hóa đặc
biệt" có giá trị, chính vì thế có thể chuyển nhượng. Luật đất đai mới vẫn
khẳng định "đất đai thuộc sở hữu toàn dân do nhà nước thống nhất quản lý " và
cũng cần có sự khuyến khích với thị trường bất động sản bao gồm các quyền
sử dụng đối với khu vực thành thị. Cá nhân, người nông dân và các tổ chức
kinh tế được quyền tham gia vào thị trường này. Những thay đổi trong chính
sách đất đai của Việt nam từ nam 1981 đến nay đã góp phần đáng kể trong
việc tăng nhanh sản lượng nông nghiệp và phát triển khu vực nông thôn. Tổng
sản lượng nông nghiệp tăng 6,7%/ năm trong suốt giai đoạn 1994- 1999 và
khoảng 4,6% giai đoạn 2000- 2003. An ninh lương thực quốc gia không còn
là vấn đề nghiêm trọng nữa và nghèo đói đang từng bước được đẩy lùi
2.1.4. Quyền sử dụng đất đai ở Việt Nam từ Luật đất đai năm 1993 đến
năm 2003
Đặng Tuấn
8
LỚP QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI (2006-2010) TẠI THÁI BÌNH
Khoá luận tốt nghiệp
Các chính sách đất đai liên quan đến việc giao đất và các quyền của người
sử dụng đất cho phép sự phát triển của thị trường đất đai. Điều đó đã mang lại
hiệu quả trong việc phân bổ nguồn lực trong điều kiện hiện nay. Theo luật
pháp của nhà nước Việt Nam, đất đai là tài sản của toàn dân, Nhà nước thống
Việc đổi mới phương thức điều tiết quan hệ đất đai từ nền kinh tế tự cung
tự cấp sang nền kinh tế thị trường, về thực chất là một quá trình giải phóng
sức lao động và sức sử dụng đất đai
Nó gắn liền với quá trình chủ yếu sau:
- Quá trình hình thành thị trường về tư liệu sản xuất, vốn, sức lao động,
bất động sản (trong đó có đất đai )và sản phẩm nông nghiệp.
- Quá trình hình thành và phát triển của các chủ thể sản xuất- kinh doanh
thuộc tất cả các thành phần kinh tế.
Hai quá trình này tác động lẫn nhau làm cho quá trình sản xuất - kinh
doanh vận động với tốc độ nhanh hơn và được sử dụng có hiệu quả cao hơn.
Sự vận động của các quan hệ đất đai - tư liệu sản xuất đặc biệt trong giai đoạn
chuyển sang nền kinh tế thị trường cũng không nằm ngoài quá trình chung đó.
Đối với khu vực nông nghiệp, nông thôn, từ mô hình HTX tập thể hóa
triệt để đất đai và các tư liệu sản xuất khác trong sự điều hành quản lý tập
trung - đến sự ra đời của khoán 100, khoán 10 và hội nghị ban chấp hành
Trung ương lần thứ VI khẳng định hộ nông dan là đơn vị kinh tế tự chủ. Xét
về bản chất đây là sự điều chỉnh một bước rất cơ bản quan hệ sở hữu trong
nông nghiệp, trong đó có quan hệ đất đai và các tư liệu sản xuất khác. Các hộ
nông dân được quyền sở hữu các tư liệu sản xuất, còn đất đai được giao ổn
định lâu dài. Đây là một bước đột phá có tính chất quyết định làm hồi sinh
kinh tế hộ nông dân và sự ra đời đa dạng của hình thức kinh tế hợp tác mới
trong nông thôn, nông nghiệp. Cùng với sự đổi mới trong chính sách quản lý
vĩ mô của nhà nước, sự đổi mới về quan hệ sở hữu trong nông nghiệp đã góp
phần quan trọng vào phát triển nông nghiệp của nước ta trong những năm
qua. Tuy nhiên bước phát triển kinh tế tiếp theo của nền nông nghiệp sang sản
xuất hàng hóa trong nền kinh tế thị trường đang đặt ra những yêu cầu mới,
nảy sinh những mâu thuẫn trong quan hệ đất đai đó là:
Đặng Tuấn
- Đất đai là lãnh thổ quốc gia, là tài nguyên không thể thay thế được của
mỗi quốc gia, là không gian sinh tồn của cả dân tộc. Đó là kết quả của quá
trình chế ngự thiên nhiên, chống giặc ngoại xâm của cả dân tộc từ thế hệ này
Đặng Tuấn
11
LỚP QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI (2006-2010) TẠI THÁI BÌNH
Khoá luận tốt nghiệp
sang thế hệ khác. Do đó cả nhà nước và mọi công dân phải có quyền và nghĩa
vụ bảo vệ và sử dụng có hiệu quả nguồn tài nguyên đất đai.
- Đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt trong nông nghiệp, nó phải là kết quả
đầu tư lao động sống, vốn, sức lao động cải tạo … của con người, trong nhiều
trường hợp được truyền từ đời nay sang đời khác ngay trong một gia đình. Vì
tính chất đặc biệt đó ruộng đất là điều kiện tồn tại chủ yếu của kinh tế hộ
nông dân. Với tư cách là người lao động, họ phải là chủ thể của quyền sử
dụng đất. Quan hệ sở hữu đất đai được chế định bởi hai phương diện chủ yếu
đó, thể hiện mối quan hệ đặc biệt giữa Nhà nước và nông dân. Vai trò của nhà
nước thể hiện không chỉ với tư cách là người quản lý tối cao đối với đất đai
mà còn là người quyết định những nội dung của quan hệ sở hữu đất đai với
tính cách là chủ sở hữu tối cao (thay mặt toàn dân) đối với toàn bộ đất đai
trong lãnh thổ của quốc gia. Sự quyết định của nhà nước vào đất đai có thể
với những mức độ khác nhau đối với những loại đất khác nhau. Dưới sự quản
lý thống nhất của Nhà nước, mỗi thửa đất phải được xác định cụ thể về người
sử dụng nó. Như vậy quan niệm đúng đắn về sở hữu về đất đai phải là một thể
thống nhất giữa quyền năng tối cao của nhà nước và các quyền cụ thể của chủ
sử dụng đất, khi quyền lợi về đất đai được xác định rõ ràng và mang tính hiện
Nền nông nghiệp phát triển gắn với quá trình CNH càng đẩy mạnh thì tất
yếu sẽ xuất hiện nhu cầu chuyển đổi mục đích sử dụng đất theo xu thế từ đất
nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp, hoặc từ đất trồng lúa sang đất trông
cây công nghiệp, chăn nuôi, nuôi thủy sản… Nếu không thừa nhận quá trình
đó, một mặt sẽ làm cho quá trình này tuột khỏi sự quản lý của Nhà nước đi
theo hướng kênh ngầm. Mặt khác sẽ ngăn cản sự vận động của quan hệ đất
đai theo hướng sử dụng hợp lý hơn, có hiệu quả hơn. Việc chuyển đổi, chuyển
nhượng quyền sử dụng đất cũng là điều kiện tiền đề quan trọng trong quan hệ
đất đai vận đọng theo quy luật kinh tế khách quan. Đất đai được tích tụ tập
trung một cách hợp lý vào những người chủ có năng lực sản xuất - kinh doanh
thực sự có hiệu quả, đồng thời quá trình này sẽ là một trong những động lực
thúc đẩy sự phân công lại lao động ở nông thôn theo hướng "ai giỏi nghề gì
làm nghề đấy" từng bước rút bớt lao động nông nghiệp sang lao động công
nghiệp, dịch vụ. Tuy nhiên nhà nước từng bước có biện pháp hỗ trợ tài chính
cho các địa phương để quy hoạch lại đồng ruộng, chuyển đổi cơ cấu sản xuất
Đặng Tuấn
13
LỚP QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI (2006-2010) TẠI THÁI BÌNH
Khoá luận tốt nghiệp
khuyến khích nông dân chuyển đổi ruộng đất cho nhau để khắc phục tình
trạng manh mún.
