CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG HỌC
TẬPMÔN TIẾNG ANH THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG
LỰC GIAO TIẾP Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
1
Tổng quan nghiên cứu vấn đề
Nghiên cứu nước ngoài
Ngay từ thời cổ đại, vấn đề học tập và quản lý HĐHT đã
được nhiều nhà triết học, nhà giáo dục học ở cả phương Tây và
phương Đông nghiên cứu tổng kết. Ta có thể thấy các tư tưởng
và các công trình nghiên cứu quan trọng sau đây:
- Quản Trọng (725-645 TCN) là người có đức nhân, trọn
cuộc đời dành cho sự nghiệp giáo dục: “Kế hoạch trọn đời
chẳng gì bằng trồng người. Chung thân chi kế mạc như thu
nhân”.
- Khổng tử (551- 479 TCN) là bậc hiền tài, ông đề cao vai
trò của học sinh, rất coi trọng tính tích cực nhận thức của người
học, đó là chìa khóa dẫn đến thành công. Người thầy ở vị trí
khai mở, hướng dẫn, còn mọi vấn đề do người học tìm ra:
- Socrate (469- 399), ông là triết gia người Hy Lạp, ông
quy tụ được thanh niên và dạy học bằng phương pháp đàm
thoại, nâng cao vai trò của hoạt động học qua trao đổi, góp ý.
“Tôi biết tôi không biết gì cả” [23, tr.25], ông cho thấy việc học
là vô cùng, liên tục và kéo dài. Sự nhận thức của con người qua
việc nhận ra, hiểu biết và ý thức đều cho thấy rằng còn
ngườicòn thiếu hiểu biết.
2
hai việc: Nâng cao nhận thức về bản chất của HĐDH và quản lý
đổi mới HĐDH” [3]. Đặng Quốc Bảo, Nguyễn Thành Vinh Quản lý nhà trường, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam, 2011 đã
đưa ra 8 định hướng cần quán triệt cho giáo viên cho GV về đổi
mới phương pháp dạy học. Học sinh được khích lệ bày tỏ quan
điểm, đề xuất ý tưởng và cùng GV giải quyết vấn đề để việc dạy
và học hiệu quả ngày càng cao [21].
Trong lĩnh vực nghiên cứu sâu về quản lý hoạt động học
tập trong trường THPT và quản lý hoạt động học Tiếng Anh
trong trường THPT đến nay đã có một số tác giả nghiên cứu và
đưa ra được một số biện pháp nhất định để nâng cao chất lượng
dạy học của địa phương mình. Đó là:
Tác giả Nguyễn Cảnh Toàn đã nghiên cứu sâu và cho xuất
bản tuyển tập “Tự giáo dục, tự học, tự nghiên cứu” qua đó thấy
được mối liên kết của ba mặt nói trên. Tuyển tập về họat động
4
học tiếp theo là “Học để đuổi kịp và vượt”. Ông đã thấy ngành
giáo dục Việt nam có phát triển theo thời gian nhưng tốc độ và
chất lượng không theo kịp sự phát triển của kinh tế và sự cạnh
tranh quyết liệt trên trường quốc tế và ngay trong khu vực. Ông
trăn trở rất nhiều trong lĩnh vực giáo dục khi thấy giáo dục ta
tiến lên chậm chạp. Trong tuyển tập nghiên cứu trên cho thấy
trong từng con người học, trong các hệ thống tổ chức giáo dục,
còn ẩn chứa nhiều tiềm năng lâu nay để lãng phí và cách khai
thác tiềm năng đó.
Tác giả Nguyễn Văn Đản nghiên cứu về “Tổ chức họat
động học”, Nguyễn Duy Cần nghiên cứu về “Tôi tự học”. Đỗ
Linh-Lê Văn nghiên cứu về “Phương pháp học tập hiệu quả”,
Nguyễn Văn Hấn nghiên cứu “Làm sao để học hiệu quả”.
tự học của ở nhà, học nhóm. Căn cứ vào sự tác động của các
yếu tố chi phôi đén giáo dục người học đề xuất quản lý sự phối
hợp giữa nhà trường và gia đình…
6
“Thực trạng quản lí hoạt động học tập của học viên trường
trung cấp kỹ thuật hải quân” của tác giả Phạm Trung Thành
(2011). Luận văn này tác giả đã nghiên cứu họat động học tập
theo bốn chức năng quản lí và quản lí theo các thành tố của họat
động học như.
