Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý thu bảo hiểm tại bảo hiểm xã hội huyện thanh miện tỉnh hải dương - Pdf 54

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan:Luận văn này là do tôi tự thực hiện và hoàn thiện dưới sự hướng dẫn
của thầy giáo PGS.TS. Nguyễn Bá Uân. Các số liệu sử dụng trong đề tài hoàn toàn
trung thực với thực tế, các tài liệu trích dẫn có nguồn gốc rõ ràng, Những kết luận
khoa học của luận văn chưa từng được công bố.
Hà Nội, ngày

tháng

năm 2018

Tác giả luận văn

Đoàn Thị Lan

i


LỜI CẢM ƠN
Tác giả xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, khoa Kinh tế và quản lý, Phòngđào tạo
sau đại học trường Đại học Thủy lợi đã tận tình giảng dạy và giúp đỡ tác giả trong suốt
quá trình học tập và hoàn thiện đề tài nghiên cứu này.
Đặc biệt, xin trân trọng và cảm ơn sâu sắc đến thầy giáo - PGS.TS. Nguyễn Bá Uân đã
tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tác giả trong suốt quá trình nghiên cứu để hoàn thiện luận
văn.
Xin được cảm ơn Ban lãnh đạo Bảo hiểm xã hội huyện Thanh Miện và các cán bộ của
Bảo hiểm xã hội huyện Thanh Miện đã cung cấp tài liệu và tạo điều kiện giúp tác giả
trong quá trình thực hiện đề tài.
Xin chân thành cảm ơn các bạn bè, đồng nghiệp đã giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực
hiện đề tài, nhờ đó tác giả mới có điều kiện hoàn thành luận văn của mình.
Xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến gia đình đã chia sẻ, động viên, giúp đỡ tác giả trong


Khái niệm quản lý thu bảo hiểm xã hội .................................................... 17

1.1.3

Vai trò, nội dung quản lý thu bảo hiểm xã hội .......................................... 18

1.1.4

Các tiêu chí đánh giá kết quả công tác quản lý thu bảo hiểm xã hội ........ 24

1.2

Những nhân tố ảnh hưởng đến công tác thu bảo hiểm xã hội cấp huyện ......27

1.3

Tổng quan thực tiễn về quản lý thu bảo hiểm xã hội tại một số địa phương .29

1.3.1

Thực trạng chung về quản lý thu bảo hiểm xã hội cấp huyện .................. 29

1.3.2

Kinh nghiệm quản lý thu bảo hiểm xã hội một số địa phương ................. 29

1.3.3 Những bài học kinh nghiệm được rút ra cho huyện Thanh Miện về thu
bảo hiểm ................................................................................................................ 31
1.4

2.3.2

Công tác quản lý nguồn thu bảo hiểm xã hội ........................................... 47

2.3.3

Công tác quản lý quy trình thu bảo hiểm xã hội ....................................... 55

2.3.4

Công tác quản lý nợ đọng trốn đóng bảo hiểm xã hội .............................. 60

2.3.5

Công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát và hậu kiểm. ................................. 61

2.4 Đánh giá chung tình hình thực hiện thu bảo hiểm tại BHXH huyện Thanh
Miện tỉnh Hải Dương .............................................................................................. 63
2.4.1

Những mặt đạt được.................................................................................. 63

2.4.2

Những tồn tại và nguyên nhân .................................................................. 64

Kết luận chương 2 ....................................................................................................... 68
CHƯƠNG 3
GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ THU BẢO
HIỂM TẠI BẢO HIỂM XÃ HỘI HUYỆN THANH MIỆN TỈNH HẢI DƯƠNG .... 69

Tăng cường cơ sở vật chất phục vụ công tác thu ...................................... 83

