BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
PHÍ THỊ THU TRANG
RÈN KĨ NĂNG ĐỌC HIỂU VĂN BẢN THƠ
CHO HỌC SINH TIỂU HỌC QUA PHÂN
MÔN TẬP ĐỌC LỚP 4, 5
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
HÀ NỘI, 2018
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
PHÍ THỊ THU TRANG
RÈN KĨ NĂNG ĐỌC HIỂU VĂN BẢN THƠ
CHO HỌC SINH TIỂU HỌC QUA PHÂN
MÔN TẬP ĐỌC LỚP 4, 5
Chuyên ngành: Giáo dục học (tiểu học)
Mã số: 8 14 01 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. Khuất Thị Lan
HÀ NỘI, 2018
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU .............................................................................................. 1
1. Lí do chọn đề tài .......................................................................................... 1
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu............................................................. 2
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu.............................................................. 3
4. Phƣơng pháp và thủ pháp nghiên cứu ...................................................... 3
5. Giả thiết khoa học ....................................................................................... 4
6. Cấu trúc của luận văn................................................................................. 4
CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA VIỆC
RÈN KĨ NĂNG ĐỌC HIỂU VĂN BẢN THƠ CHO HỌC SINH LỚP
4, 5 THÔNG QUA PHÂN MÔN TẬP ĐỌC ................................................. 5
1.1. Cơ sở lí luận .............................................................................................. 5
1.1.1. Những nghiên cứu về đọc hiểu và dạy đọc hiểu văn bản thơ.......... 5
1.1.2. Thơ và đặc điểm văn bản thơ............................................................. 8
1.1.3. Đặc điểm tâm lí, trí tuệ, năng lực đọc hiểu của học sinh lớp 4, 5 . 13
1.2. Cơ sở thực tiễn........................................................................................ 18
1.2.1. Vị trí, nhiệm vụ và vai trò của văn bản thơ trong phân môn Tập
đọc ở Tiểu học ............................................................................................ 18
1.2.2. Giới thiệu chương trình tập đọc lớp 4, 5......................................... 19
1.2.3. Việc dạy đọc hiểu văn bản thơ trong chương trình Tập đọc lớp 4, 5 ..
22
1.2.4. Hiệu quả của việc rèn kĩ năng đọc hiểu ......................................... 30
1.2.5. Khảo sát thực tiễn dạy học đọc hiểu cho học sinh lớp 4, 5 tại
một số trường Tiểu học .............................................................................. 33
Tiểu kết chƣơng 1 .......................................................................................... 42
CHƢƠNG 2. KĨ THUẬT ĐỌC HIỂU VĂN BẢN THƠ VÀ ĐỀ XUẤT
QUY TRÌNH ĐỌC HIỂU VĂN BẢN THƠ CHO HỌC SINH LỚP 4,
5 QUA PHÂN MÔN TẬP ĐỌC ................................................................... 43
2.1. Vận dụng một số kĩ thuật rèn kĩ năng đọc hiểu văn bản thơ cho
3.4. Tiến trình thực nghiệm .......................................................................... 89
3.4.1. Chuẩn bị thực nghiệm ..................................................................... 89
3.4.2. Tiến hành dạy thực nghiệm và dạy đối chứng ............................... 89
3.4.3. Đánh giá kết quả thực nghiệm ........................................................ 89
3.5. Giáo án thực nghiệm .............................................................................. 89
3.6. Kết quả thực nghiệm............................................................................ 111
3.6.1. Kết quả trước thực nghiệm ............................................................ 111
3.6.2. Kết quả sau thực nghiệm ............................................................... 111
3.7. Nhận xét kết quả thực nghiệm ............................................................ 112
Tiểu kết chƣơng 3 ........................................................................................ 113
KẾT LUẬN .................................................................................................. 114
TÀI LIỆU THAM KHẢO .......................................................................... 116
PHỤ LỤC ...........................................................................................................
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
Đ
c
T
n
Sách
gi
Sách
gi
DANH MỤC BẢNG
năng lực giao tiếp.