Những luận văn nghiên cứu quản lý hoạt động tự học của
học sinh, sinh viên như: “Thực trạng công tác quản lí của hiệu
trưởng đối với hoạt động tự học của học sinh THPT huyện Thốt
Nốt, Cần Thơ” của Tác giả Lê Thị Thanh Tú; “Quản lý của hiệu
trưởng nhằm nâng cao khả năng tự học cho học sinh tại
TPHCM” của tác giả Lê Khắc Mỹ Phượng. “Thực trạng quản lý
học tập đối với sinh viên trường Đại học Yersin Đà Lạt” của tác
giả Nguyễn Thanh Sơn.
Nhìn nhận kết quả đạt được hai mươi năm qua, một cách
khách quan có thể nói, hệ thống giáo dục đã góp phần đào tạo
lực lượng lao động hiện đang thuộc độ tuổi 30-50, bộ phận nhân
lực quan trọng trong các hoạt động kinh tế - xã hội hiện nay.
Đồng thời đảm bảo cung ứng chỗ học cho một phần tư dân số
tạo điều kiện đáng kể vào việc giữ gìn sự ổn định xã hội. Tuy
nhiên, những kết quả đạt được trên lĩnh vực giáo dục đã không
tương xứng với sự đóng góp và mong muốn của nhân dân cũng
như chưa đáp ứng nhu cầu của sự phát triển kinh tế, xã hội. Về
7
cá nhân, có ảnh hưởng quyết định trong tiến trình hình thành,
phát triển nhân cách của mỗi cá nhân. Cũng xuất phát từ quan
niệm như vậy, để thích nghi với sự bùng nổ ngày càng gia tăng
của tri thức gắn liền với cách mạng khoa học công nghệ, thì
giáo dục phổ thông còn là nền tảng cho việc học suốt đời… một
đặc trưng của mô hình mới.
Ngày nay, chúng ta đã thấy rõ rằng ngoại ngữ là yếu tố đặc
biệt góp phần phát triển khả năng của mọi dân tộc. Tuy nhiên,
theo đánh giá của [12] chương trình học Tiếng Anh trong các
trường THPT hiện nay cònthiếu và yếu, chương trình, sách giáo
khoa lạc hậu, học sinh không có điều kiện thực hành là những
vấn đề cho thấy sự yếu kém của việc dạy và học môn tiếng Anh
hiện nay.
- Một số khái niệm cơ bản về quản lý
- Quản lý
Theo quan điểm điều khiển học: “Quản lý là chức năng
của những hệ có tổ chức, với bản chất khác nhau: sinh học, xã
hội học, kỹ thuật,... nó bảo toàn cấu trúc các hệ, duy trì chế độ
9
hoạt động. Quản lý là một tác động hợp quy luật khách quan,
làm cho hệ vận động, vận hành và phát triển”. [22, tr.45]
Theo quan điểm của lí thuyết hệ thống: “Quản lý là
phương thức tác động có chủ định của chủ thể quản lý lên hệ
thống, bao gồm hệ các quy tắc, các ràng buộc về hành vi đối với
mọi đối tượng ở các cấp trong hệ thống nhằm duy trì tính trội
hợp lí của cơ cấu và đưa hệ thống đạt tới mục tiêu”. [22, tr.36]
Tác giả Trần Kiểm: “Quản lý một hệ thống xã hội là tác
Hoạt động học được nghiên cứu từ nhiều góc độ với cách
tiếp cận khác nhau do tính đa dạng, phong phú của họat động
này. Vì thế có nhiều quan niệm khác nhau về họat động học.
Theo tự điển giáo dục học Greenwood, học là quá trình
tâm lý diễn ra những thay đổi về kiến thức hay hành vi của cá
nhân nhờ sự tương tác giữa kinh nghiệm người học với môi
trường xung quanh [36, tr 6].
11
Nhận thức luận coi kết quả của hoạt động học là sự phản
ánh hiện thực khách quan vào trong tư duy của con người. Sự
phản ánh đó phát triển từ trình độ nhận thức cảm tính (bằng các
giác quan) đến nhận thức lý tính (bằng các thao tác tư duy) để
tìm ra chân lý khoa học, vận dụng lý thuyết vào thực hành và
vận dụng sáng tạo trong thực tiễn. Đối với người học, sau khi
nhận thức được đối tượng còn phải học, ghi nhớ dài hạn các
kiến thức, kỹ năng cơ bản, tái hiện, diễn đạt lại bằng lời nói, chữ
viết, làm thực hành cho giáo viên và những người khác hiểu
được [14, tr 5].
Học là sự chiếm lĩnh tri thức hoặc hành vi dẫn đến kết quả
là sự thay đổi tương đối bền vững ở kiến thức, hành vi cá nhân
nhờ kinh nghiệm chủ thể. Có thể hiểu, học là sự chiếm lĩnh tri
thức, lưu giữ và sở hữu nó.