Kết luận chương 3 ....................................................................................................... 85
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ..................................................................................... 86
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO .................................................................... 91

iv


DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1. Kết quả hoạt động của BHXH huyện Thanh Miện giai đoạn 2012-2016..... 42
Bảng 2.2: Tổng hợp đơn vị tham gia BHXH bắt buộc theo khối tại huyện Thanh Miện
giai đoạn 2012-2016 ...................................................................................................... 43
Bảng 2.4: Tổng quỹ tiền lương đóng BHXH bắt buộc (2012-2016)............................. 49
Bảng 2.5: Số thu BHXH bắt buộc trong các lĩnh vực (2012-2016) .............................. 52
Hình 2.4: Tình hình kế hoạch thu BHXH bắt buộc tại BHXH huyện Thanh Miện
(2012- 2016) .................................................................................................................. 54

v


DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, HÌNH VẼ
Hình 1.1. Sơ đồ mô hình tổng quan về phân cấp quản lý thu BHXH ........................... 23
Hình 2.1: Sơ đồ cấu tổ chức bộ máy hoạt động của BHXH ........................................ 37
Hình 2.2 Số đơn vị SDLĐ tham gia BHXH bắt buộc theo khối tại BHXH huyện Thanh
Miện năm 2016 .............................................................................................................. 44
Hình 2.3. Cơ cấu lao động tham gia BHXH bắt buộc tại huyện Thanh Miệ năm 201644
Bảng 2.6: Thực hiện thu BHXH bắt buộc so với kế hoạch trong các năm ................... 53
Hình 2.5: Sơ đồ cơ cấu tổ chức quản lý thu của BHXH .............................................. 55
Bảng 2.7: Kết quả công tác thanh tra, kiểm tra, hậu kiểm giai đoạn 2012-2016……..61

DN

Doanh nghiệp

DNNN

Doanh nghiệp nhà nước

DNNQD

Doanh nghiệp ngoài quốc doanh

HCSN

Hành chính sự nghiệp

HĐLĐ

Hợp đồng lao động

HTX

Hợp tác xã

ILO

Tổ chức lao động thế giới




với người lao động và lực lượng vũ trang ngay từ những năm đầu thành lập nước.
Chính sách đó đã từng bước được bổ sung, sửa đổi và hoàn thịên cho phù hợp với từng
giai đoạn xây dựng và phát triển đất nước.
Bước sang thời kỳ đổi mới, để phù hợp với chủ trương phát triển nền kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa, chính sách BHXH đã được Nhà nước kịp thời điều chỉnh
theo hướng ngày càng hoàn thiện hơn. Đặc biệt, ngày 29/6/2006, Quốc hội khoá XI,
kỳ họp thứ 9 đã thông qua Luật BHXH số 71/2006/QH 11, có hiệu lực từ ngày
01/01/2007; ngày 14/11/2008, Quốc hội khoá XII, kỳ hợp thứ 4 đã thông qua Luật
BHYT số 25/2008/QH 12, có hiệu lực từ ngày 01/7/2009, đây là cơ sở pháp lý vững
chắc thực hiện quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia BHXH. Nội dung của các luật
thể hiện quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước trong lĩnh vực
BHXH.
Quản lý thu BHXH là một nội dung quan trọng trong quá trình thực thi chính sách
BHXH, có thể nói đây là xương sống của ngành BHXH. Vì vậy, công tác quản lý thu
BHXH tốt là cơ sở để đảm bảo cho toàn bộ hệ thống BHXH tồn tại và phát triển.
Tuy nhiên, trong thực tế trong công tác thu không phải là không có những hạn chế, bất
cập. Còn rất nhiều doanh nghiệp chưa tham gia, hoặc tham gia không đầy đủ cho
người lao động. Nhiều doanh nghiệp tham gia mang tính đối phó với tổ chức BHXH.
Nhận thức của người lao động còn hạn chế về Luật Bảo hiểm xã hội.
Tính đến hết năm 2016, cả nước có trên 73 triệu người tham gia BHXH, BHYT, trong
đó số đối tượng tham gia BHXH bắt buộc mới chiếm khoảng 28% lực lượng trong độ
tuổi lao động; số đối tượng tham gia BHYT mới đạt khoảng 80% dân số cả nước. Số
lao động còn lại chưa tham gia BHXH tập trung chủ yếu ở khu vực ngoài nhà nước
như: Các Doanh nghiệp tìm các lách luật bằng cách trốn tránh trách nhiệm của mình

