Sáng kiến kinh nghiệm môn Lịch sử (01) - Pdf 54

A. PHẦN MỞ ĐẦU
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
1. Cơ sở lý luận:
a. Chủ trương đổi mới của Đảng và nhà nước ta đối với sự nghiệp Giáo
dụcvà Đào tạo:
Đại hội Đảng lần thứ VI tháng 12 năm 1986 đã mở ra một bước ngoặt cho
nước ta bằng đường lối đổi mới một cách toàn diện. Bắt đầu từ đây, vấn đề
giáo dục, khoa học và công nghệ được đặt đúng vị trí và được quan tâm một
cách thích đáng. Tiếp đó, Đại hội Đảng lần thứ VI, VII, VIII, IX lần lượt củng
cố và hoàn thiện thêm đường lối đổi mới trong đó coi giáo dục là quốc sách
hàng đầu và đề cao “chiến lược con người”. Để thực hiện được chiến lược
này, rõ ràng không thể xem nhẹ việc giáo dục lòng yêu quê hương đất nước,
tinh thần dân tộc và đặc biệt là thái độ của lớp trẻ đối với lịch sử, đối với cội
nguồn, đó chính là những viên đá đặt nền móng cho sự nghiệp hiện đại hoá -
công nghiệp hoá để đưa đất nước thoát ra khỏi nghèo nàn, lạc hậu, trở thành
giàu mạnh và phồn vinh.
b. Chủ trương của đảng và nhà nước trong việc gìn giữ và phát huy vốn
văn hoá truyền thống và bản sắc dân tộc.
Từ đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII, trong nghị quyết của mình, Đảng
ta chỉ ra rằng cần thiết phải xây dựng một nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản
sắc dân tộc theo định hướng XHCN. Tiếp đó, đại hội lần thứ VIII của Đảng
cũng đã nhận định: trong điều kiện nền kinh tế thị trường mở cửa giao lưu,
mở rộng quan hệ quốc tế có rất nhiều sự tác động tiêu cực từ bên ngoài làm
ảnh hưởng xấu đến tư tưởng, đạo đức, lối sống và cách nghĩ của nhiều người,
nhất là giới trẻ. Vì vậy, cần phải có những chính sách, giải pháp kịp thời và
khả thi trong việc giáo dục truyền thống tốt đẹp của cha ông, của đất nước đối
với lớp trẻ. Mỗi công dân trong tương lai phải ý thức được rằng tất cả những
gì chúng ta có được ngày nay đều được đánh đổi bằng xương máu của cha
ông chúng ta, do đó chúng ta không ai được phép quên đi nguồn cội của
mình. Để làm được điều này, nghị quyết của Đảng cũng chỉ ra rằng cần phải
khôi phục, tôn tạo và giữ gìn những di tích Lịch sư - Văn hoá của dân tộc.

gian thể nghiệm và kiểm chứng để có cơ sở thực tiễn tốt hơn cho việc hoàn
thiện thay sách giáo khoa.
2. Cơ sở thực tiễn
a. Thực tiễn dạy và học lịch sử địa phương trong trường học nói chung và
ở cấp THPT nói riêng
Trên thế giới, nhất là ở các nước tiên tiến, công tác nghiên cứu và giảng
dạy lịch sử địa phương rất được chú trọng. Ngành “địa phương học” đã ra đời
và có vị trí, vai trò đáng tin cậy trong việc hoạch định và thực thi những
nhiệm vụ kinh tế-xã hội của từng địa phương trong tổng thể chiến lược quốc
gia. Nghiên cứu, tìm hiểu Lịch sử địa phương không chỉ là công việc của giới
nghiên cứu mà đã được xã hội hoá, thu hút sự quan tâm của nhiều người,
nhiều tầng lớp và nhiều ngành, trong đó ngành công nghiệp du lịch là đáng kể
nhất. Đặc biệt, trong thời kỳ đổi mới và mở rộng giao lưu quốc tế, nhu cầu
nghiên cứu, tìm hiểu lịch sử địa phương lại càng được chú trọng.
Ở nước ta, việc nghiên cứu lịch sử địa phương, với tư cách là một
ngành khoa học được bắt đầu từ sau ngày hoà bình lập lại ở miền Bắc. Từ sau
ngày miền Nam giải phóng, công tác này được tiến hành trên phạm vi cả
nước. Hầu hết các tỉnh đã biên soạn được lịch sử của tỉnh và kể cả của huyện,
xã. Tuy nhiên, việc dạy và học lịch sử địa phương chưa được tiến hành đều
khắp trong phạm vi cả nước mà mới chỉ dừng lại ở một số điển hình như các
trường THPT ở Hà nội, thành phố Hồ Chí Minh, nam Định…Đối với các tỉnh
miền núi thì công tác này hầu như chưa được coi trọng. Hiện trạng trên là do
nhiều nguyên nhân, cả khách quan lẫn chủ quan mà chúng ta đều đã biết như:
địa hình phức tạp, giao thông cách trở,thiếu cán bộ nghiên cứu, thiếu kinh phí
đầu tư thích đáng; chế độ, chính sách đối với những người làm công tác
nghiên cứu chưa hợp lý… Trong điều kiện đó, tôi thiết nghĩ rằng việc nghiên
cứu, giảng dạy lịch sử địa phương là trách nhiệm của đội ngũ giáo viên dạy
bộ môn lịch sử.
b. Thực tiễn hết sức phong phú của nguồn tư liệu kiến thức lịch sử địa
phương:

tường tận về nguồn gốc, nội dung cũng như ý nghĩa của từng sự kiện, hiện
tượng lịch sử đó. Để làm được điều này không phải là ngày một, ngày hai
song chúng ta hoàn toàn tin tưởng rằng, sự đóng góp của chúng ta sẽ là viên
gạch dần dần hoàn thiện bức tường. Tâm lý chung của con người, nhất là
người Á đông chúng ta là hướng về nguồn cội. Ai cũng có một quê hương,
một nơi chôn nhau cắt rốn và ai cũng tự hào về nới ấy.
3. Thứ ba, Thông qua việc giảng dạy Lịch sử địa phương, đề tài sẽ góp phần
giáo dục các em học sinh ở độ tuổi mới lớn lòng tự hào, tình yêu quê hương,
yêu xứ sở của mình. Điều này có ý nghĩa rất quan trọng bởi hai lẽ. Trước hết,
các em học sinh lớp 6 vừa ra khỏi cấp tiểu học bước vào một cấp học mới, lần
đầu tiên tiếp xúc với Lịch sử với tư cách là một môn học chính khoá. Việc đặt
những viên gạch nền móng ban đầu cực kỳ có ý nghĩa đối với các em trên con
đường hình thành cách nhìn, thái độ đúng đắn đối với quê hương, xứ sở của
mình. Mặt khác, chúng ta không thể không nhắc tới một thực tế đau lòng là
trong nhiều năm gần đây, DakLak chúng ta cũng như nhiều tỉnh khác đang có
hiện tượng mà người ta quen gọi là “chảy máu chất xám” về các thành phố
lớn. Các em học sinh học giỏi, thành đạt trên con đường học vấn thì bằng
cách này hay cách khác ở lại công tác, lập nghiệp tại những thành phố, trung
tâm lớn. Gạt sang một bên những nguyên nhân thuộc về chế độ, chính sách thì
thử hỏi chúng ta có trách nhiệm gì không trước thái độ ngoảnh mặt, thờ ơ với
quê hương của các em.
IV. LỊCH SỬ VẤN ĐỀ
Về Lịch sử địa phương cũng như phương pháp sưu tầm, nghiên cứu và
biên soạn Lịch sử địa phương đã có rất nhiều nhà khoa học cũng như nhà sư
phạm đề cập đến. Riêng phần Lịch sử DakLak, đáng kể nhất là các công trình:
+ “Sơ thảo lịch sử đảng bộ tỉnh Daklak” – Ban NCLS đảng DakLak- xuất
bản năm 1981.
+ “Tây nguyên sử lược”- T/s Phan Văn Bé- xuất bản năm 1993
+ “Việc dạy học lịch sử địa phương ở các trườngTHPT tỉnh DakLak”-
Luận án SĐH của Phan Văn Bé.

Dak Lak nằm ở độ cao trung bình 536m nên khí hậu mát mẻ, ôn hoà.
Nhiệt độ trung bình là 20
o
C. Tháng nóng nhất và tháng lạnh nhất chỉ chênh
nhau 2-3
o
C. Rừng chiếm 4/5 diện tích đất đai, có rất nhiều gỗ quý hiếm như
thuỷ tùng, cẩm lai, cà te, hương, sao, trẩu… cùng với nhiều loại thú rừng quý
hiếm như voi, bò tót, hổ, gấu, hươu, nai… Lượng mưa trung bình hàng năm là
2050mm. Trong hơn 40 dân tộc thì người Ê đê, Mơ nông là cư dân bản địa lâu
đời nhất ở Dak Lak.
Dak Lak được xếp là vùng Trung Cao nguyên với bạt ngàn rừng núi
trên nền đất đỏ bazan phì nhiêu, trù phú. Tuy đất đai trù phú, màu mỡ như vậy
nhưng phương pháp canh tác của đồng bào ở đây còn đơn giản, lạc hậu. Đồng
bào sống thành những đơn vị cơ sở là buôn. Hợp thành buôn là những gia
đình theo chế độ mẫu hệ với những quan hệ thân tộc khiến cho cộng đồng
được duy trì khá bền vững.
Con người Dak Lak thật thà, chất phác và giàu tình cảm, rất mến
khách, thậm chí khách của một người nào đó cũng được coi là khách của làng.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status