SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ
TRƯỜNG THPT HOẰNG HOÁ 4
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
RÈN LUYỆN KỸ NĂNG ĐỌC VĂN BẢN THƠ CHO HỌC SINH
GÓP PHẦN NÂNG CAO HIỆU QUẢ TRONG GIỜ DẠY-HỌC VĂN
Người thực hiện : Lương Thị Bình
Chức vụ:
Giáo viên
SKKN thuộc môn: Ngữ văn
THANH HOÁ NĂM 2013
Phần I:
ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong nhà trường Trung học phổ thông, môn Ngữ văn cùng với các bộ
môn khác có nhiệm vụ cung cấp cho học sinh những hiểu biết, những kỹ năng
nhất định. Việc tiếp nhận văn chương của học sinh trong nhà trường không hoàn
toàn giống với việc tiếp nhận một tác phẩm văn chương đối với bạn đọc ngoài xã
hôi.Bởi việc tiếp nhận một tác phẩm văn chương trong nhà trường mang tính tập
thể ( khác tính tự do, cá nhân của việc tiếp nhận một tác phẩm văn chương
ngoài xã hội) và có sự hướng dẫn trực tiếp của giáo viên. Chính vì vậy, lao động
của người giáo viên dạy Văn vừa mang tính nghệ thuật, vừa mang tính sư phạm.
Đối với người giáo viên dạy Văn, việc dạy một tác phẩm văn chương
"tiếng lòng" ấy thì việc đọc thơ là rất quan trọng.
Thông thường quá trình đến với ý nghĩa của câu thơ người đọc phải đọc đi
đọc lại, đọc to, đọc thầm, có khi đọc ngân nga để lắng nghe thử xem nó gợi ra
cho mình cái gì là chính. Ngôn ngữ chỉ là ký hiệu chết cứng, phải thổi sự sống
cho nó bằng giọng đọc. Chính giọng đọc có khả năng gợi ra những cảm xúc mà
bình thường nhìn bằng mắt, ngay cả khi nghe bằng tâm tưởng có khi vẫn không
hiểu được, không cảm nổi.
Âm lượng giọng đọc ở mỗi thể loại thơ trữ tình, thậm chí ở mỗi bài thơ,
mỗi câu thơ là không giống nhau. Một phần tạo nên âm lượng đọc là ở cách ngắt
nhịp câu thơ.
II. Thực trạng đọc thơ trữ tình của học sinh Trung học phổ thông.
Thực tế giảng dạy tôi thấy rằng: Có rất nhiều học sinh chưa chú trọng
nhiều đến việc đọc tác phẩm thơ trữ tình. Đa số các em đọc các văn bản với
giọng đều đều giống nhau. Như thế sẽ không nắm bắt được tinh thần, giọng điệu
văn bản, cảm xúc của thi nhân. Để có giọng lên bổng, xuống trầm phù hợp cần
thiết phải đọc đúng nhịp điệu của câu thơ.
Điều đáng nói là khi ngắt nhịp không đúng sẽ dẫn đến cách hiểu ý thơ
nông cạn, hời hợt, thậm chí hiểu sai ý đồ nghệ thuật của tác giả.
3
III. Giải pháp
1. Thể thơ lục bát:
Thơ lục bát thường được ngắt nhịp chẵn: 2/2/2; 2/4/2; hoặc 4/4... Điều cơ
bản mà nhịp thơ lục bát gợi ra là sự thiết tha ngọt ngào. Chẳng hạn khi dạy bài
"Ca dao yêu thương, tình nghĩa" cần phải đọc đúng nhịp để gợi ra được sự thiết
tha trong tình cảm của những chàng trai, cô gái:
Ước gì / sông rộng một gang
Sự ngắt nhịp ở đây cũng không còn đều đặn 2/2/2 như đặc trưng thể loại
nữa. Các ngắt nhịp "cậy em" và "mặc em" đối lập 2/6 và 6/2 mà trọng tâm dồn
vào để làm cho nhịp thơ trĩu xuống. Giáo viên cần lưu ý cho học sinh nhấn
mạnh và ngừng lâu ở các nhịp này để tạo ra một không khí trang trọng và thiết bị
thuận lợi cho việc khai thác từ ngữ sau đó. Riêng dòng thơ sau phải hướng dẫn
học sinh đọc cho đúng nhịp ngắt:
Ngồi lên cho chị lạy / rồi sẽ thưa.