2.3. Những kinh nghiệm về tập trung ruộng đất ở một số nước.
Tình trạng manh mún ruộng đất xảy ra ở nhiều nơi và nhiều nước trên
thế giới tại các thời kỳ khác nhau của lịch sử phát triển. Những nguyên nhân
dẫn đến tình trạng manh mún cũng rất đa dạng, như: Đặc điểm phân bố địa lý,
Văn kiện số 01 năm 1984 quy định “ Kéo dài thời hạn khoán ruộng đất
để khuyến khích nông dân đầu tư, bồi bổ sức đất, thực hiện thâm canh”. Chủ
trương này nhằm kiện toàn chế độ khoán sản phẩm đến hộ nông dân, khắc
phục tình trạng nông dân "bóc ngắn cắn dài”, sản xuất có tính chất lạm dụng
độ màu mỡ của đất đai. Thời hạn khoán ruộng đất từ 15 năm trở lên, đối với
loại kinh doanh chu kỳ sản xuất dài có tính chất khai hoang như vườn, rừng,
đồi hoang,… thì thời hạn khoán cần phải dài hơn. Trước khi kéo dài thời hạn
khoán, nếu quần chúng có yêu cầu điều chỉnh ruộng đất thì có thể dựa vào
nguyên tắc “đại ổn định, tiểu điều chỉnh” ( nghĩa là, về cơ bản phải ổn định
nhưng có thể điều chỉnh một phần nhỏ ruộng đất khoán chưa hợp lý) thông
qua thương lượng một cách đầy đủ sau đó tập thể thống nhất điều chỉnh.
Ngoài ra Văn kiện này còn cho phép hộ nông dân có quyền nhượng ruộng
khoán, cụ thể là “khuyến khích từng bước tập trung ruộng đất vào tay những
người làm ruộng giỏi”.
Chỉ thị số 18 năm 1990 của Trung Quốc quy định “ổn định quan hệ
ruộng đất nhận khoán không có nghĩa là không cho phép có sự điều chỉnh về
mảnh ruộng và số lượng ruộng khoán, những thửa ruộng quá phân tán, không
thuận tiện cho việc canh tác thì có thể căn cứ vào nguyện vọng của quần
chúng mà tiến hành điều chỉnh theo nguyên tắc số lượng và giá trị ngang
bằng”. Trong quá trình thực hiện khoán ruộng đất cho các hộ nông dân, một
số địa phương đã thực hiện việc khoán đất tốt kèm đất xấu, cho nên ruộng đất
nhận khoán phân tán, manh mún không thuận tiện cho nông dân canh tác.
Những năm gần đây một số địa phương đã căn cứ nguyện vọng của quần
chúng, tiến hành nhận ruộng đất và điều chỉnh. Kết quả đã diễn ra tốt, nhưng
cần phải giữ vững hai nguyên tắc:
Đặng Tuấn
15
LỚP QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI (2006-2010) TẠI THÁI BÌNH
Đặng Tuấn
16
LỚP QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI (2006-2010) TẠI THÁI BÌNH
Khoá luận tốt nghiệp
Vào thời kỳ này, sản xuất nông nghiệp chủ yếu sử dụng lao động thủ
công và sức kéo gia sức. Đã xuất hiện sự chênh lệch lớn về thu nhập giữa lao
động nông nghiệp và lao động của các ngành khác. Để chấn hưng nông nghiệp,
năm 1961 Chính phủ Nhật Bản đã ban hành Luật cơ bản về nông nghiệp. Một
trong ba mục tiêu chính của Luật cơ bản nông nghiệp là đưa nông nghiệp từ
quy mô nhỏ lên quy mô lớn. Để thực hiện mục tiêu này Bộ nông nghiệp đề ra
“Sự nghiệp xây dựng ruộng đất với ba mục tiêu: rộng, chắc chắn, sâu”.
