Giáo án Ngữ văn 10 tuần 29 bài: Trao Duyên Truyện Kiều Nguyễn Du - Pdf 55

GIÁO ÁN NGỮ VĂN LỚP 10
TRAO DUYÊN
(Trích “Truyện Kiều”)
Nguyễn Du

- Vị trí bài dạy: Chương trình lớp 10 ban Cơ Bản, SGK Ngữ Văn 10 (cơ bản), tập II,
NXBGD.H2006. Phan Trọng Luận (Tổng chủ biên)
- Số tiết: 1
- Đối tượng: Học sinh lớp 10 trường PTTH chuyên Ngoại Ngữ, Đại học Ngoại Ngữ,
Đại học Quốc gia Hà Nội.

I.

MỤC TIÊU CHUNG:

1. Kiến thức: HS cần nắm được:
a) Nội dung:
- Đặc điểm thể loại truyện thơ, tư tưởng chủ đề được phản ánh trong truyện thơ, trong
“Truyện Kiều” nói chung, và của tác phẩm đoạn trích “Trao duyên” nói riêng.
- Diễn biến tâm trạng sâu sắc của Thuý Kiều trong từng đoạn thơ khi trao duyên và trao
kỷ vật cho em.
b) Nghệ thuật:
- Nghệ thuật ước lệ trung đại đặc sắc.
- Nghệ thuật miêu tả tâm lý nhân vật.
- Nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ tiếng Việt đạt đến đỉnh cao thông qua các phép láy, đối,
so sánh…
1


c) Ý nghĩa:
- Giá trị nhân đạo của tác phẩm “Truyện Kiều” nói chung, và của đoạn trích “Trao


+ SGV Ngữ Văn 10.
+ Kỹ năng đọc – hiểu văn bản Ngữ Văn 10.
+ Bình giảng văn học Việt Nam.
+ Thiết kế bài giảng Ngữ Văn 10…
- Phấn, bảng …

IV.

CHUẨN BỊ:

1. Giáo viên:
- Soạn giáo án.
- Hướng dẫn HS chuẩn bị bài ở nhà.
2. Học sinh:
- HS chuẩn bị bài theo yêu cầu của giáo viên.
Nội dung cần chuẩn bị:
- Đọc, chia đoạn đoạn trích.
- Trả lời các câu hỏi phần hướng dẫn đọc hiểu.

V.

TIẾN TRÌNH BÀI DẠY:

Hoạt động của

Hoạt động

thầy


- Hỏi: Gọi HS lời câu hỏi.
đọc

đoạn

trích.Theo

- Trích trong “Truyện Kiều” từ câu 723 đến câu 756.

em

đoạn trích có thể

- Nội dung: Sau khi bọn sai nha gây ra vụ án oan sai

được chia thành

với gia đình Vương viên ngoại, Vương ông và Vương

mấy đoạn?

Quan bị bắt giam. Thuý Kiều phải hy sinh mối tình với

- Nhận xét câu
trả lời của HS và
giới

thiệu

đoạn trích.

+ Phần 2: Phần còn lại: Thuý Kiều
trao kỷ vật cho Thuý Vân.

- Nghe, trả

II.

PHÂN TÍCH:

- Hỏi: Em thấy lời câu hỏi.
có điều gì khác

1. Thuý Kiều cậy nhờ Thuý Vân thay mình trả nghĩa

biệt trong cách
dùng

từ

cho Kim Trọng.

của

Nguyễn Du khi

- Thuý Kiều đau đớn, khấn khoản muốn nhờ cậy em

miêu

một việc rất hệ trọng:


trao

lời”. Nói “cậy em” là Thuý Kiều đã đặt tất cả niềm tin

duyên và tâm

vào em, nàng khẩn khoản, tha thiết nhờ cậy em kết duyên

cảnh

cùng với Kim Trọng. Kiều nói “em có chịu lời” là đã để
5


trạng của Thuý

cho Thuý Vân có một sự lựa chọn, Thuý Vân có thể đồng

Kiều khi

trao

ý hoặc không, Thuý Kiều không dề bắt buộc nhưng nàng

duyên cho Thuý

lại nhờ em với cả tấm lòng tin tưởng và tha thiết nhất, có

Vân.


mình trả nghĩa

được, nàng muốn em tiếp nối mình trả tình, trả nghĩa cho

cho Kim Trọng?
- Nghe, ghi
chép.

thống lại các lý

cha.

Thuý Vân thay mình trả nghĩa cho Kim Trọng:

phục em thay

trả lời và hệ

Thuý Kiều suy nghĩ cặn kẽ trước sau mới bán mình chuộc

- Thuý Kiều đã dùng rất nhiều lẽ để có thể nhờ được

thuyết

- Nhận xét câu

nhờ Thuý Vân thay mình nối duyên trả nghĩa cho chàng.

mối tình Kim – Kiều:

và chữ hiếu và nàng chọn chữ hiếu để trả. Nàng nói ra
điều đó với Thuý Vân để Thuý Vân có thể hiểu được tâm
trạng của mình và hy vọng em mình có thể giúp đỡ mình
trả nghĩa cho lang quân.
+ Về phần Thuý Vân thì Kiều thuyết phục em
về tuổi xuân:
“Ngày xuân em hãy còn dài,”
Vì Thuý Vân còn trẻ nên có thời gian, có cơ hội
để thay mình làm một việc mà Kiều đã đau khổ rất nhiều
để có thể đi đến quyết định nhờ cậy em gái.
+ Thuý Kiều đã vin đến cả tình cảm ruột thịt
máu mủ thiêng liêng nhất để thuyết phục em.

