Thực thi pháp luật bảo vệ môi trường trong khu công nghiệp qua thực tiễn tại tỉnh bến tre - Pdf 55

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM

VÕ THANH TÙNG

THỰC THI PHÁP LUẬT BẢO VỆ MÔI TRƢỜNG
TRONG KHU CÔNG NGHIỆP QUA THỰC TIỄN
TẠI TỈNH BẾN TRE

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

TP. HỒ CHÍ MINH, NĂM 2018


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM

VÕ THANH TÙNG

THỰC THI PHÁP LUẬT BẢO VỆ MÔI TRƢỜNG
TRONG KHU CÔNG NGHIỆP QUA THỰC TIỄN
TẠI TỈNH BẾN TRE

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Chuyên ngành: Luật kinh tế
Mã số: 8380107

NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: TS.VIÊN THẾ GIANG

TP. HỒ CHÍ MINH, NĂM 2018


4.2. Phạm vi nghiên cứu .......................................................................................5
5. Phương pháp nghiên cứu .....................................................................................5
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài ................................................................5
7. Kết cấu của Luận văn ..........................................................................................6
CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ THỰC THI PHÁP
LUẬT VỀ BẢO VỆ MÔI TRƢỜNG TRONG KHU CÔNG NGHIỆP ...............7
1.1. Khái quát chung về khu công nghiệp và vai trò của khu công nghiệp trong
phát triển kinh tế xã hội ...........................................................................................7
1.1.1. Quan niệm về khu công nghiệp ..................................................................7
1.1.2. Vai trò của khu công nghiệp trong phát triển kinh tế xã hội .....................9
1.2. Một số vấn đề lý luận về thực thi pháp luật bảo vệ môi trường trong khu công
nghiệp.....................................................................................................................11
1.2.1. Bản chất của thực thi pháp luật bảo vệ môi trường trong khu công nghiệp ... 11
1.2.2. Các bộ phận hợp thành cơ chế thực thi pháp luật bảo vệ môi trường
trong khu công nghiệp ........................................................................................14
1.2.2.1. Khuôn khổ pháp luật liên quan đến việc bảo vệ môi trường trong khu
công nghiệp .....................................................................................................14


1.2.2.2. Trách nhiệm của Ban quản lý khu công nghiệp, các tổ chức, cá nhân
trong và ngoài nước có hoạt động trong khu công nghiệp .............................15
1.2.2.3. Các biện pháp chế tài xử lý vi phạm pháp luật trong hoạt động bảo vệ
môi trường tại khu công nghiệp ......................................................................17
1.2.2.4. Cơ chế phối hợp giữa cơ quan quản lý nhà nước về môi trường với
Ban quản lý khu công nghiệp trong việc triển khai các quy định về bảo vệ
môi trường ở các khu công nghiệp Việt Nam ................................................19
1.2.2.5. Vai trò của các tổ chức chính trị, chính trị xã hội trong giám sát thực
hiện pháp luật bảo vệ môi trường tại khu công nghiệp...................................21
KẾT LUẬN CHƢƠNG 1 ........................................................................................23
CHƢƠNG 2. ĐÁNH GIÁ THỰC TIỄN THI HÀNH PHÁP LUẬT BẢO VỆ


