Pháp luật bảo vệ môi trường trong hoạt động thủy sản tại việt nam - Pdf 50

ĐẶNG VĂN THỊNH

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ
LUẬT KINH TẾ

CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ

PHÁP LUẬT BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG
TRONG HOẠT ĐỘNG THỦY SẢN TẠI VIỆT NAM

ĐẶNG VĂN THỊNH

2015 - 2017
HÀ NỘI - 2017


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ

PHÁP LUẬT BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG
TRONG HOẠT ĐỘNG THỦY SẢN TẠI VIỆT NAM
ĐẶNG VĂN THỊNH
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
MÃ SỐ: 60380107

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PHẦN MỞ ĐẦU ........................................................................................................1
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG THỦY
SẢN VÀ PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TRONG HOẠT
ĐỘNG THỦY SẢN ...................................................................................................6
1.1. Khái quát về hoạt động thủy sản......................................................................6
1.1.1. Khái niệm thủy sản ...................................................................................6
1.1.2. Hoạt động thủy sản và vai trò của nó trong phát triển kinh tế xã hội ......7
1.1.3. Yêu cầu bảo vệ môi trường trong hoạt động thủy sản ...........................13
1.2. Khái quát về pháp luật bảo vệ môi trường trong hoạt động thủy sản ............18
1.2.1. Khái niệm và vai trò của pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt
động thủy sản ....................................................................................................18
1.2.2. Các nguyên tắc cơ bản của pháp luật bảo vệ môi trường trong hoạt
động thủy sản ....................................................................................................22
1.2.3.Những yếu tố tác động đến pháp luật về bảo vệ môi trường trong
hoạt động thủy sản ............................................................................................25
1.2.4. Các yếu tố đảm bảo thực thi pháp luật bảo vệ môi trường trong hoạt
động thủy sản ....................................................................................................29
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 ........................................................................................33
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG
TRONG HOẠT ĐỘNG THỦY SẢN TẠI VIỆT NAM .......................................34
2.1. Các quy định pháp luật hiện hành về bảo vệ môi trường trong hoạt động
thủy sản. ................................................................................................................34
2.1.1. Các quy định pháp luật hiện hành về bảo vệ môi trường trong khai
thác thủy sản .....................................................................................................34
2.1.2. Các quy định pháp luật hiện hành về bảo vệ môi trường trong nuôi
trồng thủy sản ...................................................................................................38
2.1.3. Các quy định pháp luật hiện hành về bảo vệ môi trường trong chế
biến, xuất nhập khẩu thủy sản ..........................................................................45




: Bộ luật Hình sự

BNNPTNT

: Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn

BTNMT

: Bộ Tài nguyên môi trường

BVMT

: Bảo vệ môi trường

CITES

: Công ước về thương mại quốc tế các loài động, thực vật
hoang dã nguy cấp



: Nghị định

NN&PTNT

: Nông nghiệp và phát triển nông thôn

QCVN


gần gũi nhất là nông nghiệp. Tuy nhiên, hoạt động thủy sản lại cũng chịu nhiều ảnh
hưởng từ những biến đổi môi trường và bản thân hoạt động thủy sản cũng ẩn chứa
nhiều nguy cơ dẫn đến tình trạng ô nhiễm và suy thoái môi trường.
Tại Việt Nam, vài năm trở lại đây, nhiều vùng trên cả nước đã ghi nhận liên
tiếp các trường hợp cá chết hàng loạt, gây thiệt hại nặng nề cho hoạt động thủy sản
nước ta. Thủy sản nói chung chiếm một số lượng lớn và có vai trò đặc biệt quan
trọng trong cả phát triển kinh tế và cân bằng hệ sinh thái. Việc bảo vệ môi trường
sống trong hoạt động thủy sản chính là bảo vệ số lượng, chất lượng của thủy sản và
đồng thời cũng góp phần vào bảo vệ môi trường sống của con người. Thế nhưng
thực tiễn lại cho thấy môi trường sống của các loài thủy sản đang bị ô nhiễm nặng
nề, sản lượng và chất lượng của các loài thủy sản đang có nguy cơ suy thoái đe dọa
cấp thiết tới đa dạng sinh học và bảo vệ môi trường, đòi hỏi phải được điều chỉnh
bằng pháp luật.

1


Trong hệ thống pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động thủy sản, các
vấn đề về bảo vệ và phát triển các giống loài thủy sản, bảo vệ môi trường sống của
các loài thủy sản… đã được quan tâm điều chỉnh trong những năm gần đây. Với số
lượng lớn các văn bản pháp luật được ban hành, nhìn chung đã tạo được khuôn khổ
có tính hệ thống, góp phần nâng cao hiệu quả cho công tác bảo vệ môi trường trong
hoạt động thủy sản. Tuy nhiên cho đến nay, một số những quy định về vấn đề trên
đã bộc lộ những điểm chưa hợp lí, còn gặp nhiều hạn chế ngay trong chính nội hàm
các quy định và trong việc triển khai thi hành trên thực tế.
Trước những nhu cầu cấp thiết từ thực tiễn nêu trên, tôi chọn đề tài nghiên
cứu: “Pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động thủy sản tại Việt Nam” làm
đề tài luận văn thạc sĩ với mong muốn nghiên cứu, đánh giá một cách toàn diện các
quy định pháp luật hiện hành trong lĩnh vực này, góp phần nâng cao hiệu quả quản
lý môi trường nói chung và bảo vệ môi trường trong hoạt động thủy sản nói riêng ở

