Giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho sinh viên các trường đại học ở hà nội hiện nay - Pdf 54

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA
HỒ CHÍ MINH

HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN

ĐÀO THU HIỀN

GIÁO DỤC Ý THỨC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG
CHO SINH VIÊN CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC
Ở HÀ NỘI HIỆN NAY

LUẬN ÁN TIẾN SĨ CHÍNH TRỊ HỌC

HÀ NỘI - 2019


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA
LỜI CAM ĐOAN
HỒ CHÍ MINH

HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các
kết quả nghiên cứu trong luận án là trung thực, có nguồn gốc xuất xứ rõ
HIcông
ỀN trình khoa học nào.
ràng và chưa được ai công bốĐÀO

phố Hà Nội; lãnh đạo Khoa, Phòng, Ban của các trường: Đại học Thủy Lợi,
Học viện Quản lý giáo dục, Học viện Báo chí và Tuyên truyền, Học viện Tài
chính, Học viện Kỹ thuật Quân sự, Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà
Nội đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi tiến hành điều tra khảo sát và thu thập
số liệu phục vụ nghiên cứu.
Thứ ba, tôi rất cảm ơn anh em, bạn bè, đồng nghiệp đã luôn động viên
và giúp đỡ tôi trong thời gian học tập.
Cuối cùng, tôi xin dành những lời đặc biệt nhất tới những người thân
yêu trong gia đình đã luôn là điểm tựa, là nguồn động lực mạnh mẽ để tôi cố
gắng hoàn thành nhiệm vụ.

Tác giả luận án

Đào Thu Hiền


MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU .................................................................................................................1
1
8
Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU...............................
1.1.

Những nghiên cứu về giáo dục tư tưởng và giáo dục tư tưởng cho
thanh niên, sinh viên.............................................................................................

8
12


Sự cần thiết của giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho sinh viên
đại học hiện nay.......................................................................................................

75

Chương 3: THỰC TRẠNG VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA TRONG
GIÁO DỤC Ý THỨC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG CHO SINH VIÊN
CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC Ở HÀ NỘI.................................................

75

3.1. Những yếu tố tác động đến giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho sinh
viên các trường đại học ở Hà Nội .................................................................

86

3.2. Thực trạng và nguyên nhân của thực trạng giáo dục ý thức bảo vệ môi
trường cho sinh viên các trường đại học ở Hà Nội hiện nay..........................

122

3.3. Một số vấn đề đặt ra về giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho sinh viên 130
đại học ở Hà Nội hiện nay...............................................................................
Chương 4: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG GIÁO DỤC Ý
THỨC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG CHO SINH VIÊN CÁC 130
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Ở HÀ NỘI HIỆN NAY.....................................


4.1. Các quan điểm định hướng cho hoạt động giáo dục ý thức bảo vệ môi
trường cho sinh viên các trường đại học ở Hà Nội........................................ 137

Biểu đồ 2.2. Mức độ thực hiện các hành vi bảo vệ MT của sinh viên

105

Biểu đồ 2.3. Các đơn vị, tổ chức thu hút sinh viên tham gia hoạt
động bảo vệ MT
Biểu đồ 2.4. Nhận thức của sinh viên về lĩnh vực chịu tác động nhiều nhất
bởi ô nhiễm MT, BĐKH

113

117


MỞ ĐẦU
1.

Lý do chọn đề tài
Giáo dục tư tưởng là một bộ phận cấu thành quan trọng trong công tác
tư tưởng, nhằm đưa đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật
của Nhà nước thấm nhuần vào nhận thức nhân dân, khơi dậy và phát huy
tinh thần yêu nước, ý chí tự lực, tự cường, tính chủ động, sáng tạo của quần
chúng, tạo nên sự thống nhất, đồng thuận cao trong xã hội. Trong mỗi thời
kỳ lịch sử nhất định của dân tộc, thực tiễn đặt ra yêu cầu và nhiệm vụ giáo
dục tư tưởng có tính chất đặc thù, nội dung giáo dục có những biến đổi cho
phù hợp điều kiện phát triển của xã hội. Công cuộc đổi mới để phát triển đất
nước hiện nay đòi hỏi nội dung giáo dục tư tưởng rất phong phú, đa dạng,
trong đó có nội dung giáo dục về YTBVMT – một vấn đề vừa có tính thời
sự, vừa cấp bách không chỉ ở Việt Nam mà còn cả trên thế giới.
Hiện nay, ô nhiễm MT và BĐKH đang trở thành một thách thức lớn với