1

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài nghiên cứu
Quá trình cải cách mở cửa nền kinh tế trong suốt hơn 30 năm đổi mới cho
thấy, số lượng doanh nghiệp nước ta không ngừng tăng lên. Giai đoạn 2005 – 2014
là giai đoạn phát triển mạnh mẽ nhất của doanh nghiệp trong nước, đặc biệt là
doanh nghiệp ngoài doanh nghiệp ngoài nhà nước. Số lượng doanh nghiệp giai đoạn
2005 – 2014 tăng bình quân 16%/năm, cao hơn mức tăng chung của toàn doanh
nghiệp (15,9%) và khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước tăng 32115 doanh nghiệp,
doanh nghiệp nhà nước giảm 115 doanh nghiệp.1 Tính đến thời điểm tháng 10/2014
số lượng cơ sở cá thể và lao động tăng so với năm 2013; số cơ sở tăng gần 3%
(tương đương trên 135 nghìn cơ sở). Năm 2014 bình quân 19,2 người dân có một cơ
sở cá thể.2 Đến nay, số lượng doanh nghiệp đăng ký thành lập mới vẫn tiếp tục tăng
lên.
Cùng với chiến lược phát triển quốc gia theo hướng công nghiệp, các tỉnh
cũng phải “chuyển mình” theo định hướng công nghiệp để góp phần vào việc hiện
thực hóa mục tiêu này. Nếu như ở giai đoạn đầu của việc phát triển khu công nghiệp
đã thấy có cuộc chạy đua thành lập các khu công nghiệp tại Việt Nam. Báo cáo môi
trường quốc gia năm 2009 đã đánh giá khá chi tiết về hiện trạng môi trường khu
công nghiệp Việt Nam3. Những tác hại do hành vi vi phạm pháp luật bảo vệ môi
trường tại khu công nghiệp cũng đã được chứng minh4. Báo cáo số 39/BCUBTVQH13 ngày 20/10/2011 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về việc thực hiện
chính sách, pháp luật về môi trường tại các khu kinh tế, làng nghề cho thấy tình
trạng ô nhiễm môi trường tại các khu kinh tế, làng nghề đã ở mức báo động. Nhiều

1

Tổng Cục Thống kê, Hiệu quả của các doanh nghiệp trong nước giai đoạn 2005 – 2014, Nxb. Thống kê,
Hà Nội, 2016, tr.14-15.

quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu. Hầu hết các nghiên cứu đều đề cập đến tính cấp
thiết, nội dung, yêu cầu, phương thức thực hiện việc bảo vệ môi trường phù hợp với
từng đối tượng. Có thể kể đến một số nghiên cứu như:
- Ban soạn thảo Luật Đơn vị hành chính kinh tế đặc biệt, Báo cáo tổng kết
hoạt động các mô hình khu công nghiệp, khu kinh tế và các mô hình tương tự khác,
Hà Nội,ngày 30/08/2017.
- Bộ Tài nguyên và Môi trường, Báo cáo môi trường quốc gia: Môi trường
khu công nghiệp Việt Nam, Hà Nội 2009.
- Hoàng Văn Cương, Phạm Phú Minh, Văn Thiên Hào, Một số giải pháp phát
triển

bền

vững

các

khu

công

nghiệp

trong

thời

gian

tới,

2/8/2016,

/>
nghiep-xa-thai-gay-o-nhiem.html.
- PV, Các khu công nghiệp tỉnh Bến Tre: Thực trạng và một số bài học trong
thu

hút

đầu

tư.

Nguồn:

< />d/671/Default.aspx>, [Ngày truy cập: 15/01/2013].


4

-

Sở

Công

thương

tỉnh


khu công nghiệp.
- Đánh giá điều kiện, thực trạng phát triển khu công nghiệp, thực trạng bảo vệ
môi trường trong khu công nghiệp ở tỉnh Bến Tre của các chủ thể có liên quan. Từ
kết quả đánh giá sẽ tập trung làm rõ những tồn tại, hạn chế trong thực tiễn thi hành
pháp luật bảo vệ môi trường trong khu công nghiệp ở tỉnh Bến Tre.
- Đề xuất một số giải pháp góp phần tăng cường thực thi pháp luật bảo vệ môi
trường trong khu công nghiệp ở tỉnh Bến Tre đáp ứng yêu cầu phát triển công
nghiệp của tỉnh đến năm 2020.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu của Luận văn
Đối tượng nghiên cứu của Luận văn là:


5

- Khuôn khổ pháp luật điều chỉnh quan hệ bảo vệ môi trường trong khu công
nghiệp.
- Thực tiễn thi hành pháp luật bảo vệ môi trường trong khu công nghiệp ở tỉnh
Bến Tre.
- Các chủ trương, chính sách, pháp luật bảo vệ môi trường trong khu công
nghiệp ở tỉnh Bến Tre.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu vấn đề bảo vệ môi trường và thực thi pháp luật bảo vệ
môi trường trong khu công nghiệp ở tỉnh Bến Tre từ năm 2010 đến nay.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện dựa trên các phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp phân tích, tổng hợp, quy nạp, diễn dịch được sử dụng linh hoạt
và xuyên suốt trong toàn bộ luận văn để làm rõ các luận điểm khoa học được đề
cập.
- Phương pháp phân tích logic được sử dụng để phân tích ở Chương 2 và kiến