1


không tham gia BHXH cho người lao động, bên cạnh đó một số đơn vị cố tình trây ỳ,
không nộp để lạm dụng quỹ BHXH, số tiền nộp BHXH được để lại để phục vụ cho

báo cáo hàng năm của BHXH huyện Thanh Miện, thực tiễn công tác quản lý của
BHXHhuyện Thanh Miện; các thông tin được công bố trên báo, tạp chí, công trình và đề
tài khoa học trong nước.
Phương pháp tổng hợp số liệu: Trên các cơ sở tài liệu đã được xử lý, tổng hợp và vận
dụng các phương pháp phân tích thống kê để đánh giá thực trạng công tác quản lý thu
bảo hiểm tại BHXH huyện Thanh Miện.Tìm ra những tồn tại, chỉ ra những nguyên nhân
để có giải pháp hoàn thiện công tác quản lý.
Phương pháp phân tích số liệu: Dùng các phương pháp trong thống kê và hệ thống hóa
tài liệu thu thập được làm cơ sở cho việc phân tích đánh giá thực trạng áp dụng công tác
quản lý thu bảo hiểm tại BHXH trên địa bàn, nghiên cứu theo tiêu thức và góc độ khác
nhau như phương pháp so sánh thống kê, phương pháp dùng biểu đồ, đồ thị.
5. Nội dung của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, luận văn được kết cấu với 3 chương nội
dung chính:
Chương 1: Tổng quan lý luận và thực tiễn về công tác quản lý thu bảo hiểm tại bảo
hiểm xã hội.
Chương 2: Thực trạng công tác quản lý thu bảo hiểm tại bảo hiểm xã hội huyện Thanh
Miện tỉnh Hải Dương.
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý thu bảo hiểm tại bảo hiểm xã hội
huyện Thanh Miện tỉnh Hải Dương.

3


CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CÔNG
TÁC QUẢN LÝ THU BẢO HIỂM TẠI BẢO HIỂM XÃ HỘI
1.1

Tổng quan lý luận về công tác quản lý thu bảo hiểm xã hội


kinh tế - xã hội, sự ổn định chính trị quốc gia.
Dưới góc độ tài chính: BHXH là một quỹ tài chính tập trung, được hình thành từ sự đóng
góp của các bên tham gia và có sự hỗ trợ của Nhà nước.
Dưới góc độ thu nhập: BHXH là sự đảm bảo thay thế một phần thu nhập khi người lao
động có tham gia BHXH bị mất hoặc giảm thu nhập.
Dưới góc độ quản lý: BHXH là công cụ quản lý của Nhà nước để điều chỉnh mối quan
hệ kinh tế giữa người lao động, người sử dụng lao động và Nhà nước, thực hiện quá
trình phân phối và phân phối lại thu nhập giữa các thành viên trong xã hội. [7]
Khái niệm BHXH được khái quát một cách đầy đủ nhất trong Luật BHXH được Quốc
hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá X, kỳ họp thứ 9 thông qua ngày
29 tháng 6 năm 2006 như sau: “Bảo hiểm xã hội là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp
một phần thu nhập của người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau,
thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết,
trên cơ sở đóng vào quỹ bảo hiểm xã hội”.[8]
1.1.1.2 Phân loại
Luật BHXH quy định ba loại hình BHXH, bao gồm BHXH bắt buộc, BHXH tự
nguyện và BHXH thất nghiệp. Theo đó:
Bảo hiểm xã hội bắt buộc là loại hình bảo hiểm xã hội mà người lao động và người sử
dụng lao động phải tham gia.
Bảo hiểm tự nguyện là loại hình bảo hiểm xã hội mà người lao động tự nguyện tham
gia, được lựa chọn mức đóng và phương thức đóng phù hợp với thu nhập của mình để
hưởng bảo hiểm xã hội.
Bảo hiểm thất nghiệp được hiểu là bảo hiểm bồi thường cho người lao động bị thiệt
hại về thu nhập do bị mất việc làm để họ ổn định cuộc sống và có điều kiện tham gia
vào thị trường lao động.