lược phát triển kinh tế - xã hội 2011-2020, Đảng xác định: “Nâng cao
YTBVMT, gắn nhiệm vụ, mục tiêu bảo vệ MT với phát triển kinh tế xã hội”.
GDYTBVMT cho mọi tầng lớp nhân dân, đặc biệt là giáo dục cho thế
hệ trẻ về vấn đề này có ý nghĩa to lớn. Thế hệ trẻ, trong đó có thanh niên
sinh viên, là bộ phận xã hội luôn được Đảng ta quan tâm đào tạo, bồi dưỡng.
Họ sẽ trở thành lực lượng nòng cốt gánh vác trọng trách tương lai của đất
nước. Những năm qua, việc GDYTBVMT cho thanh niên sinh viên đã được
thực hiện, góp phần trang bị nền tảng nhận thức, cổ vũ tinh thần nhiệt tình
hăng hái của họ trong các hoạt động bảo vệ MT, vì sự phát triển bền vững,
nhằm phát huy vai trò xung kích của thanh niên trên mọi mặt trận trong công
cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc. GDYTBVMT cho sinh viên ở các trường
đại học có ý nghĩa quan trọng không chỉ với mục tiêu giáo dục toàn diện con
người thế hệ mới, mà còn có thể tạo sự lan tỏa ý nghĩa giáo dục cho cả xã
hội, góp phần thực hiện hiệu quả chương trình mục tiêu quốc gia về ứng phó
với BĐKH, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên.
Hà Nội là một trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa của cả nước, tập
trung số lượng lớn các trường đại học và số lượng lớn nhất sinh viên tại đây.
Tuy nhiên, với tốc độ đô thị hóa diễn ra nhanh chóng gắn liền với việc đẩy


mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Hà Nội ngày nay phải đối mặt với
nhiều thách thức nghiêm trọng do ô nhiễm MT, ảnh hưởng tới những mục
tiêu phát triển và đảm bảo chất lượng an sinh xã hội. Trước yêu cầu bức thiết
của thực tiễn, công tác giáo dục và đào tạo của các nhà trường nói chung và
các trường đại học ở Hà Nội nói riêng cần phải có nhiều đổi mới hơn nữa,
chú trọng nội dung GDYTBVMT nhằm hình thành nên những thế hệ con
người tích cực, biết sống có trách nhiệm với MT và xứng đáng là lực lượng
nòng cốt của thế hệ thanh niên thời đại mới.
GDYTBVMT cho sinh viên các trường đại học ở Hà Nội những năm
gần đây đã bước đầu được quan tâm và đạt kết quả nhất định. Tuy nhiên,