- Rộng: nâng kích thước thửa ruộng lên 0,3 ha.
- Chắc chắn: cải tạo nền đất yếu, nhiều bùn, hay mún trên cơ sở kiến
thiết xây dựng thoát nước cho từng thửa ruộng và toàn khu vực để có thể sử
dụng máy móc thuận lợi.
- Sâu: cải tạo tầng canh tác ruộng đất đảm bảo độ dày khoảng 1m (theo
các chuyên gia Nhật Bản thì Nhật Bản học tập kinh nghiệm chuyển đổi xử lý
đất của Cộng hoà Liên Bang Đức).
Để đáp ứng nhu cầu trên phải làm hai việc:
- Về mặt hành chính: đó là xử lý chuyển đổi đất từ các thửa nhỏ ở xa
nhau thành các thửa có kích thước lớn.
- Về mặt kỹ thuật: gắn liền với việc xử lý kích thước thửa ruộng là việc
xây dựng hệ thống tưới tiêu và san ủi mặt bằng. Việc chuyển đổi đất là công
việc rất phức tạp vì đất đai thuộc sở hữu tư nhân và việc chuyển đổi phải tiến
hành đồng thời với một số biện pháp, công việc khác mới phát huy có hiệu
tăng sức sản xuất của đất đai, làm tăng năng suất lao động của người nông
dân, tạo điều kiện phát triển hàng hoá để nâng cao sức cạnh tranh của nông
nghiệp. Vì vậy, cùng những yêu cầu khác, việc chuyển đổi xử lý đất nông
nghiệp đã góp phần quan trọng đưa năng suất lúa từ 3000 kg gạo/ha năm
1960, lên 6000 kg gạo/ha năm 1992. Hiện nay việc chuyển đổi xử lý ruộng
đất được tiếp tục khuếch trương lên 1ha hoặc 2 ha, có thể lên tới 3 ha hoặc
6ha, tiến gần đến quy mô thửa ruộng
c/ Ở Đài Loan, sau năm 1949 dân số tăng đột ngột do sự di dân từ trong
lục địa ra. Lúc đầu chính quyền Tưởng Giới Thạch thực hiện cải cách ruộng
đất theo nguyên tắc phân phối đồng đều ruộng đất cho nông dân. Ruộng đất
đã được trưng thu, tịch thu, mua lại của các địa chủ rồi bán chịu, bán trả dần
cho nông dân, tạo điều kiện ra đời các trang trại gia đình quy mô nhỏ. Năm
Đặng Tuấn
18
LỚP QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI (2006-2010) TẠI THÁI BÌNH
Khoá luận tốt nghiệp
1953 ở Đài Loan đã có 679.000 trang trại với quy mô 1,29 ha. Đến năm 1961
đã lên tới 823.256 trang trại với quy mô chỉ còn 1,08 ha. Tuy nhiên, quá trình
công nghiệp hoá nông nghiệp nông thôn sau này đòi hỏi phải mở rộng quy mô
của các trang trại gia đình nhằm ứng dụng các tiến bộ khoa học để giảm chi
phí sản xuất và hạ giá thành sản phẩm. Nhưng do người Đài Loan coi ruộng
đất là tiêu chí đánh giá vị trí của họ trong xã hội nên mặc dù có thị trường đất
đai nhưng ruộng đất vẫn không được trao đổi để có thể tích tụ (có nhiều người
tuy là chủ đất nhưng đã chuyển sang làm nghề phi nông nghiệp). Để giải
quyết tình trạng này năm 1983 Đai Loan công bố Luật phát triển nông nghiệp
1,21
Hàn quốc
0,86
0,94
1,20
Thái Lan
3,50
3,56
4,52
Nguồn: Hội khoa học kinh tế Việt nam (1988) [5]
Đặng Tuấn
19
LỚP QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI (2006-2010) TẠI THÁI BÌNH
Khoá luận tốt nghiệp
2.3.2 Tích tụ ruộng đất ở một số nước Âu mỹ
Các nước Âu Mỹ bình quân ruộng đất trên đầu người khá cao, tốc độ đô
Số trang trại (nghìn)
2885