1.3. Rèn kĩ năng đọc hiểu văn bản thơ cho học sinh Tiểu học được thực
hiện chủ yếu qua phân môn Tập đọc. Tuy vậy, vì những lí do khách quan và
chủ quan, dạy đọc hiểu ở trường Tiểu học còn bộc lộ nhiều hạn chế, chưa phát
huy được hết năng lực của học sinh. Thực tế, học sinh chưa hứng thú với giờ
Tập đọc, chưa thể tìm ra nội dung bài một cách dễ dàng, học sinh còn lúng
túng khi đọc hiểu văn bản trong và ngoài chương trình, đặc biệt là các tác
phẩm thơ. Nên dù sử dụng phương pháp nào, thì vai trò tổ chức, hướng dẫn
của giáo viên trong việc rèn kĩ năng đọc hiểu là rất quan trọng. Giáo viên có
vai trò dẫn dắt các em tiếp cận nội dung văn bản qua hệ thống câu hỏi, sự liên
kết giữa các đoạn trong bài. Từ đó, các em có thể đọc hiểu một bài thơ dễ
dàng hơn.
1.4. Có thể nói rèn kĩ năng đọc hiểu văn bản thơ là một việc làm quan
trọng và cần thiết đối với học sinh bậc Tiểu học nói chung và đặc biệt cần
thiết hơn đối với học sinh lớp 4, 5 - những lớp học cuối cấp Tiểu học nói
riêng. Bởi lẽ, đọc hiểu là tiền đề giúp các em có thể phân tích, chứng minh,
lập luận, giải thích,...để có thể hiểu một bài thơ ở chính cấp học này và các
cấp học cao hơn. Với mong muốn rèn kĩ năng đọc hiểu văn bản thơ, từ đó góp
phần nâng cao chất lượng dạy học đọc hiểu văn bản thơ trong phân môn Tập
đọc đồng thời bồi đắp cho các em tình yêu, lòng say mê, sự hứng thú đối với
phân môn này, chúng tôi đã lựa chọn đề tài nghiên cứu: "Rèn kĩ năng đọc
hiểu văn bản thơ cho học sinh Tiểu học qua phân môn Tập đọc lớp 4, 5".
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1. Mục đích
Tìm hiểu thực trạng và đưa ra cách thức để rèn kĩ năng đọc hiểu văn bản
thơ cho học sinh lớp 4, 5 qua phân môn Tập đọc.
2.2. Nhiệm vụ
- Xác định cơ sở lí luận và thực tiễn của việc rèn kĩ năng đọc hiểu văn
nhằm liệt kê một cách có hệ thống các văn bản thơ trong chương trình Tập
đọc lớp 4, 5. Đây là những ngữ liệu thiết thực đối với việc nghiên cứu đề tài.
- Phương pháp phân tích, tổng hợp: Phương pháp này được sử dụng để
phân tích tài liệu và tổng hợp các luận điểm cho đề tài.
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Phương pháp này được dùng khi
đã có kết quả điều tra, quan sát, nghiên cứu, nhằm khẳng định lại chắc chắn
các kết luận đã được rút ra.
4.2. Thủ pháp nghiên cứu
- Thủ pháp so sánh, đối chiếu
5. Giả thuyết khoa học
Nếu rèn một cách hợp lí kĩ năng đọc hiểu văn bản thơ trong dạy tập đọc
cho học sinh lớp 4, 5 thì sẽ phát huy được sự tích cực, chủ động phát hiện,
tiếp thu, ghi nhớ kiến thức của học sinh, qua đó góp phần nâng cao chất lượng
dạy - học phân môn này.
6. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, nội dung luận văn gồm 3 chương
Chương 1: Cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn của việc rèn kĩ năng đọc hiểu
văn bản thơ cho học sinh lớp 4, 5 thông qua phân môn Tập đọc
Chương 2: Kĩ thuật đọc hiểu văn bản thơ và đề xuất quy trình đọc hiểu
văn bản thơ cho học sinh lớp 4, 5 qua phân môn Tập đọc
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm.