GDYTBVMT cho sinh viên hiện nay.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt mục đích nêu trên, tác giả luận án cần thực hiện nhiệm vụ:
+ Tổng quan các công trình khoa học đã công bố trong và ngoài nước
có liên quan đến đề tài, để từ đó xác định hướng nghiên cứu của luận án.
+ Hệ thống hóa và phân tích một số vấn đề lý luận về GDYTBVMT
cho sinh viên đại học, tầm quan trọng của GDYTBVMT cho sinh viên trong
bối cảnh BĐKH trên thế giới và Việt Nam hiện nay
+ Khảo sát thực trạng GDYTBVMT cho sinh viên và đánh giá thực
trạng YTBVMT của sinh viên các trường đại học ở Hà Nội hiện nay (qua
khảo sát 6 trường đại học đại diện ở Hà Nội); từ đó khái quát những vấn đề
đặt ra đối với hoạt động GDYTBVMT cho sinh viên.
+ Đề xuất một số quan điểm định hướng và giải pháp chủ yếu nhằm
tăng cường GDYTBVMT cho sinh viên đại học ở Hà Nội hiện nay
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu
Luận án tập trung nghiên cứu vấn đề GDYTBVMT cho sinh viên các
trường đại học ở Hà Nội hiện nay
- Phạm vi nghiên cứu
+ Phạm vi nội dung nghiên cứu của luận án: GDYTBVMT cho sinh
viên các trường đại học ở Hà Nội hiện nay.
+ Đối tượng và phạm vi khảo sát: cán bộ và sinh viên hệ chính quy 6
trường đại học trên địa bàn thành phố Hà Nội (Đại học Thủy Lợi, Học viện
Quản lý giáo dục, Học viện Tài chính, Học viện Kỹ thuật quân sự, Học viện
Báo chí và Tuyên truyền, Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội). Đây là
các trường đại học đại diện cho nhiều khối ngành đào tạo (ngành kỹ thuật,
ngành kinh tế, ngành khoa học quản lý, khoa học xã hội nhân văn, quân sự);


đồng thời đại điện cho các khối trường: công lập và ngoài công lập; khối dân

Phương pháp nghiên cứu cụ thể: Luận án sử dụng phương pháp lịch sử
- lôgic, phân tích và tổng hợp, thống kê, nghiên cứu tài liệu, phương pháp
điều tra xã hội học, phương pháp phỏng vấn chuyên gia.
- Với phương pháp lịch sử - lôgic, vấn đề nghiên cứu được đặt trong
bối cảnh nước ta đang đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, sự suy thoái
MT, BĐKH ngày càng trở nên nghiêm trọng, có nhiều biểu hiện phức tạp
nhưng vẫn tuân theo quy luật khách quan tất yếu, đòi hỏi quá trình
GDYTBVMT phải bám sát những quy luật đó. Phương pháp này còn được
dùng để khái quát hóa những nghiên cứu ở trong nước và nước ngoài theo
lịch sử của từng nhóm vấn đề liên quan đến GDYTBVMT cho sinh viên, từ
đó rút ra một số nội dung cốt lõi làm nền tảng.
- Phương pháp phân tích và tổng hợp được sử dụng khi luận án làm rõ
từng yếu tố, cấu trúc, đặc điểm của hoạt động GDYTBVMT, đồng thời hệ
thống hóa và chỉ ra các mối liên hệ tất yếu khách quan, rút ra những kết luận
mang tính bản chất về GDYTBVMT cho sinh viên.
- Phương pháp thống kê, nghiên cứu tài liệu được sử dụng trong quá
trình thu thập, sắp xếp nguồn tài liệu, thống kê các số liệu liên quan đến hoạt
động GDYTBVMT cho sinh viên các trường đại học ở Hà Nội để làm rõ
những vấn đề lý luận và thực tiễn mà đề tài đặt ra.
- Phương pháp điều tra xã hội học được sử dụng trong quá trình khảo
sát và phân tích thực trạng YTBVMT của sinh viên hiện nay và thực trạng
GDYTBVMT cho sinh viên các trường đại học ở Hà Nội: lập bảng hỏi, chọn
mẫu mang tính đại diện để điều tra đối tượng giáo dục; thu thập dữ liệu theo
mẫu và tiến hành phân tích, xử lý số liệu. Để số liệu phục vụ phân tích có sự
thuyết phục hơn, tác giả còn dùng phương pháp tổ chức thảo luận với các
nhóm sinh viên đại diện các khóa
- Phương pháp phỏng vấn chuyên gia được sử dụng khi trao đổi lấy ý
kiến của các cán bộ giáo dục (gồm cán bộ văn phòng đảng ủy, cán bộ phòng
công tác chính trị và quản lý sinh viên, cán bộ quản lý ký túc xá, cán bộ đoàn
- hội sinh viên, cán bộ giảng viên) để làm rõ hơn nội dung của luận án.