5


1.1.1.3 Bản chất của bảo hiểm xã hội.

6


Nhà nước, mặt khác buộc cả giới chủ và giới thợ phải đóng góp một khoản tiền nhất
định hàng tháng được tính toán chặt chẽ dựa trên cơ sở xác suất rủi ro xảy ra đối với
người làm thuê. Số tiền đóng góp của cả chủ và thợ hình thành một quỹ tiền tệ tập
trung trên phạm vi quốc gia. Quỹ này còn được bổ sung từ ngân sách Nhà nước
(NSNN) khi cần thiết nhằm đảm bảo đời sống cho người lao động khi gặp phải những
biến cố bất lợi. Chính nhờ những mối quan hệ ràng buộc đó mà rủi ro, bất lợi của
người lao động được dàn trải, cuộc sống của người lao động và gia đình họ ngày càng
được đảm bảo ổn định. Giới chủ cũng thấy mình có lợi và được bảo vệ, sản xuất kinh
doanh diễn ra bình thường, tránh được những xáo trộn không cần thiết. Vì vậy, nguồn
quỹ tiền tệ tập trung được thiết lập ngày càng lớn và nhanh chóng, khả năng giải quyết
các phát sinh lớn của quỹ ngày càng đảm bảo.
Toàn bộ những hoạt động với những mối quan hệ ràng buộc chặt chẽ được thế giới
quan niệm là BHXH đối với người lao động. Như vậy, BHXH là sự bảo đảm thay thế
hoặc bù đắp một phần thu nhập của người lao động trên cơ sở đóng góp vào quỹ
BHXH khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh
nghề nghiệp, thất nghiệp, hết tuổi lao động, chết, trên cơ sở đóng góp vào quỹ BHXH.
Với cách hiểu như trên, bản chất của BHXH được thể hiện ở những nội dung chủ yếu
sau:
Trong bất kỳ xã hội nào mà ở đó có sự thuê mướn lao động thì có BHXH. BHXH là
nhu cầu khách quan, mang tính đa dạng phức tạp của xã hội. Khi nền kinh tế hàng hóa
càng phát triển, mối quan hệ chủ thợ càng phát triển thì BHXH càng phong phú, đa
dạng và hoàn thiện. Có thể nói kinh tế là nền tảng để BHXH phát triển, BHXH thể
hiện trạng thái kinh tế của một nước.
Cơ sở phát sinh BHXH là quan hệ lao động thể hiện thông qua mối quan hệ ba bên:
bên tham gia BHXH, bên BHXH và bên được BHXH.
Bên tham gia BHXH: người lao động và người sử dụng lao động.
Bên BHXH: cơ quan BHXH do Nhà nước lập ra và bảo hộ.

thể diễn ra cả trong và ngoài quá trình lao động.