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ THỰC THI PHÁP LUẬT VỀ BẢO
VỆ MÔI TRƢỜNG TRONG KHU CÔNG NGHIỆP

1.1. Khái quát chung về khu công nghiệp và vai trò của khu công nghiệp
trong phát triển kinh tế xã hội
1.1.1. Quan niệm về khu công nghiệp
Trên thế giới hiện nay có hai mô hình phát triển khu công nghiệp, từ đó cũng
hình thành hai quan điểm khác nhau về khu công nghiệp:5
Quan điểm 1: cho rằng khu công nghiệp là khu vực lãnh thổ rộng lớn, có ranh
giới địa lý xác định, trong đó chủ yếu là hoạt động sản xuất công nghiệp và có đan
xen với nhiều hoạt động dịch vụ đa dạng, có dân cư sinh sống trong khu công
nghiệp. Ngoài chức năng quản lý kinh tế, bộ máy quản lý các khu này còn có chức
năng quản lý hành chính, quản lý lãnh thổ. Khu công nghiệp theo quan điểm này
thực chất là khu hành chính-kinh tế đặc biệt như các công viên công nghiệp ở Đài
Loan, Thái Lan và một số nước Tây Âu.
Quan điểm 2: cho rằng khu công nghiệp là khu vực lãnh thổ có giới hạn nhất
định, ở đó tập trung các doanh nghiệp công nghiệp và dịch vụ sản xuất công nghiệp,
không có dân cư sinh sống và được tổ chức hoạt động theo cơ chế ưu đãi cao hơn so
với các khu vực lãnh thổ khác. Theo quan điểm này, một số nước và vùng lãnh thổ
như Malaysia, Indonesia, Việt Nam đã hình thành nhiều khu công nghiệp với quy
mô khác nhau và Việt Nam cũng đang áp dụng mô hình này trong phát triển các khu
công nghiệp.
Tại Việt Nam, quan niệm về khu công nghiệp đã hình thành từ khi Việt Nam
chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường, là một trong những nội dung quan trọng
trong chiến lược công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Tư tưởng, chính sách,
pháp luật về phát triển khu công nghiệp đã góp phần quan trọng vào việc chuyển
dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Quy định
5

Nguyễn Thị Thu Thủy, Quản lý phát triển bền vững các khu công nghiệp tại thành phố Hải Phòng, Luận án

định thêm các loại khu công nghiệp như khu chế xuất,6 khu công nghiệp hỗ trợ,7
6

Khu chế xuất là khu công nghiệp chuyên sản xuất hàng xuất khẩu, thực hiện dịch vụ cho sản xuất hàng xuất
khẩu và hoạt động xuất khẩu, được thành lập theo điều kiện, trình tự và thủ tục áp dụng đối với khu công
nghiệp. Khu chế xuất được ngăn cách với khu vực bên ngoài theo các quy định áp dụng đối với khu phi thuế
quan quy định tại pháp luật về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu (Điểm a Khoản 1 Điều 2 nghị định
82/2018/NĐ-CP ngày 22/5/2018 của Chính phủ quy định về quản lý khu công nghiệp và khu kinh tế).