Chương 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

1.1.

Những nghiên cứu về giáo dục tư tưởng và giáo dục tư tưởng cho thanh
niên, sinh viên
1.1.1.

Những nghiên cứu về giáo dục và giáo dục tư tưởng
- Những nghiên cứu về giáo dục
Giáo dục là một hoạt động đặc biệt, có vai trò quan trọng đối với sự

phát triển xã hội con người. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh là một nhà tư
tưởng lớn đồng thời cũng là nhà giáo dục mẫu mực, luôn quan tâm đến sự
nghiệp giáo dục - “trồng người”. Cuốn “Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo
dục” do tác giả Đào Thanh Hải và Minh Tiến sưu tầm, Nxb Lao động năm
2005, tập hợp tất cả các bài nói, bài viết, thư gửi của Người đến cán bộ giáo
dục, học sinh, sinh viên, thể hiện một tình cảm đặc biệt và tầm nhìn sáng
suốt của Người về công tác này.
Cuốn “Giáo dục học” của tác giả Phạm Viết Vượng [116] đã khái quát
những vấn đề chung của giáo dục và xem xét giáo dục học với tư cách là một
khoa học về quá trình giáo dục con người. Tác giả phân tích bản chất, mục
đích, nội dung, phương pháp, hình thức, vai trò của giáo dục; phân biệt lý
luận dạy học và giáo dục học. Trong đó, tác giả khẳng định quá trình dạy học
trong nhà trường là thành tố quan trọng của giáo dục.
Mục tiêu của giáo dục là hoàn thiện nhân cách con người với tổ hợp
những phẩm chất phù hợp các giá trị, chuẩn mực của xã hội, được xã hội

dạng.
Bàn về giáo dục tư tưởng, mỗi khoa học có những góc độ tiếp cận khác
nhau. Trong khoa học công tác tư tưởng, những vấn đề lý luận về giáo dục tư
tưởng được phân tích khá sâu sắc. Tác giả Đào Duy Tùng là người có nhiều
đóng góp lớn lao cho sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta, đồng
thời có nhiều nghiên cứu tiêu biểu ở lĩnh vực chính trị, tư tưởng. Bộ “Tuyển
tập Đào Duy Tùng” gồm 3 tập, 2008, do Nxb Chính trị quốc gia sưu tầm,
tuyển chọn những bài nói, bài viết tiêu biểu của đồng chí phân tích về vị trí,
vai trò, yêu cầu với công tác tư tưởng, trong đó có giáo dục tư tưởng. Tác giả
khẳng định những yêu cầu đổi mới nội dung, phương thức, việc tổ chức và


hoạt động; đồng thời nêu lên một số quan điểm định hướng có giá trị nhằm
xây dựng giải pháp nâng cao hiệu quả giáo dục tư tưởng trước tình hình mới.
Cuốn “Phương pháp tuyên truyền cách mạng Hồ Chí Minh” của tác
giả Hoàng Quốc Bảo, Nxb Lý luận chính trị quốc gia Hồ Chí Minh năm
2006, đã chỉ ra đặc trưng cơ bản của phương pháp tuyên truyền Hồ Chí
Minh: tính khoa học và tính cách mạng, tính đại chúng và tính nghệ thuật, sự
kết hợp giữa lời nói và hành động. Từ việc chắt lọc những giá trị về phương
pháp tuyên truyền cách mạng của Hồ Chí Minh, tác giả khẳng định sự cần
thiết phải vận dụng để đổi mới phương pháp tuyên truyền, giáo dục tư tưởng
của cán bộ tư tưởng hiện nay.
Cuốn “Cơ sơ lý luận công tác tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam”
của tác giả Lương Khắc Hiếu (2017) [53] và cuốn “Cơ sở lý luận công tác
tư tưởng” của tác giả Phạm Huy Kỳ [67] đã luận giải rất kỹ hệ thống khái
niệm cơ bản, các yếu tố cấu thành của hoạt động tư tưởng, các hình thái của
công tác tư tưởng, mối quan hệ giữa các quá trình tư tưởng với hình thái
công tác tư tưởng. Các tác giả nêu bật vị trí quan trọng, nội dung cơ bản, các
yếu tố quy định giáo dục tư tưởng. Theo nghiên cứu, giáo dục tư tưởng trong
công tác tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam là giáo dục tư tưởng xã hội