Chƣơng 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA VIỆC RÈN KĨ NĂNG
ĐỌC HIỂU VĂN BẢN THƠ CHO HỌC SINH LỚP 4, 5
THÔNG QUA PHÂN MÔN TẬP ĐỌC
1.1. Cơ sở lí luận
Trong cuốn “Đọc hiểu và chiến thuật đọc hiểu văn bản trong nhà trường
phổ thông” [14] tác giả Phạm Thị Thu Hương đã đưa ra một số chiến thuật
khá mới mẻ như: đánh dấu và ghi chú bên lề, câu hỏi kết nối tổng hợp, mối
quan hệ hỏi đáp, đọc suy luận, cuốn phim trí óc,... hỗ trợ tích cực cho quá
trình đọc hiểu văn bản.
Tác giả Nguyễn Thị Hạnh đã đề cập đến việc tổ chức dạy đọc hiểu và
xây dựng hệ thống bài tập đọc hiểu ở lớp 4 và lớp 5 trong luận án “Rèn luyện
kĩ năng đọc hiểu cho học sinh lớp 4 và lớp 5” [10] Tác giả còn tiếp tục trình
bày khá thuyết phục về cơ sở thực tiễn cũng như khoa học cơ sở của việc dạy
học đọc hiểu ở Tiểu học trong chuyên luận Dạy học đọc hiểu ở Tiểu học [9].
Tác giả Nguyễn Trí khẳng định trong cuốn “Một số vấn đề về dạy học
Tiếng Việt theo quan điểm giao tiếp ở Tiểu học” [24] đọc là kĩ năng học sinh
sử dụng nhiều nhất, trong đó đọc thầm được sử dụng nhiều hơn cả mà nhắc
tới đọc thầm tức là nói đến đọc hiểu bởi đọc hiểu là đích của hoạt động đọc.
Tác giả cũng nhận xét nếu quan niệm đọc tức là hiểu thì kinh nghiệm rèn kĩ
năng thông hiểu bài đọc còn rất yếu.
Những vấn đề quan trọng của việc đọc hiểu văn bản văn học trong nhà
trường phổ thông đã được tác giả Nguyễn Thanh Hùng trình bày tương đối
đầy đủ và hệ thống: “Đọc hiểu là một phạm trù khoa học trong nghiên cứu và
giảng dạy văn học. Bản thân nó là khái niệm có quan hệ với năng lực đọc,
hành động đọc, kĩ năng đọc để nắm vững ý nghĩa của văn bản nghệ thuật
ngôn từ...” [12, tr.34]
Ở Việt Nam, một nhóm chuyên gia đã Việt hóa EGRA quốc tế và xây
dựng bộ công cụ đánh giá kĩ năng đọc trên một quy mô khá lớn từ năm 2013,
với các mục tiêu: Học để biết đọc và đọc để phục vụ việc học. Theo đó, học
sinh lớp 4, 5 cấp Tiểu học bắt đầu bước vào thời kì đọc để phục vụ việc học.
Với việc đi sâu tìm hiểu những biện pháp tối ưu để dạy học đọc hiểu ở
một môn học, một lớp học cụ thể, công trình này đã giúp giáo viên và học
Lê Quý Đôn từng khẳng định: “Thơ phát khởi từ lòng người ta”. Còn
nhà thơ Tố Hữu lại cho rằng: “Thơ chỉ tràn ra khi trong tim ta cuộc sống đã
thật đầy”. Đặt trong tương quan so sánh với văn xuôi, tác giả Hữu Đạt lại cho
rằng: "Khác với văn xuôi, thơ ca chỉ dùng một lượng hữu hạn các đơn vị
ngôn ngữ để biểu hiện cái vô hạn của cuộc sống bao gồm các sự kiện tự nhiên
và xã hội cũng như những điều thầm kín trong tâm linh con người" ...