9

khu công nghiệp sinh thái.8 Điểm khác biệt trong quy định của pháp luật hiện hành
về khu công nghiệp là ở chỗ tập trung làm rõ điểm khác biệt của khu công nghiệp là
ở một khu vực địa lý nhất định có chức năng “chuyên sản xuất hàng công nghiệp và
thực hiện dịch vụ cho sản xuất công nghiệp”. Có thể khẳng định cách tiếp cận này
là phù hợp với xu hướng chung của các nước, đồng thời phân biệt khu công nghiệp
với các khu, cụm công nghiệp tập trung khác.
1.1.2. Vai trò của khu công nghiệp trong phát triển kinh tế xã hội
Thứ nhất, tạo lập không gian phát triển công nghiệp tập trung, tránh phát triển
manh mún, thiếu tập trung. Hiện 220 khu công nghiệp đã đi vào hoạt động, 105 khu
công nghiệp đang trong giai đoạn đền bù giải phóng mặt bằng. Tỷ lệ lấp đầy chung
các khu công nghiệp đạt 51%, riêng các khu công nghiệp đã đi vào hoạt động, tỷ lệ
lấp đầy đạt 73%. Vùng Đông Nam Bộ có số khu công nghiệp được thành lập nhiều
nhất với 111 khu công nghiệp (chiếm 34%); vùng đồng bằng sông Hồng có 85 và
và Tây Nam Bộ có 52 khu công nghiệp.9
Thứ hai, có thể hình thành nhóm/cụm doanh nghiệp có cùng ngành nghề, lĩnh
vực kinh doanh, từ đó các doanh nghiệp có thể tận dụng hoặc chia sẻ các lợi thế của
mình cho các doanh nghiệp trong cùng không gian hoạt động tập trung. Một trong
những vai trò quan trọng của khu công nghiệp là việc hình thành được hệ thống các

riêng biệt. Khi phát triển hệ thống khu công nghiệp, các doanh nghiệp trong khu
công nghiệp được sử dụng hệ thống hạ tầng phục vụ cho các doanh nghiệp hoạt
động. Nói cách khác, trên cùng diện tích đất và một hệ thống hạ tầng, các doanh
nghiệp trong khu công nghiệp tận dụng, khai thác tối đa nguồn lực đất đai của quốc
gia cũng như của từng địa phương.
Thứ tư, khu công nghiệp sẽ thu hút nguồn lực kinh tế (vốn của các doanh
nghiệp trong nền kinh tế thị trường), nhân lực tập trung, từ đó góp phần thúc đẩy
phát triển kinh tế (thông qua đóng góp thuế cho ngân sách địa phương) và phát triển
xã hội (thông qua thu hút các lực lượng xã hội, trong đó có trí thức, lao động có tay
nghề cao, từ đó từng bước hình thành lối sống công nghiệp hoặc các khu đô thị tập
trung). Các khu công nghiệp, khu chế xuất đã phát huy được lợi thế về kết cấu hạ
tầng đồng bộ, thuận lợi cho sản xuất kinh doanh, theo đó, thu hút được nguồn vốn
đầu tư lớn cả trong nước và đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI). Hàng năm, số lượng
vốn FDI đầu tư vào khu công nghiệp chiếm khoảng từ 60-70% tổng vốn đầu tư FDI
thu hút được của cả nước. Trung bình trong giai đoạn 2011-2015, các khu công
nghiệp thu hút được khoảng 40.000 tỷ đồng vốn đầu tư từ các nhà đầu tư trong
nước. Năm 2016, tổng diện tích đất công nghiệp đã cho thuê của các khu công
nghiệp đạt 31,8 nghìn ha, tỷ lệ lấp đầy các khu công nghiệp đạt 51%, cao hơn 2% so
với cuối năm 2015, riêng các khu công nghiệp đã đi vào hoạt động, tỷ lệ lấp đầy đạt
73%, cao hơn 6% so với cuối năm 2015.10

10

Ban soạn thảo Luật Đơn vị hành chính kinh tế đặc biệt, Báo cáo tổng kết hoạt động các mô hình khu công
nghiệp, khu kinh tế và các mô hình tương tự khác, Hà Nội,ngày 30/08/2017, tr.5.


11

1.2. Một số vấn đề lý luận về thực thi pháp luật bảo vệ môi trƣờng trong

cập: 23 tháng 03 năm 2016].
13
Dương Thu Hương, Tin Hội thảo “Cơ chế tổ chức thi hành pháp luật, những vấn đề lý luận và thực tiễn”
trong khuôn khổ nhiệm vụ nghiên cứu khoa học cấp Bộ năm 2016-2017do Viện Khoa học pháp lý, Bộ Tư
pháp tổ chức ngày 2-6-2017, Nguồn: < [Ngày truy cập: 23 tháng 03 năm 2016].