1588
1263
982
Diện tích bình quân (ha)
14
19
23
29
Đức
Số trang trại (nghìn)
2051
1709
1075
983
Diện tích bình quân (ha)
11
10
14
15
Anh
Số trang trại (nghìn)
543
467
327
254
Diện tích bình quân (ha)
36
41
Quy mô ruộng đất được thể hiện qua kinh tế quy mô trong nông nghiệp ở hai
khía cạnh:
+ Sự phù hợp giữa quy mô các nguồn lực (đất đai, đàn gia súc, vốn, lao
động và công nghệ) và khả năng quản lý sử dụng các nguồn lực trong nông
hộ. Theo khái niệm này, quy mô kinh tế được mở rộng nhằm hạ giá thành,
tăng sức cạnh tranh của nông sản. Các chi phí có thể được giảm nhờ tăng quy
mô bao gồm: chi phí quản lý trang trại, chi phí áp dụng tiến bộ khoa học kỹ
thuật, chi phí tư vấn, đào tạo, …
+ Sự phù hợp giữa quy mô các mảnh thửa trong trồng trọt và các đàn
gia súc trong chăn nuôi với khả năng đầu tư thâm canh và áp dụng hiệu quả
khoa học tiến bộ kỹ thuật.
Phương thức tăng quy mô ô thửa có thể hỗ trợ quá trình đầu tư, thâm
canh, cơ giới hoá qua đó có thể làm tăng hiệu quả sản xuất/1đơn vị diện tích.
Nhưng nhiều ý kiến cho rằng quá trình tập trung thâm canh trên đây chỉ phát
huy tác dụng khi sản xuất hàng hoá phát triển. Nói cách khác quy mô của các
ô thửa, đàn gia súc, ... phụ thuộc vào quy mô sản xuất, trình độ sản xuất và
khả năng đầu tư của nông hộ. Trong trường hợp lao động dư thừa và sản xuất
có nhiều rủi ro, người nông dân nhỏ thường chọn giải pháp đầu tư vào lao
động hơn là đầu tư vào các nguồn lực khác và vì thế họ ít quan tâm đến việc
dồn điền đổi thửa. Quy mô sản xuất phụ thuộc vào đặc điểm của các loại hình
Đặng Tuấn
21
LỚP QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI (2006-2010) TẠI THÁI BÌNH
Khoá luận tốt nghiệp
nông hộ và khả năng áp dụng khoa học công nghệ vào sản xuất …Ví dụ như
quy mô sản xuất có hiệu quả hiện nay ở Pháp là từ 50ha đến 100ha/nông hộ,
Khoá luận tốt nghiệp
Kinh nghiệm chung của các nước là tích tụ ruộng đất phải đi đôi với giải
quyết việc làm cho lực lượng nông dân cho thuê hoặc bán ruộng cho người
khác. Việc làm ở đây bao gồm các công việc ngay trong lĩnh vực nông nghiệp
như; Làm thuê cho các trang trại lớn( có thể làm thuê cho chính người mình
cho họ thuê đất hay bán ruộng ) Song chủ yếu vẫn là tạo ra các việc làm ngoài
nông nghiệp (công nghiệp, dịch vụ nông thôn…) để chuyển dịch cơ cấu kinh
tế nông thôn.
2.4 Chuyển đổi ruộng đất khắc phục tình trạng manh mún ruộng đất
trong sản xuất nông nghiệp
2.4.1. Những khái niệm về manh mún ruộng đất
Manh mún ruộng đất nghĩa là một hộ nông dân có nhiều thửa ruộng, là
một đặc điểm quan trọng trong nông nghiệp của nhiều nước, nhất là các nước
đang phát triển. ở Việt Nam manh mún ruộng đất rất phổ biến, đặc biệt ở
miền Bắc. theo con số thống kê ước tính toàn quốc có khoảng 75 triệu mảnh,
trung bình một hộ nông dân có khoảng 7-8 mảnh. Manh mún đất đai là một
trong những rào cản của sự phát triển nông nghiệp nhất là sản xuất trồng trọt.