mạng sâu sắc để có thể vận dụng qua các thời kỳ cách mạng khác nhau.
Hoạt động giáo dục tư tưởng với nội dung, phương thức và những đặc
trưng nhất định do chịu sự chi phối bởi nhiều yếu tố, đặc biệt là yếu tố đối
tượng giáo dục. Đối tượng giáo dục khác nhau thì nội dung, phương thức
giáo dục khác nhau. V.I.Lênin đã từng căn dặn cán bộ tuyên giáo: “Không
thể nói về chế độ đó một cách giống nhau trong cuộc mít tinh ở nhà máy và
trong nông thôn Côdăc, trong buổi họp sinh viên và trong ngôi nhà của nông
dân, trên diễn đàn Đuma III và trên các báo chí nước ngoài” [53,157]. Về
điều này, tác giả Hà Thị Bình Hòa trong cuốn “Giáo trình tâm lý học tuyên
truyền”, Nxb Chính trị - Hành chính (2012) có phân tích việc cần phải chú ý
đến đặc trưng tâm lý các nhóm đối tượng tuyên truyền, trong đó có nhóm
thanh niên, sinh viên, để có tác động phù hợp.
Cuốn “Thanh niên – Lối sống” của tác giả Nguyễn Thị Oanh do Nxb
Trẻ năm 2001 phân tích đặc trưng tâm lý và lối sống thanh niên hiện nay,
nhấn mạnh vai trò của Đoàn thanh niên với việc giáo dục đạo đức, lối sống
cho sinh viên là hết sức quan trọng. Nghiên cứu khẳng định: để giải quyết
tận gốc những vấn đề tồn tại của lối sống thanh niên thì giáo dục cần xem


“cốt lõi là giá trị đạo đức”, “giáo dục là một hoạt động mang tính thiêng
liêng nên chỉ khi động cơ ban đầu là một hoài bão, nó mới đứng vững” [87,
114].
Tác giả Vũ Mão là người nghiên cứu nhiều về công tác thanh niên, đã
có nhiều công trình có giá trị định hướng cho hoạt động này như: “Về công
tác giáo dục thanh niên hiện nay”, Nxb Sự thật, 1984; “Nâng cao hiệu quả
công tác thanh niên”, Nxb Thanh niên, 1984. Ngoài ra, nghiên cứu về giáo
dục tư tưởng thanh niên còn có nhiều nghiên cứu khác như: Đảng ủy khối cơ
quan Trung ương về công tác tư tưởng (2005), Bồi dưỡng lý tưởng cách
mạng cho thanh niên trong giai đoạn hiện nay (Kỷ yếu hội thảo), Nxb Chính
trị quốc gia, Hà Nội; “Một vài hiện tượng tiêu cực trong thanh niên hiện nay