Theo tâm lý học thì hoạt động là sự tác động của con
người vào thế giới khách quan tạo ra sự thay đổi cả về con
người cả về thế giới khách quan trong đó con người là chủ thể
còn thế giới khách quan là khách thể hay nói cách khác là đối
tượng của hoạt động.
Quản lý hoạt động học tập:
một cách thành công, hoặc thực hiện một hoạt động/một nhiệm
vụ thành công”.
Ủy ban Châu Âu (2004) tuyên bố: năng lực nói đến một sự
kết hợp giữa kĩ năng, tri thức, năng khiếu, thái độ, và bao gồm
cả sự sẵn sàng để học cũng tốt như làm (ý muốn nói học tốt lý
thuyết và làm tốt công việc trọng thực tế). Những năng lực chủ
yếu là một tập hợp đa chức năng và là tập hợp gồm tri thức, kĩ
năng và thái độ có thể di chuyển được mà tất cả các cá nhân cần
cho sự hiểu biết của cá nhân và sự phát triển của họ kể cả khi
làm việc.
Theo từđiển Tiếng Việt do Hoàng Phê (chủ biên) thì năng
lực có thểđược hiểu theo hai nghĩa:
Chỉ một khả năng, điều kiện tự nhiên có sẵn để thực hiện
một hoạt động nào đó [25, tr.114].
Hiểu theo nghĩa thứ nhất, năng lực là có thực, được bộc lộ
ra thông qua việc sử dụng thành thạo một hoặc một số kĩ năng
nào đó trong một công việc cụ thểđểđạt được kết quả theo
chuẩn.
14
Hiểu theo nghĩa thứ hai, năng lực là một cái gìđó sẵn cóở
dạng tiềm năng của người học có thể giúp họ giải quyết những
tình huống có thực trong cuộc sống.
Như vậy theo hai cách hiểu trên thì năng lực vừa tồn tại ở
dạng tiềm năng, vừa là một dạng hoạt động được bộc lộ thông
qua quá trình giải quyết có hiệu quả những tình huống có thực
trong cuộc sống.
Theo quan niệm của chương trình GD phổ thông của
năng lực tư duy bằng Tiếng Anh.
Hình thành được các năng lực trên là cơ sở cho việc học
tập các môn khoa học khác vì các công trình nghiên cứu đa số
đều được viết bằng Tiếng Anh .
- Đặc điểm tâm sinh lý học sinh THPT
Lứa tuổi HS THPT bao gồm những em có độ tuổi :15 đến
18 tuổi .
16
Có vị trí đặc biệt quan trọng trong các thời kì phát triển
của trẻ em .
Là thời kì kết thúc căn bản quá trình trưởng thành và phát
triển của đứa trẻ cả về sinh lý và tâm lý.
Là thời kì mà năng lực trí tuệ ,nhân sinh quan ,thế giới
quan lý tưởng và toàn bộ nhân cách của con người dần được
hoàn thiện.
Sự phát triển về thể chất
Ở tuổi này nhịp độ tăng trưởng về chiều cao và trọng
lượng chậm lại .Trọng lượng của các em trai đã phát triển kịp
các em gái và tiếp tục vượt lên.
Hệ xương đã cốt hóa ,vì thế các động tác và dáng điệu của
các em trở nên cứng rắn hơn.
Sự phát triển về mặt thể chất sẽ:
+ Tạo điều kiện cho các em tham gia các hoạt động phát
huy tính độc lập,sáng tạo.
+ Kết hợp hài hòa giữa hoạt động học tập lao động và hoạt
động khác.
+ Tổ chức các hoạt động giúp các em rèn luyện thể chất.
17
.Đặc điểm phát triển trí tuệ :tính chủ định được thể hiện rõ
rệt ở tât cả các quá trình nhận thức.
Các quá trình cảm giác và tri giác đạt tới mức độ hoàn
thiện và tinh tế
Ghi nhớ có chủ định giữ vai trò chủ đạo trong hoạt động trí
tuệ của các em.
Tư duy của học sinh THPT có những thay đổi quan trọng
,tư duy trừu tượng chiếm ưu thể.
-Tưởng tượng của HS THPT phù hợp và thực tế hơn có
tính sáng tạo
-Vốn từ phong phú đa dạng
Chính vì vậy trong giảng dạy chú ý phát triển tư duy trừu
tượng
19
Rèn luyện kĩ năng phân tích phê phán để phát triển tư duy
độc lập ,khắc phục tình trạng có kết luận vội vàng .
Kích thích tình tích cực và phát triển hứng thú môn học .
Chú ý tới các em còn nhiều yếu kém trong học tập.