12

nội dung tương đồng với thuật ngữ “thực hiện pháp luật” được thừa nhận phổ biến
trong khoa học lý luận chung về nhà nước và pháp luật tại hầu hết các cơ sở giáo
dục đại học ngành luật ở Việt Nam, đồng thời trong các lĩnh vực pháp luật chuyên
ngành, việc thực thi pháp luật là điều kiện quan trọng để các quy định pháp luật đi
vào trong đời sống thực tiễn bằng các hành vi pháp lý tích cực của các chủ thể pháp
luật.
Môi trường trong lành là một yếu tố vô cùng quan trọng và thực sự cần thiết
đối với mỗi con người, mỗi quốc gia. Nhân loại ngày nay càng ngày càng ý thức
một cách sâu sắc hơn về mối quan hệ tương hỗ giữa các hoạt động nhằm phát triển
kinh tế cộng đồng và môi trường thiên nhiên. Một quốc gia, một khu vực không thể
phát triển cường thịnh nếu không quan tâm đến vấn đề bảo vệ môi trường không coi
bảo vệ môi trường là nền tảng cho sự phát triển bền vững của mình. Do đó, hoạt
động bảo vệ môi trường nói chung, bảo vệ môi trường trong khu công nghiệp nói
riêng luôn được các quốc gia quan tâm trong quá trình phát triển. Pháp luật bảo vệ
môi trường là một bộ phận cấu thành hệ thống pháp luật Việt Nam được quan tâm
xây dựng ngay từ khi Việt Nam đi vào con đường đổi mới. Nói như thế cũng có
nghĩa, vấn đề bảo vệ môi trường cũng “đã được” các nhà lập pháp Việt Nam quan
tâm để tránh những hậu quả do hoạt động kinh tế - hoạt động có nhiều tác động tiêu
cực đến môi trường. Tư tưởng xuyên suốt của pháp luật bảo vệ môi trường ở Việt
Nam là ở chỗ xem bảo vệ môi trường là trách nhiệm của toàn xã hội.14
Khi bàn về cơ chế thực thi pháp luật về bảo vệ môi trường trong khu công

bảo vệ môi trường đảm bảo quyền con người được sống trong môi trường trong
lành và bảo đảm sự phát triển bền vững. Như vậy, thực hiện trách nhiệm bảo vệ
môi trường của các chủ thể có liên quan đến bảo vệ môi trường sẽ góp phần hiện
thực hóa nhiều chính sách nhằm nâng cao hiệu suất cũng như lợi nhuận của các
khoản đầu tư trong lĩnh vực bảo vệ môi trường như chính sách bắt buộc phân loại
rác thải nguồn và chính sách đánh phí chất thải theo khối lượng xả thải, nhằm nâng
cao tỷ suất tái chế chất thải; thúc đẩy các hệ thống gián nhãn sinh thái/môi trường
cho các sản phẩm/dịch vụ, mua sắm xanh và lối sống xanh… nhằm thúc đẩy và
khuyến khích các nhóm cộng đồng và các tầng lớp xã hội khác nhau thực hiện sản
xuất sạch, tiết kiệm năng lượng và bảo vệ môi trường.


14

1.2.2. Các bộ phận hợp thành cơ chế thực thi pháp luật bảo vệ môi trường
trong khu công nghiệp
1.2.2.1. Khuôn khổ pháp luật liên quan đến việc bảo vệ môi trường trong khu
công nghiệp
Một trong những đặc trưng của khu công nghiệp là có mức độ tập trung lớn
các doanh nghiệp chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho
sản xuất công nghiệp và do đó, những tác động đối với môi trường ở khu vực này
bao giờ cũng lớn hơn so với các khu vực khác. Mặt khác, so với vi phạm pháp luật
trong những lĩnh vực khác, vi phạm pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ môi trường có
khả năng lan tỏa, ảnh hưởng trên phạm vi không gian lãnh thổ rộng lớn, mức độ thể
hiện rất lâu dài, khi chứng minh, làm rõ tính chất mức độ của hành vi vi phạm pháp
luật bảo vệ môi trường cần có ý kiến của các chuyên gia, nhà khoa học. Do đó, để
ngăn ngừa sớm và dễ dàng cho các chủ thể thực hiện trách nhiệm bảo vệ môi trường
trong khu công nghiệp phải càng cụ thể, rõ ràng bao nhiêu càng tốt. Tuy nhiên,
trong nghiên cứu của tác giả Võ Thị Mỹ Hương cho thấy,15 Luật Bảo vệ môi trường
2014 dành 15 điều Chương VII từ Điều 65 đến Điều 79 quy định về bảo vệ môi