Có thể nói, thơ là tiếng nói của tâm tư, là những rung động của trái
tim trước cuộc đời. Nhưng tình cảm trong thơ không tự nhiên mà có. Nhiều
khi, cảm xúc vượt ra ngoài cái vỏ chật hẹp của ngôn từ, cho nên thơ thường
lời ít, ý nhiều. Vì thế, thơ tạo điều kiện cho người đọc được “đồng sáng
tạo” để phát hiện đời sống, khiến người đọc phải suy nghĩ, trăn trở để phát
hiện, tìm kiếm ý đồ nghệ thuật của tác giả cũng như những đặc sắc trong tư
duy nghệ thuật của mỗi nhà thơ.
Thơ không chỉ là cảm xúc mà là cả lí trí. Đó là chiều sâu của nhận thức.
Bài thơ sẽ thiếu chất trí tuệ, nếu thơ chỉ thiên về cảm xúc mà thiếu đi sự suy
tưởng triết lí mang tính khái quát về cuộc sống. Vì thế mà thơ cũng có thế
giới ngôn ngữ riêng. Ngôn ngữ thơ có 3 đặc trưng cơ bản là tính chính xác,
tính hình tượng và tính biểu cảm. Thơ còn có màu sắc, đường nét của hội hoạ,
thanh âm của âm nhạc và hình khối của chạm khắc (điêu khắc). Nhà thơ là
người có phong cách nghệ thuật độc đáo. Mỗi nhà thơ sẽ có cách tiếp cận, áp
dụng riêng vốn ngôn ngữ toàn dân, ngôn ngữ bác học, ngôn ngữ nghệ thuật để
đưa vào bài thơ, giúp phát huy sự phong phú của tiếng Việt, góp phần làm cho
tiếng Việt ngày càng giàu có, trong sáng.
Thứ ba, văn bản thơ có tính thẩm mĩ
Tính thẩm mĩ của văn bản nghệ thuật chính là khả năng biểu hiện cái
đẹp và khơi gợi những cảm xúc về cái đẹp nơi người đọc, người nghe.
Văn chương là nghệ thuật ngôn từ, là sự thể hiện giá trị thẩm mĩ của
ngôn từ. Trong văn bản nghệ thuật, ngôn ngữ với tư cách là chất liệu xây
ngoài sắc, vị ngọt ở ngoài vị, không thể trông bằng mắt thường, nếm bằng
miệng thường, chỉ có thi nhân thì trông mới thấy đẹp, nếm mới thấy ngon".
Thơ là vậy đó, các nhà thơ "tạo dựng nên thế giới" qua những khám phá mới
của họ. Cuộc sống thường ngày vẫn diễn ra với những gì vốn có của nó. Tuy
nhiên, chỉ đến với thơ ca, con người mới khám phá được những cái đẹp thuần
túy mà trước đó không phải ai cũng phát hiện ra.
Thơ trân trọng cái đẹp của cuộc đời mà con người đấu tranh, bảo vệ mới
có được. Thơ giúp tâm hồn người dân lao động trở nên phong phú. Cuộc sống
hàng ngày của họ không tẻ nhạt mà có những ý niệm về tình yêu đôi lứa. Thế
giới trong thơ ca hiện đại tươi đẹp hơn biết bao, nó hướng con người ta tới cái
chân - thiện - mĩ. Khi đọc những vần thơ, tâm hồn ta như rộng mở trước thế
giới vừa thực, vừa mộng. Cái thế giới ấy mới thực sự là điều để ta vươn tới.