8


Phần thu nhập của người lao động bị giảm hoặc mất đi khi gặp phải những biến cố, rủi
ro sẽ được bù đắp hoặc thay thế từ một nguồn quỹ tiền tệ tập trung được tồn tích lại.
Nguồn quỹ này do bên tham gia BHXH đóng góp là chủ yếu, ngoài ra còn được sự hỗ
trợ từ phía Nhà nước.
Mục tiêu của BHXH là nhằm thoả mãn những nhu cầu thiết yếu của người lao động
trong trường hợp bị giảm hoặc mất thu nhập, mất việc làm. Mục tiêu này đã được Tổ
chức lao động thế giới (ILO) cụ thể hoá như sau:
Đền bù cho người lao động những khoản thu nhập bị mất để đảm bảo nhu cầu sinh
sống thiết yếu của họ.
Chăm sóc sức khoẻ và chống bệnh tật.
Xây dựng điều kiện sống đáp ứng các nhu cầu của dân cư và các nhu cầu đặc biệt của
người già, người tàn tật và trẻ em.
Với những mục tiêu trên, BHXH đã trở thành một trong những quyền con người và được
Đại hội đồng Liên hợp quốc thừa nhận và ghi vào Tuyên ngôn Nhân quyền ngày
10/12/1948 rằng: “ Tất cả mọi người với tư cách là thành viên của xã hội có quyền hưởng
BHXH, quyền đó được đặt cơ sở trên sự thoả mãn các quyền về kinh tế, xã hội và văn hoá
nhu cầu cho nhân cách và sự tự do phát triển con người”.
Ở nước ta, BHXH là một bộ phận quan trọng trong chính sách an sinh xã hội. Ngoài
BHXH, chính sách an sinh xã hội còn có cứu trợ xã hội, ưu đãi xã hội, chính sách xoá
đói, giảm nghèo…
1.1.1.4 Chức năng của bảo hiểm xã hội.
Bảo hiểm xã hội (BHXH) có những chức năng như sau:
Thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho người lao động tham gia BHXH khi họ
bị giảm hoặc mất thu nhập do mất khả năng lao động hoặc mất việc làm. Sự đảm bảo
thay thế hoặc bù đắp này chắc chắn sẽ xảy ra vì suy cho cùng, mất khả năng lao động

với xã hội. Trong thực tế lao động sản xuất, người lao động và người sử dụng lao động
vốn có những mâu thuẫn nội tại, khách quan về tiền lương, tiền công, thời gian lao
động… Thông qua BHXH, những mâu thuẫn đó sẽ được điều hoà và giải quyết. Đặc
biệt, cả hai giới này đều thấy nhờ có BHXH mà mình có lợi và được bảo vệ. Từ đó
làm cho họ hiểu nhau hơn và gắn bó lợi ích được với nhau. Đối với Nhà nước và xã
hội, chi cho BHXH là cách thức phải chi ít nhất và có hiệu quả nhất nhưng vẫn giải
10


quyết được khó khăn về đời sống cho người lao động và gia đình họ, góp phần làm
cho sản xuất ổn định, kinh tế, chính trị và xã hội được phát triển và an toàn hơn.
1.1.1.5 Vai trò của bảo hiểm xã hội
Trong xã hội, bất cứ một ngành kinh tế nào đều đóng một vai trò nhất định trong hệ
thống kinh tế- xã hội - chính trị- văn hóa của đất nước.Với tư cách là một ngành kinh
tế - xã hội, BHXH không phải là một ngoại lệ. Vai trò của BHXH được thể hiện trên
tất cả các mặt của đời sống xã hội. Cụ thể đó là:
Về mặt kinh tế:
Trong cuộc sống, BHXH có vai trò to lớn tạo ra thu nhập cho người lao động. Nhờ có
sự hỗ trợ từ quỹ BHXH mà thu nhập của người lao động ổn định hơn, đời sống vật
chất trước mắt và lâu dài của người lao động trong và sau thời gian làm việc, công tác
được đảm bảo, người lao động yên tâm lao động sản xuất, làm việc có hiệu quả hơn
góp phần duy trì ổn định và phát triển sản xuất của từng doanh nghiệp nói riêng và
đảm bảo an toàn xã hội.
Quỹ BHXH được hình thành do sự đóng góp của các bên tham gia, được dùng để hỗ
trợ cho người lao động khi họ gặp những biến cố. Tuy nhiên không phải lúc nào tiền
trong quỹ cũng được dùng hết mà vẫn có một lượng tiền nhàn rỗi trong quỹ. Chính vì
vậy, huy động lượng tiền nhàn rỗi của quỹ BHXH để đầu tư vào việc kinh doanh, dịch
vụ trên các lĩnh vực khác nhau sẽ tạo ra một nguồn thu lớn cho quỹ nhằm tạo tích lũy
và sự tăng trưởng cho quỹ qua thời gian, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế -xã
hội của đất nước.