môi trường và có hệ thống quan trắc nước thải tự động, liên tục; có thiết bị đo lưu
lượng nước thải;
- Bố trí bộ phận chuyên môn phù hợp để thực hiện nhiệm vụ bảo vệ môi
trường.
Ba là, Luật Bảo vệ môi trường 2014 giao cho Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và
Môi trường quy định chi tiết nội dung bảo vệ môi trường trong khu công nghiệp,
khu kinh tế, khu công nghệ cao. Thực hiện nhiệm vụ được giao, Bộ Tài nguyên và
Môi trường đã ban hành Thông tư số 35/2015/TT-BTNMT ngày 30/6/2015 quy
định về bảo vệ môi trường khu kinh tế, khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công
nghệ cao quy định chi tiết Điều 65, Điều 66 Luật Bảo vệ môi trường năm 2014;
Điểm e Khoản 1 và Điểm e Khoản 2 Điều 7, Điểm c Khoản 1 Điều 11, Khoản 1 và
Khoản 3 Điều 29, Khoản 1 Điều 34 Nghị định số 29/2008/NĐ-CP ngày 14/3/2008
quy định về khu công nghiệp, khu chế xuất và khu kinh tế; các quy định về bảo vệ
môi trường đối với khu kinh tế, khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao
quy định tại Điểm a và Điểm c Khoản 1 Điều 43 Nghị định số 38/2015/NĐ-CP
ngày 24/4/2015 về quản lý chất thải và phế liệu.
1.2.2.2. Trách nhiệm của Ban quản lý khu công nghiệp, các tổ chức, cá nhân
trong và ngoài nước có hoạt động trong khu công nghiệp
Về phương diện lịch sử, chủ đề “trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp” mới
chỉ xuất hiện tại châu Âu trong vài năm gần đây. Trong quá trình phát triển, sự quan
tâm về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp không dừng ở kết quả kinh tế của các


16

doanh nghiệp, mà là chính các doanh nghiệp, với tư cách là tác nhân chính của hoạt
động kinh tế, cùng với hệ thống ứng xử và hành vi của họ đối với cá nhân, xã hội
loài người và đối với môi trường tự nhiên của chúng ta.17 Trách nhiệm xã hội của
doanh nghiệp được thể hiện một cách cụ thể trên các yếu tố, các mặt, như: 1. Bảo vệ
môi trường; 2. Đóng góp cho cộng đồng xã hội; 3. Thực hiện tốt trách nhiệm với

(3)/2009, tr.29-34.