7


“Xót tình máu mủ thay lời nước non.”
+ Nàng thâm chí còn lấy cái chết ra để nhờ cậy
em giúp mình:
“Cho dù thịt nát xương mòn,
Ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây.”
 Toàn đoạn này Thuý Kiều cậy nhờ Thuý Vân thay
mình trả tình nghĩa cho Kim Trọng, tác giả Nguyễn
Du đã khác hoạ một Thuý Kiều có suy nghĩ trước
sau vẹn toàn là một mẫu hình phụ nữ trong xã hội
- Nghe, ghi

xưa. Nàng đã hi sinh tình riêng để trả phần nào chữ

chép

- Nghe, ghi
chép
- Nhận xét và

- Giây phút trao kỷ vật cho em thật là thiêng liêng,

vành với bức tờ mây” có ghi lời thề ước của hai người,
“Phím đàn với mảnh hương nguyền”.
“Chiếc vành với bức tờ mây
8


giải thích thêm

Duyên này thì giữ vật này của chung.”

về chữ “duyên”

- Trong hai câu thơ này Nguyễn Du đã cố tình dùng



“của

những từ không rõ nghĩa, lấp lửng: “Duyên này” là

chung”.

“duyên” của ai với ai?
+ Duyên kỳ ngộ của nàng với Kim Trọng

Xót người bạc mệnh ắt lòng chẳng quên.
Mất người còn chút của tin,
Phím đàn với mảnh hương nguyền ngày xưa.”
- Kiều thấy mình thật buồn tủi, chua chát, nó đọng lại
9


ở câu nói: “Dù em nên vợ nên chồng”, nàng đã trao duyên,
trao cả kỷ vật của mối tình cho em rồi, đã “cậy em”, đã
“lậy em” biết bao khẩn khoản, tin tưởng… ấy thế mà vẫn
đặt ra một giả thiết như có điều gì đó không ổn. Đến đây
Kiều tự thấy mình đáng thương biết bao, mình là người
bạc mệnh để cho người khác phải “xót”, phải thương hại!
Đó là những suy nghĩ khi nàng nhìn thấy của tin còn đó
nhưng người thì mất, nàng phải ra đi, nàng phải bán thân
mình chỉ còn gửi lại cho chàng kỷ vật theo người em gái
mà thôi. (Đã có 3 lần trước đó Thuý Kiều nói về sự bạc
mệnh của mình: ở mả Đạm Tiên, nằm mơ khi đi chơi xuân
về, nói chuyện với Kim Trọng về thời thơ ấu của mình)
 Thuý Kiều đau lòng, luyến tiếc, thương xót cho
mối tình ngắn ngủi của mình với chàng Kim. Nàng
nói chuyện với Thuý Vân ở thực tại để rồi trao kỷ
- GV Phân tích - Nghe, ghi
tâm trạng của chép
Thuý Kiều khi
chím vào suy
tưởng.

vật cho em, từ đó làm nền cho suy tưởng của Thuý
Kiều về tương lai, cái tương lai đau thương, mù mịt

Nát thân bồ liễu đền ghì trúc mai.
Dạ đài cách mặt khuất lời
Rưới xin giọt nước cho người thác oan.”
- Cách đây mấy tháng ở mả Đạm Tiên nàng đã khóc
cho người thác oan:
“Kiều đâu sẵn mối thương tâm
Thoắt nghe Kiều đã đầm đầm châu sa.”

11


Giờ đây Thuý Kiều chỉ cầu mong Thuý Vân thương
xót cho nàng. Hồn của nàng “mang nặng lời thề” là hồn
oan không siêu thoát được. Tuy ở chốn “dạ đài” tăm tối
nàng vẫn dõi theo cuộc sống của Thuý Vân, của chàng
- GV dẫn và

Kim … nhưng vì âm dương cách biệt nàng không thể nói

phân tích về tâm - Nghe, ghi
trạng của Kiều chép

nên lời, nàng chỉ xin em rưới vài giọt nước nơi lá cây

khi trở lại thực
tại.

ngọn cỏ để làm mát lòng người thác oan.
 Thuý Kiều chìm mọi suy nghĩ vào suy tưởng, nàng
đau khổ cực điểm về cuộc sống, về một cái quá khứ

mối tình, về cuộc tình duyên lỡ dở, nàng quằn quại như
đau xé lòng. Nàng gửi lạy tình quân nghìn lại để tạ tội với
chàng. Nhưng nỗi đau lại tràn đến thêm một cơn nữa khi
nàng nghĩ đến thâm phận bạc mệnh của mình:
“Phận sao phận bạc như vôi!
Đã đành nước chảy hoa trôi lỡ làng.”
- Hai câu thơ đã khắc hoạ tâm trạng thấm thía nỗi
đơn độc của Thuý Kiều. Nàng thấy mình bạc mệnh, nàng
thấy mình bị cô lập trong cái thế giới đầy rẫy khổ đau ấy.
Nàng cất tiếng gọi người yêu như một tiếng kêu cứu chới
với tuyệt vọng, nhưng không có hồi âm:
“Ôi Kim lang! Hỡi Kim lang!
Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây!”
 Kết luận
+ Đoạn trích “Trao duyên” diễn tả tâm trạng đau
13


- GV Tổng kết

khổ của nàng Kiều khi tình yêu tan vỡ, từ khẩn khoản

lại bài học

muốn trả nghĩa cho lang quân, đến đau dớn khi trao kỷ
- Nghe, ghi
chép

vật cho Thuý Vân, tiếp đến là sự tuyệt vọng của nàng
khi đột ngột nàng trở vào suy tưởng về thế giới bên


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status