thành nghĩa vụ lao động xã hội (VD: người lao động nghỉ hưu, người có công với đất
nước) hoặc vì một lý do bất khả kháng mà họ phải tạm ngừng hay vĩnh viễn ngừng lao
động.
Về nguyên tắc tất cả mọi người lao động đều có quyền tham gia và được hưởng quyền
lợi BHXH về cả mặt vật chất lẫn tinh thần trong và sau thời gian lao động điều đó cho
thấy BHXH vừa thể hiện tính nhân đạo xã hội, vừa thể hiện trách nhiệm xã hội đối với
người lao động.
BHXH là một cách xử sự là sự điều tiết những giá trị sống về vật chất và tinh thần, nó
phản ánh sự cố gắng làm tốt hay không tốt, thái độ của Nhà nước và cộng đồng đối với
người lao động đã cống hiến cho xã hội. Có thực hiện tốt các vấn đề về BHXH để có
12


một xã hội ổn định và an toàn hay không được coi là một tiêu thức đánh giá xã hội đó
có công bằng, văn minh, tiến bộ không. Hiện nay trên thế giới, BHXH đã trở thành
một chính sách BHXH không thể thiếu trong đời sống xã hội.
BHXH là một bộ phận quan trọng và khăng khít của chính sách xã hội, chịu sự tác
động qua lại của các bộ phận khác của chính sách xã hội trên cơ sở tác động của tổng
thể các mối quan hệ kinh tế - chính trị - xã hội và lịch sử đã góp phần đảm bảo an toàn
xã hội, đáp ứng được nhu cầu an toàn xã hội của người dân.
1.1.1.6 Nguyên tắc của bảo hiểm xã hội
Bảo hiểm xã hội là loại hình bảo hiểm không vì mục tiêu lợi nhuận nên BHXH hoạt
động dựa theo nguyên tắc cơ bản sau:
Mọi người lao động đều có quyền tham gia và hưởng trợ cấp BHXH
Thực hiện nguyên tắc này sẽ góp phần đảm bảo quyền bình đẳng giữa những người lao
động trên phương diện xã hội, nhất là trong điều kiện BHXH có sự bảo trợ của Nhà
nước. Vì vậy mà ngày nay, BHXH đã trở thành quyền cơ bản của người lao động, xét
trên cả bình diện quốc gia và quốc tế. Ở Việt Nam, quyền tham gia và hưởng BHXH
của người lao động đã được ghi trong Hiến pháp (Điều 56) và Bộ luật lao động (Điều
7). Thực tế, một trong các tiêu chí để đánh giá hệ thống BHXH là diện bao phủ của nó

đáng kể về thu nhập sẽ khuyến khích người lao động tích cực lao động sản xuất, không
ỷ lại hay lạm dụng chế độ bảo hiểm để nghỉ việc.
Mức trợ cấp bảo hiểm cho người lao động phải được tính toán hợp lý trong tương quan
với rất nhiều yếu tố, trong đó mức đóng, thời gian đóng BHXH và có chia sẻ là những
yếu tố chủ yếu nhất. Việc xác định mức trợ cấp bảo hiểm hợp lý là nguyên tắc quan
trọng để đảm bảo tính hấp dẫn và tính bền vững của BHXH. Đây cũng là nguyên tắc
thể hiện rõ nét yếu tố kinh tế và yếu tố xã hội của hình thức bảo hiểm này.
Nguyên tắc số đông bù số ít
Khi tham gia BHXH, người lao động được bảo đảm một khoản thu nhập khi bị giảm
hoặc mất khả năng lao động hoặc mất việc làm. Khoản thu nhập thay thế này nói
chung cao hơn nhiều so với khoản phí BHXH mà họ đã đóng góp. Để làm được điều
này, BHXH phải thực hiện trên cơ sở số đông bù số ít, có nghĩa là lấy số đông để bù
cho số ít người không may gặp rủi ro. Mặt khác, đối với mỗi người lao động, thời gian
làm việc có thu nhập thường lớn hơn thời gian ngừng hoặc nghỉ việc không có thu