1.1.3. Đặc điểm tâm lí, trí tuệ, năng lực đọc hiểu của học sinh lớp 4, 5
1.1.3.1. Đặc điểm tâm lí của học sinh lớp 4, 5
Khi trẻ đủ 6 tuổi, sẽ chuyển từ cấp học Mầm non sang Tiểu học. Đó là
một bước ngoặt có ý nghĩa quan trọng trong cuộc đời các em. Từ 6 - 11 tuổi là
lứa tuổi của học sinh Tiểu học. Các em trở thành học sinh, đến trường với
nhiều điều mới lạ, với những mối quan hệ mới và phức tạp hơn. Học sinh
Tiểu học là thực thể đang hình thành và phát triển cả về mặt sinh lý, tâm lý,
xã hội. Các em hồn nhiên, ham hiểu biết, có lòng vị tha, dễ thích nghi và tiếp
nhận cái mới. Tuy vậy, ở lứa tuổi này, trẻ còn thiếu sự tập trung, chú ý cao độ.
Trẻ chưa có chủ định và khả năng ghi nhớ chưa được phát triển mạnh, tính
hiếu động và dễ xúc động còn bộc lộ rõ. Trẻ nhanh nhớ và nhanh quên.
Đa số học sinh Tiểu học đều chuẩn bị sẵn sàng tâm lí khi đi học. Chúng
muốn đến trường để xem ở trường có gì khác với ở nhà. Tuy vậy, sự hứng thú
của trẻ chỉ là hứng thú với đặc điểm bên ngoài của quá trình học tập nên hứng
thú đó dễ mất đi. Bởi vậy, cần làm sao cho trẻ hứng thú với chính quá trình
học tập, hứng thú với sự hấp dẫn, mới lạ của nội dung tri thức.
ngoài của trẻ mới đến trường, học sinh lớp 4, 5 đã có tư duy mang những nét
khái quát nhờ hoạt động học tập. Tuy nhiên, hoạt động phân tích, tổng hợp
của trẻ còn sơ đẳng. Trẻ còn gặp khó khăn trong việc thiết lập các mối quan
hệ nhân - quả. Vì vậy, việc học tiếng Việt và học toán sẽ giúp các em biết
phân tích tổng hợp.
Vì tưởng tượng của các em còn tản mạn, rời rạc, ít có tổ chức, hình ảnh
tưởng tượng thì đơn giản, dễ thay đổi. Ngoài ra “nói dối” là một hiện tượng
gắn liền với sự tưởng tượng của trẻ. Do đó, tưởng tượng tái tạo từng bước
hoàn thiện.
Chú ý có chủ định còn yếu và thiếu bền vững, chú ý không chủ định
vẫn phát triển. Sự phát triển chú ý gắn liền với sự phát triển của hoạt động
học tập. Trí nhớ từ ngữ logic không phát triển bằng trí nhớ trực quan hình
tượng. Học sinh lớp 4, 5 còn nhiều em chưa biết tổ chức việc ghi nhớ có ý
nghĩa mà có khuynh hướng phát triển trí nhớ máy móc. Khi giảng dạy, giáo
viên hướng học sinh ghi nhớ gắn với mục đích, như vậy sẽ giúp các em nhớ
nhanh hơn, chính xác hơn và lâu hơn.
1.1.3.3. Năng lực đọc hiểu văn bản thơ của học sinh lớp 4, 5
Đọc hiểu văn bản thơ là một trong những năng lực đặc thù cần hướng tới
trong mục tiêu dạy học phân môn Tập đọc, đáp ứng yêu cầu dạy học theo
định hướng phát triển năng lực của học sinh. Từ những năm đầu của bậc Tiểu
học, học sinh đã biết và làm quen với việc đọc hiểu. Tuy nhiên, khi lên lớp 4,
5, các em mới dần bộc lộ rõ năng lực đọc hiểu văn bản của mình, bởi năng lực
không chỉ là biết và hiểu mà còn là khả năng thực hiện, là phải biết làm. Năng
lực đọc hiểu bao gồm 4 thành tố là: Xác định các thông tin từ văn bản; Phân
tích, kết nối các thông tin; Phản hồi và đánh giá văn bản; Vận dụng thông tin
từ văn bản vào thực tiễn.
Nói tới năng lực đọc hiểu văn bản thơ của học sinh lớp 4, 5, đa phần học
sinh nắm rõ tên bài thơ, tên tác giả, thời gian và hoàn cảnh sáng tác, đó là cơ