17

lý, xử lý chất thải công nghiệp trước khi xả thải ra môi trường, phối hợp xây dựng
hệ thống thông tin môi trường…
Tại khu công nghiệp Đại An của tỉnh Hải Dương, địa phương này cũng như
Ban quản lý khu công nghiệp đã có những cách làm riêng, tương đối hiệu quả để
một mặt vừa thu hút được đầu tư, vừa bảo đảm môi trường sinh thái. Ban quản lý
khu công nghiệp Đại An đã đầu tư dây chuyền, công nghệ tương đối hiện đại để xây
dựng nhà máy xử lý nước thải ở cuối khu công nghiệp với công suất xử lý 1.700
m3/ngày đêm. Mặt khác, ở mỗi doanh nghiệp đều có hệ thống xử lý nước thải riêng
và bắt buộc phải xử lý trước khi đưa vào hệ thống chung của khu công nghiệp. Toàn
bộ nước thải này sau khi được nhà máy của khu công nghiệp xử lý, đạt chuẩn về
yêu cầu mới được thải ra ngoài. Ban quản lý khu công nghiệp phải lựa chọn nhà đầu
tư phù hợp. Các nhà máy sản xuất được sắp xếp ra rìa sông, tránh các hướng gió
thổi về khu dân cư. Ban quản lý khu công nghiệp cũng yêu cầu tất cả các nhà máy
phải ký hợp đồng xử lý rác thải với Công ty Cổ phần Môi trường đô thị Hải Dương.
Riêng nước thải sản xuất, chất thải rắn phải được doanh nghiệp về môi trường thu
gom và xử lý. Để cải thiện môi trường do khí thải từ các nhà máy, Ban quản lý khu
công nghiệp Đại An yêu cầu các doanh nghiệp phải trồng cây xanh. Hằng tháng,
hằng quý đều có tổ kiểm tra của Ban quản lý đến kiểm tra nghiêm ngặt.20
Như vậy, sự chủ động, tích cực của Ban quản lý khu công nghiệp, các tổ chức,
cá nhân trong và ngoài nước có hoạt động trong khu công nghiệp đòi hỏi không chỉ
ở ý thức pháp luật cao mà còn cần đề cao trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp
trong thực tiễn hoạt động.
1.2.2.3. Các biện pháp chế tài xử lý vi phạm pháp luật trong hoạt động bảo vệ
môi trường tại khu công nghiệp
Các biện pháp chế tài xử lý vi phạm pháp luật trong hoạt động bảo vệ môi

việc triển khai các quy định pháp luật về bảo vệ môi trường trong khu công nghiệp,
nghĩa là giải quyết mâu thuẫn khi một mặt “trải thảm đỏ” thu hút các nhà đầu tư,
nhưng mặt khác phải bảo vệ môi trường, sinh thái trong phát triển các khu công
nghiệp. Trong Luật Bảo vệ môi trường 2014 có nhiều quy định về các biện pháp
bảo vệ môi trường được khuyến khích, song các lợi ích mà doanh nghiệp trong khu
công nghiệp thực hiện tốt pháp luật bảo vệ môi trường và doanh nghiệp không thực
hiện pháp luật môi trường không có gì khác biệt nên khó có thể khuyến khích doanh
nghiệp thực hiện tốt pháp luật bảo vệ môi trường, bởi lẽ, khi đó, doanh nghiệp có


19

thể “đánh đổi” giữa bị xử phạt vi phạm pháp luật bảo vệ môi và tuân thủ pháp luật
bảo vệ môi trường, bởi lẽ với mức xử phạt như hiện nay chưa đủ mạnh và chưa có
sức răn đe đối với doanh nghiệp.
1.2.2.4. Cơ chế phối hợp giữa cơ quan quản lý nhà nước về môi trường với
Ban quản lý khu công nghiệp trong việc triển khai các quy định về bảo vệ môi
trường ở các khu công nghiệp Việt Nam
Ở khía cạnh lý luận, quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường là việc sử dụng
tổng hợp các biện pháp công cụ như pháp luật, chính sách, kinh tế, hành chính, kỹ
thuật… của cơ quan quản lý nhà nước về môi trường một cách thích hợp và đồng bộ
để tác động, hướng dẫn, điều chỉnh và giám sát các hoạt động của những tác nhân
có khả năng tác động đến môi trường để bảo đám sự phát triển thống nhất, hài hòa
giữa phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường, từ đó góp phần hiện thực hóa mục
tiêu phát triển bền vững quốc gia.
Trách nhiệm bảo vệ môi trường của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã được
quy định chi tiết trong Luật Bảo vệ môi trường 2014 bao gồm: Nội dung quản lý
nhà nước về bảo vệ môi trường21; trách nhiệm quản lý nhà nước về bảo vệ môi
trường của Chính phủ22; trách nhiệm quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường của Bộ
trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường23; trách nhiệm quản lý nhà nước về bảo vệ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status