14


nhập. Theo nguyên tắc này, càng nhiều người tham gia BHXH thì san sẻ rủi ro càng
được thực hiện dễ dàng hơn.
Nhà nước thống nhất quản lý BHXH.
BHXH là một chính sách lớn ảnh hưởng đến nhiều mặt của đời sống xã hội. Nhà nước,
với tư cách là đại diện chính thức về mặt quản lý xã hội, phải có trách nhiệm thực hiện
chính sách xã hội, quản lý các hoạt động BHXH để đảm bảo ổn định và công bằng xã
hội. Bên cạnh đó, BHXH còn là một yếu tố quan trọng để hình thành và phát triển thị
trường lao động. Nếu BHXH được Nhà nước quản lý thống nhất, ổn định sẽ tạo điều
kiện cho người lao động dịch chuyển lao động từ đơn vị này đến đơn vị khác, từ khu
vực này đến khu vực khác … theo yêu cầu của thị trường mà quyền lợi bảo hiểm của
họ không bị ảnh hưởng. Khi Nhà nước quản lý sẽ đảm bảo tính thống nhất và là yêu
cầu khách quan, nhất là trong giai đoạn đầu thực hiện BHXH theo yêu cầu của cơ chế

Chính chế độ trên hình thành một hệ thống các chế độ BHXH.Tuỳ điều kiện kinh tế xã hội, mỗi quốc gia tham gia công ước Giơnevơ thực hiện khuyến nghị đó ở mức độ
khác nhau, nhưng ít nhất phải thực hiện được 3 chế độ. Trong đó, ít nhất phải có một
trong năm chế độ: (3); (4); (5); (8) và (9).
BHXH Việt Nam và địa phương có nhiệm vụ thực hiện tốt chính sách BHXH nói
chung cũng như công tác chi trả các chế độ BHXH nói riêng cho người lao động và
nhân dân trên phạm vi cả nước. Nội dung chi BHXH bắt buộc ở nước ta hiện nay bao
gồm các chế độ:
- Trợ cấp ốm đau
- Trợ cấp thai sản
- Trợ cấp dưỡng sức, phục hồi sức khỏe
- Trợ cấp thất nghiệp
- Trợ cấp một lần
16


- Trợ cấp TNLĐ-BNN
- Trợ cấp hưu trí
- Trợ cấp tử tuất
1.1.2 Khái niệm quản lý thu bảo hiểm xã hội
Tổ chức bảo hiểm xã hội muốn tồn tại và phát triển phải có một tài chính riêng để chi
dùng cho công tác thực hiện chính sách, chế độ. Do đó, thu BHXH là nhân tố có tính
chất quyết định đến sự tồn tại và phát triển của BHXH ở bất kỳ một quốc gia nào trên
thế giới.
Thu BHXH là việc nhà nước dùng quyền lực của mình bắt buộc các đối tượng phải
đóng BHXH theo mức phí quy định hoặc cho phép một số đối tượng được tự nguyện
tham gia, lựa chọn mức đóng và phương thức đóng phù hợp với thu nhập của mình.
Trên cơ sở đó hình thành một quỹ tiền tệ tập trung nhằm mục đích bảo đảm cho các
hoạt động BHXH.
Tuy nhiên, thực tế hiện nay cho thấy hiệu quả thu BHXH nói chung và thu BHXH đối
với hình thức bắt buộc nói riêng thường đạt kết quả không cao. Trong nền kinh tế


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status