Nhịp ngắt gây cảm giác không suôn sẻ nếu không muốn nói là hơi gượng
gạo. Giá trị độc đáo của câu thơ chính lại ở chỗ đó. Song đây cũng là lý do giải
thích tại sao hầu như không có học sinh nào đọc đúng nhịp ngắt này. Chính cái
không bình thường ấy đã nói được phần nào cái quằn quại, đau đớn trong tình
cảnh hết sức trớ trêu: yêu tha thiết mà vẫn buộc lòng phải khước từ tình yêu.
Nhịp điệu không phải là tình cảm nhưng ngắt nhịp đúng chính là "đọc" được tình
cảm, tâm trạng của con người trong câu thơ, bài thơ.
Bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu được làm theo thể lục bát. Tinh thần chính
của toàn bài là ngắt nhịp chẵn. Tình nghĩa thuỷ chung gắn bó giữa người cán bộ
miền xuôi với đồng bào Việt Bắc một phần được gợi ra bởi giai điệu da diết của
bài thơ. Đây là một bài thơ khá dài, vì vậy cách tốt nhất là cho học sinh đọc và
phân tích từng đoạn. Ở đoạn thơ diễn tả khung cảnh chia tay giữa Trung ương
Đảng, Chính phủ với đồng bào Việt Bắc , câu cuối nhịp có khác:
Mình về / mình có nhớ ta /
Mười lăm năm ấy / thiết tha mặn nồng /
Mình về / mình có nhớ không /
Nhìn cây nhớ núi, / nhìn sông nhớ nguồn? /
Tiếng ai / tha thiết bên cồn /
Bâng khuâng trong dạ, / bồn chồn bước đi /
Áo chàm / đưa buổi phân li /
Cầm tay nhau / biết nói gì / hôm nay...
(Hồ Xuân Hương)
6
Xuân Hương được xem như là một "hiện tượng" trong làng thơ Trung đại
Việt Nam. Đây là một hồn thơ luôn phá cách: phá cách trong ý tưởng và phá
cách trong lối thể hiện. Cá tính mà người phụ nữ muốn khẳng định một phần
được thể hiện ở nhịp thơ ngắn, mạnh và quả quyết: "Này". Nếu đọc ngắt nhịp 4/3
sẽ không thấy được điều ấy. Mặt khác chính xu thế cắt dòng như được "duỗi" ra
ấy là để dung hoà giữa cái nhỏ mọn và thách thức, bình dị mà lớn lao trong tính
cách Xuân Hương.
Tương tự ở bài "Tự tình" (bài II) của nữ sĩ Xuân Hương cũng cần lưu ý
cách ngắt nhịp ở câu thơ thứ 2, thứ 3, thứ 4:
Tự tình
(Bài II)
Đêm khuya văng vẳng / trống canh dồn /
Trơ / cái hồng nhan / với nước non //
Chén rượu hương đưa / say / lại tỉnh /
Vầng trăng bóng xế / khuyết chưa tròn //
Xiên ngang mặt đất, / rêu từng đám /
Đâm toạc chân mây / đá mấy hòn //
Ngán nỗi xuân đi / xuân lại lại, /
Mảnh tình san sẻ / tí con con !
(Xuân Hương)
Tâm trạng Xuân Hương được đặt trong cảnh ngộ hết sức éo le: một mình
trơ trọi, phòng không gối chiếc trong đêm khuya thanh vắng. Ở câu thơ thứ 2,
nhà thơ có dụng ý đảo từ "trơ" lên đầu câu để hiện rõ cái cô đơn, trơ trọi đó. Bởi
thế theo tôi cần phải ngắt nhịp sau từ" trơ" để thấy được cái uất ức trong lòng thi
nhân. Ở câu 3 cần ngắt nhịp sau từ "say" để được sống với nhân vật trữ tình. Nữ
thi sĩ muốn nhờ rượu để say, để quên đi tất cả. Nhưng rút cuộc vẫn không. "Say"
Vườn ai mướt quá / xanh như ngọc /
Lá trúc che ngang mặt chữ điền /
8
Gió theo lối gió, / mây đường mây /
Dòng nước buồn thiu / hoa bắp lay /
Thuyền ai đậu bến sông trăng đó /
Có chở trăng về kịp tối nay ?/
Mơ khách đường xa / khách đường xa /
Áo em trắng quá / nhìn không ra /
Ở đây sương khói mờ nhân ảnh /
Ai biết tình ai / có đậm đà ?