và môi trường, Cơ quan Thông tin của UNEP Công ước khung của Liên hợp
quốc về biến đổi khí hậu (IUC) cung cấp, đã thể hiện một sự quyết tâm cao,
một ý chí thống nhất của thế giới đối với nhiệm vụ bảo vệ MT, nhằm ngăn
chặn tình trạng nóng lên toàn cầu [114], [115].
Nhiều công trình nghiên cứu đầu thế kỷ XXI đã chỉ rõ bức tranh hiện
tại và tương lai của nhân loại gắn với các kịch bản về nước biển dâng,
BĐKH: Công trình nghiên cứu cơ bản của Cơ quan phát triển Pháp (AFDAgence France Development) “AFD và BĐKH, dung hòa giữa phát triển và
khí hậu” (2009) phân tích khí hậu là tài sản chung của thế giới và các công
cụ tài chính cần thiết trong cuộc chiến chống BĐKH.
Ngoài ra, còn nhiều nghiên cứu của các tác giả Mỹ, Châu Âu, Châu Á
bàn về vấn đề này: “Solutions for climate change challenges in the built
environment”/ Ed: Colin A.Booth, Felix N.Hammond, Jessica E.Lamond,
David G.Proverbs. – Chichester: Wiley-Blackwell, 2012 [132]; “Museum &
cultural heritage facing climate change:International conference”, 2013, H:
Social science publish; “Ancounting for health impacts of climate change” –
Mandaluyong City: Asia Development Bank. Các tác giả đã phân tích ảnh
hưởng nhiều mặt của tình trạng BĐKH toàn cầu đến sức khỏe con người, di
sản văn hóa, đồng thời nêu lên giải pháp đối mặt với những thách thức mới
của nhân loại.
1.2.1.2.

Một số nghiên cứu trong nước về môi trường và bảo vệ môi trường
Con người, xã hội và tự nhiên luôn có mối quan hệ thống nhất biện
chứng với nhau và chịu sự chi phối của những quy luật phổ biến nhất định
của thế giới vật chất. Nghiên cứu của các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác-Lênin
đã có những tư tưởng vượt trước thời đại, đặt nền móng – cơ sở khoa học
cho việc nghiên cứu và giải quyết vấn đề MT: C.Mác, Ph.Ăngghen, Toàn tập
(1995) [19], [17], [18]. Trên cơ sở nhận thức luận duy vật khoa học, tác giả
Đỗ Thị Ngọc Lan trong cuốn “Môi trường tự nhiên trong hoạt động sống
của con người” (2013) [72] và tác giả Lê Thanh Vân trong cuốn “Con người

MT; đồng thời nêu định hướng chiến lược quản lý tài nguyên và chủ động
ứng phó với BĐKH.


1.2.2.1.

Luận án tiến sĩ triết học của tác giả Bùi Văn Dũng (1999), Mối quan
hệ giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường cho sự phát triển lâu bền
[43]. Nghiên cứu luận giải mối quan hệ có nhiều mâu thuẫn giữa tăng trưởng
kinh tế với bảo vệ MT dưới góc độ triết học, từ đó nêu lên các điều kiện và
giải pháp để giải quyết các mâu thuẫn, nhằm thực hiện sự phát triển lâu bền
trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam.
Ngoài ra còn có các cuốn sách bàn về vấn đề này của tác giả Nguyễn
Thị Thơm, An Như Hải (2011), “Nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước về môi
trường” [100]; Phạm Anh (2012), “Những vấn đề bảo vệ môi trường mà
người dân cần biết” [3]; Phạm Thị Ngọc Trầm (2002), Bảo vệ MT – Nhiệm
vụ chung của toàn nhân loại” [104]; Nguyễn Minh Quang (2013), Chủ động
ứng phó với BĐKH, đẩy mạnh công tác bảo vệ tài nguyên, MT [93]. Các
công trình phân tích việc bảo vệ MT dưới nhiều góc độ: quản lý nhà nước,
hoàn thiện hệ thống pháp luật, đề cao vai trò của đạo đức MT, nghiên cứu
các biện pháp thích ứng và giảm nhẹ rủi ro, thiên tai.
1.2.2.