Sự hình thành và phát triển thế giới quan:
+ Cơ sở cho sự phát triển thế giới quan là hệ thống tri thức
khoa học lĩnh hội ở nhà trương phổ thông.
+ Thế giới quan củaHS THPT là thế giới quan khoa học.
-Sự phát triển tự ý thức và khả năng tự giáo dục
+ Qúa trình tự ý thức diễn ra mạnh mẽ sâu sắc. Hình ảnh
của thân thể là một thành tố quan trọng của tự ý thức
+ Nội dung của tự ý thúc diễn ra phức tạp.
+ khả năng tự giáo dục tự tu dưỡng cũng phát triển mạnh.
-Đời sống tình cảm của HS THPT
-Hoạt động học tập môn Tiếng Anh ở trường THPT
- Mục tiêu học tập môn Tiếng Anh
Với mục tiêu giúp cho học sinh có được năng lực tiếng
Anh tốt để sau khi tốt nghiệp THPT, các em có thể làm việc
trong môi trường hội nhập, đa ngôn ngữ, đa văn hóa.
Một vấn đề quan trọng đặt ra ở đây là: Làm thế nào để
hình thành và phát triển năng lực giao tiếp bằng tiếng Anh để
học sinh có thể tự tin, chủ động và hội nhập với cuộc sống trong
thời đại bốn chấm không. Câu trả lời ở đây là người dạy học
tiếng Anh cùng lúc cần phải chú ý rèn 4 kỹ năng nghe, nói, đọc,
viết, khả năng tư duy ngôn ngữ bằng Tiếng Anh
Để hoàn thành mục tiêu về kiến thức và kỹ năng cho học
sinh như trình bày ở phần trên, chương trình tiếng Anh ở THPT
được xây dựng theo cấu trúc vòng tròn đồng tâm (Vòng xoáy
trôn ốc) - kiến thức ngày càng mở rộng nâng cao ở các lớp học
sau và thiết kế theo hệ thống các chủ điểm và chủ đề. Việc lựa
chọn các chủ điểm, chủ đề để đưa vào chương trình học bao giờ
cũng đảm bảo tình phù hợp: Phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý
lứa tuổi người học, phù hợp với thực tiễn học tập của người học
- Nội dung chương trình môn học Tiếng Anh ở trường
THPT theo hướng PTNLGT ở trường THPT
22
Từ khoảng vài chục năm nay, khi so sánh quốc tế về
chương trình hoặc phân tích xu hướng phát triển chương trình,
một số tác giả và một số tổ chức giáo dục thường đề cập đến 2
xu hướng chính: Tiếp cận dựa vào nội dung (content-based
approach) và Tiếp cận dựa vào kết quả đầu ra (outcome-based
approach). Gần đây, từ cách tiếp cận thứ 2 xuất hiện một xu
PTNLGT ở trường THPT
Đối với hình thức học tập trên lớp: trên lớp học sinh học
theo thời khóa biểu, giáo viên sẽ quy định cụ thể cách học đối
với môn học. HS có thể là nghiên cứu trước bài học ở nhà, tập
trung nghe giảng và ghi chép, xem lại bài, chuẩn bị và thảo luận
về một vấn đề, nội dung học tập. Có thể phân chia theo từng
nhóm học sinh để tìm hiểu nghiên cứu kỹ bài vừa học.
GV có thể tích cực dạy học tích hợp liên môn, tạo ra
những giờ học sinh động. Tại nhiều trường học, trong các giờ
ngoại ngữ, kiến thức tổng hợp các môn học Địa lý, Lịch sử…
24
được lồng ghép, giúp học sinh phát triển hiểu biết về các quốc
gia trên thế giới, giới thiệu về đất nước mình. Giờ học vì vậy đã
thực tế hơn, kiến thức ngôn ngữ cũng đã được cập nhật hơn
giúp học sinh phát triển tốt kiến thức và kỹ năng.
Lựa chọn linh hoạt các phương pháp dạy học chung và
phương pháp dạy học đặc thù môn học, đảm bảo nguyên tắc
“Học sinh tự hoàn thành nhiệm vụ nhận thức với sự tổ chức,
hướng dẫn của giáo viên”.
Dạy học thông qua tổ chức liên tiếp các hoạt động của
người học theo hướng tìm tòi, khám phá tri thức.
Tạo môi trường học tập thuận lợi cho học sinh trong hoạt
động tương tác giữa học sinh với bạn bè, với giáo viên, với
người nước ngoài.
Chú trọng xây dựng các tình huống thực tiễn gắn với đời
sống thực của học sinh.
Tích cực sử dụng công nghệ thông tin trong dạy học.
Vai trò giáo viên là người hướng dẫn, tổ chức hoạt động,