Cõi thực và cõi mộng cứ đan cài vào nhau. Cái thực tại và ảo giác chập
chờn khiến thi nhân đau đớn. Khát vọng sống, khát vọng về một tình yêu trong
trắng, tinh khôi mong manh, chấp chới khi cái chết đã liền kề. Mặc cảm chia lìa
để lại dấu ấn qua cách ngắt nhịp như bẻ gãy cả câu thơ: Gió theo lối gió / mây
đường mây; Mơ khách đường xa, / khách đường xa.
"Đây thôn Vĩ Dạ" của Hàn Mặc Tử là bài thơ chất đầy tâm trạng. Có nhiều
học sinh đọc bài thơ với giọng đều đều, chỉ ngắt nhịp ở cuối mỗi câu thơ. Như
thế sẽ không thấy được cảm xúc đứt nối nhưng liền mạch trong tâm trạng thi
nhân. Phải đọc đúng tiết tấu thơ để sống với nhân vật trữ tình trong bài thơ.
Thậm chí với bài thơ này có thể cho học sinh ngâm để cảm nhận sâu sắc hơn nội
tâm nhân vật trữ tình.
Cũng như "Đây thôn Vĩ Dạ" của Hàn Mặc Tử, "Tiếng hát con tàu" của
Chế Lan Viên có rất nhiều câu hỏi tu từ được cất lên. Mỗi câu thơ có hình thức
hỏi là điểm nhấn. Giáo viên cần lưu ý học sinh cách đọc để xoáy sâu vào những
trăn trở của người viết. Ngay khổ thơ đề từ đã mang cảm xúc chung của cả bài
thơ. Sau khổ thơ đề từ, mạch thơ cứ thế tuôn chảy.
Xin trích đọc khổ thơ đề từ như sau:
"Em"lúc song hành, lúc hoà nhập vào với nhau .Nhịp thơ càng về cuối càng dồn
dập,thể hiện nỗi khát khao càng lớn.
10
4. Kiểm nghiệm:
Mục đích của thử nghiệm ở đây là khảo sát khả năng biết đọc đúng nhịp
điệu thơ trữ tình trước và sau khi có định hướng của giáo viên. Trong quá trình
giảng dạy, tôi đã lưu tâm đến thao tác đọc của học sinh, từ đó điều chỉnh kịp
thời. Vì điều kiện thời gian nên mỗi lớp tôi chỉ khảo sát giọng đọc của 10 học
sinh.
Đoạn thơ đưa ra thử nghiệm được ngắt nhịp như sau:
Cậy em / em có chịu lời /
Ngồi lên cho chị lạy / rồi sẽ thưa /
Giữa đường đứt gánh tương tư /
Keo loan chắp mối tơ thừa / mặc em.
(Truyện Kiều-Nguyễn Du)
Sau đây là kết quả thử nghiệm:
Kết quả học sinh đọc khi chưa có định hướng đọc của giáo viên:
Lớp
Số HS tham gia
Đọc đúng
Đọc sai
Tỉ lệ đọc đúng
C4
Lớp
Số HS tham gia
Đọc đúng
Đọc sai
Tỉ lệ đọc đúng
C4
10
10
0
100 %
C8
10
10
0
100 %
Trên đây là một vài phương pháp tiếp cận để đọc đúng văn bản thơ trữ
tình của bản thân được đúc rút từ quá trình giảng dạy, tìm tòi và học hỏi. Thực tế
giảng dạy cho thấy: nâng cao khả năng đọc đúng văn bản thơ trữ tình cho học
sinh đã mang lại hiệu quả nhất định. Tuy nhiên vấn đề đưa ra chắc còn nhiều
điều cần bổ sung. Rất mong được sự đóng góp ý kiến của đồng nghiệp để có
được hiệu quả cao nhất trong giảng dạy bộ môn này.
Với nhiều trăn trở của bản thân, tôi có một số đề xuất như sau:
Nên tổ chức nhiều hơn các buổi ngoại khoá để tạo hứng thú cho học sinh
học văn.
Giáo viên giảng dạy trên lớp đánh giá cao sự chuẩn bị đọc tác phẩm ở nhà
của học sinh cũng như nhận xét, định hướng kịp thời cách đọc cho học sinh ở
trên lớp.
12
Thanh Hoá, ngày 20 tháng 5 năm 2013
Xác nhận của thủ trưởng đơn vị
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của
mình viết, không sao chép nội dung
của người khác.
Lương Thị Bình
13