Những nghiên cứu về ý thức bảo vệ môi trường
Một số nghiên cứu của nước ngoài về ý thức bảo vệ môi trường
Thông qua các nghiên cứu đầu tiên ở nước ngoài về đạo đức MT, chúng
ta hiểu được những nội dung cơ bản về YTBVMT. Từ những năm 60 của thế
kỷ XX, khi nhân loại bắt đầu có nhận thức về một hiểm họa MT đang rình
rập, việc nghiên cứu được khởi xướng bằng một số ấn phẩm gây ảnh hưởng
lớn thời kỳ đó của tác giả Rachel Carson (1962), Steward Udall (1963), Lynn

đối với người nghèo”, phân tích ảnh hưởng của BĐKH đối với bộ phận xã
hội dễ tổn thương là người nghèo và đưa ra một số giải pháp, trong đó có
giải pháp tăng cường GDYTBVMT.
Ngoài ra, nghiên cứu về YTBVMT còn thể hiện ở một số công trình
của các học giả, tổ chức, cơ quan Nhà nước ở một số quốc gia Châu Á như:
“Come to our future: Climate change”/ Yi-Hsuan Hsu, Yu-Hsiang Huang,
Jun-Tsong Lin, Chief ed.: Chen-Yu Wei, tranlator: James Thomas Brett, 2012
[138] nêu lên nội dung khái quát các hoạt động của cơ quan quản lý Nhà
nước về MT, về chính sách năng lượng. Những vấn đề nghiên cứu được đề
cập chủ yếu ở tầm vĩ mô giúp việc hoạch định chính sách bảo vệ MT của


Chính phủ Trung Quốc trong nền kinh tế thị trường: “Green action in
China” / Wang Yongchen, 2006 [137].
Tóm lại, các nghiên cứu trên thế giới những thập kỷ giữa thế kỷ XX trở
lại đây đều thể hiện sự quan tâm lớn của các nhà khoa học về MT, BĐKH và
tầm quan trọng của việc nâng cao YTBVMT. Những đánh giá về YTBVMT
chủ yếu được phản ánh thông qua qua phân tích về thực trạng MT và biểu
hiện của đạo đức MT.
Một số nghiên cứu ở trong nước về ý thức bảo vệ môi trường

1.2.2.2.
a)

Ý thức bảo vệ môi trường được tiếp cận qua nghiên cứu về đạo đức môi
trường
Những thập niên cuối thế kỷ XX, khi các nghiên cứu về vấn đề đạo đức
MT trên thế giới đã khá phát triển thì thuật ngữ đạo đức MT ở Việt Nam vẫn
chưa xuất hiện chính thức trên các phương tiện thông tin đại chúng. Tuy
nhiên, bước sang thế kỷ thứ XXI, trước thực tiễn ô nhiễm MT ngày càng

con người với lợi ích của thiên nhiên; chia sẻ trách nhiệm để duy trì sự toàn
vẹn của MT toàn cầu). Tác giả đã tiến hành điều tra khảo sát về YTBVMT
của nhiều bộ phận tầng lớp nhân dân qua hai khía cạnh: nhận thức (hiểu biết)
và hành vi đạo đức MT; khẳng định: nhận thức của nhân dân về đạo đức MT
nước ta còn chưa đầy đủ, chưa sâu sắc.
Công trình nghiên cứu thứ ba là “Đạo đức sinh thái và giáo dục đạo
đức sinh thái” của tác giả Vũ Trọng Dung năm 2009 [41]. Nghiên cứu về
đạo đức sinh thái cũng chính là nghiên cứu đạo đức MT. Tác giả đã so sánh
điểm thống nhất và khác biệt giữa đạo đức sinh thái với đạo đức xã hội. Tác
giả chỉ ra các thành tố của đạo đức sinh thái, trong đó, ý thức sinh thái là một
yếu tố quan trọng. Nghiên cứu này phân tích nội hàm khái niệm ý thức sinh
thái, tuy nhiên chưa phân biệt nó với khái niệm YTBVMT.
Thứ tư là cuốn “Đạo đức MT” của tác giả Nguyễn Đức Khiển xuất bản
năm 2011[63], chủ yếu cung cấp kiến thức chung về MT sinh thái: BĐKH,
sự suy giảm tầng ô-zôn, tài nguyên thiên nhiên và đa dạng sinh học; vấn đề
dân số với MT, bền vững,…đồng thời, tác giả thể hiện sự quan tâm đến đạo
đức MT. Đạo đức MT không những thể hiện trong các luật lệ quốc gia mà cả



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status