Cho nên rất nhiều nước đã và đang thực hiện chính sách khuyến khích tập
trung đất đai. ở Việt Nam cũng đang thực hiện chính sách này trong những
năm gần đây, dưới quan điểm kinh tế, nếu manh mún đất đai làm cho lao
động và các nguồn lực khác phải chi phí nhiều hơn thì việc giảm mức độ
manh mún đất đai sẽ tạo điều kiện để các nguồn lực này được sử dụng ở các
ngành nghề khác có hiệu quả hơn. Như vậy, trên tổng thể nền kinh tế sẽ đạt
được lợi ích khi ta giảm mức độ manh mún đất đai.
2.4.2. Tình trạng manh mún ruộng đất ở Việt Nam
ở Việt Nam tình trạng manh mún ruộng đất diễn ra khá phổ biến, đặc biệt
là ở các tỉnh Trung du, miền núi Bắc Bộ. Trên thực tế, khái niệm manh mún
5
6
7
Mức độ manh mún của các vùng ở Việt Nam
Vùng sinh thái
Tổng số thửa/ hộ
(thửa)
Trung
Cá biệt
bình
Diện tích bình quân/ thửa
(m2)
Đất lúa
Trung du miền núi
10 - 20
50
150 - 300
bắc bộ
Đồng bằng sông
7
25
300 - 400
Hồng
Duyên hải Bắc
7 - 10
1000 - 5000
1000 - 5000
5000 - 10000
24
LỚP QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI (2006-2010) TẠI THÁI BÌNH
Khoá luận tốt nghiệp
Tại Tỉnh Thái Bình, việc giao đất nông nghiệp ổn định, lâu dài cho hộ
nông dân đã được thực hiện từ năm 1993 theo nghị định 64/NĐ-CP của chính
phủ, quyết định 652/QĐ-UB ngày 17/11/1993 của UBND tinh Thái Bình và
quyết định số 948/2000/QĐ-UB này 25/9/2000 của UBND tỉnh Thái Bình về
việc giao ruộng đất ổn định, lâu dài và cấp GCNQSDD cho hộ nông dân. Do
tiến độ giáo đất nông nghiệp ổn định, lâu dài cho các hộ nông dân của Thái
Bình diễn ra khá nhanh, đến cuối năm 1993, đã cơ bản hoàn thành. và điều
chỉnh bổ sung năm 2000 Đất được giao phân tán tại nhiều xứ đồng khác nhau:
Số lượng thửa đất của mỗi hộ được giao còn quá lớn ( bình quân số thửa / hộ
toàn tỉnh từ 10- 15 thửa: các xã vùng chuyên canh lúa bình quân 7- 8 thửa /
hộ: nhiều vùng trồng màu bình quân trên 15 thửa / hộ: cá biệt có hộ được giao
đến 25 thửa ruộng). Ngoài ra, quỹ đất công ích không tập trung, nhiều nơi chỉ
có trên sổ sách, còn trên thực địa nằm lẫn trong diện tích giao ổn định, lâu dài
của một số hộ nông dân. Nhưng xét về cả quy mô diện tích trung bình của
một hộ và diện tích/ thửa đất so với cả nước thì ruộng đất của Tỉnh Thái Bình
manh mún hơn nhiều.
Nguyên nhân của tình trạng này là do cách tư duy lệch lạc về “ Công bằng
xã hội” mà thực chất là do ảnh hưởng của tư tưởng tiểu nông “ Bình quân chủ
nghĩa” Do đó, ruộng đất được xé nhỏ và phân đều cho mỗi hộ có ruộng gần,
ruộng xa; có tốt, có xấu và có thuận lợi, có khó khăn trong sản xuất….