3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu những vấn đề lý luận và các quy định của pháp luật về bảo
vệ môi trường trong hoạt động thủy sản, thực tiễn thi hành các quy định pháp luật
này để từ đó phân tích, đánh giá, tổng hợp nhằm tìm ra các giải pháp hoàn thiện các
quy định pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động thủy sản tại Việt Nam.
* Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu nêu trên, các nhiệm vụ nghiên cứu của đề
tài cần phải được giải quyết là:
- Làm sáng tỏ khái niệm, vai trò của pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt
động thủy sản;
- Phân tích các biện pháp bảo đảm thực thi pháp luật cũng như các yếu tố tác
động đến quá trình xây dựng và thực thi pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt
động thủy sản;
- Phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt
động thủy sản để chỉ ra những kết quả đạt được cũng như những tồn tại, hạn chế và
luận giải nguyên nhân của chúng;
- Đề xuất phương hướng và các giải pháp hoàn thiện pháp luật về bảo vệ môi
trường trong hoạt động thủy sản

3


4. Phạm vi và phương pháp nghiên cứu
* Phạm vi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu dựa trên góc độ pháp lí về bảo vệ môi trường trong quá
trình tiến hành các hoạt động thủy sản. Trong quá trình giải quyết các nhiệm vụ của
đề tài, đề tài không đề cập tới tất cả những yếu tố kinh tế hay kỹ thuật của bảo vệ
môi trường trong hoạt động thủy sản mà chỉ tập trung nghiên cứu, phân tích đánh
giá thực trạng pháp luật về bảo vệ môi trường khi tiến hành các hoạt động khai thác,

tích đánh giá cũng tập trung để làm rõ về những ưu điểm, bất cập hiện nay tới phạm
vi nghiên cứu của đề tài.
Thứ ba, trên cơ sở tìm hiểu thực tiễn thực hiện pháp luật về bảo vệ môi
trường trong hoạt động thủy sản, đề tài đã phát hiện nhiều điểm bất cập trong việc
thực hiện pháp luật trên thực tế tại Việt Nam trong thời gian qua.
Thứ tư, những ý kiến đề xuất của nhóm tác giả cũng là những điểm mới bổ
sung thêm vào cơ sơ pháp lý hiện nay nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả điều
chỉnh của pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động thủy sản, đáp ứng kịp
thời những đòi hỏi của thực tiễn
Đề tài đi sâu nghiên cứu về lĩnh vực khá riêng biệt và mới lạ trong lĩnh vực
môi trường song cũng rất cần thiết để đáp ứng thực tế hiện nay, đảm bảo lợi ích về
lâu dài cho quốc gia. Tuy còn gặp khó khăn trong các nguồn tài liệu tham khảo từ
góc độ pháp lí nhưng những phát hiện mới của đề tài sẽ góp phần tạo dựng những
cơ sở khoa học và thực tiễn cho những nghiên cứu tiếp theo. Kết quả nghiên cứu
của đề tài có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo tin cậy đối với những tổ chức,
cá nhân đang trực tiếp tham gia vào quá trình nghiên cứu chuyên sâu về bảo vệ môi
trường trong hoạt động thủy sản.
6. Kết cấu của đề tài.
Ngoài lời mở đầu, mục lục, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận
văn được kết cấu thành ba chương. Cụ thể như sau:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về hoạt động thủy sản và pháp luật về bảo
vệ môi trường trong hoạt động thủy sản
Chương 2: Thực trạng pháp luật bảo vệ môi trường trong hoạt động thủy sản
tại Việt Nam
Chương 3: Các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực
hiện pháp luật bảo vệ môi trường trong hoạt động thủy sản tại Việt Nam.

5





đời sống ở nước mặn, có loài di cư từ vùng biển của quốc gia này sang vùng biển
của quốc gia khác. Cũng có loài có một phần vòng đời sống trên cạn và một phần
vòng đời sống dưới nước. Hiện nay số lượng các loài thủy sản chiếm số lượng lớn
trong các loài thủy sinh, giữ một vai trò rất quan trọng cho môi trường đặc biệt là
cho bảo tồn đa dạng sinh học.
Đa dạng sinh học được hiểulà sự phong phú về gen, loài sinh vật và hệ sinh
thái trong tự nhiên (Khoản 5 Điều 3 Luật đa dạng sinh học 2008). Đa dạng sinh học
có vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế, xã hội và môi trường tại Việt
Nam, là cơ sở đảm bảo an ninh lương thực; duy trì nguồn gen vật nuôi, cây trồng;
cung cấp các vật liệu cho xây dựng và các nguồn nhiên liệu, dược liệu. Thủy sản
như đã trình bày, chiếm ưu thế về số lượng loài, sự phong phú về nguồn gen trong
tự nhiên và đóng vai trò quan trọng trong đa dạng sinh học. Theo nghiên cứu, tổng
trữ lượng hải sản ở biển Việt Nam ước tính khoảng 3,075 triệu tấn (số liệu điều tra
giai đoạn 2011-2012 của Viện Nghiên cứu hải sản). Tổng sản lượng khai thác nên ở
mức 1,7 đến 1,9 triệu tấn/năm. Tính đến năm 2015, tổng sản lượng khai thác đang ở
mức 2,7 triệu tấn/năm [40].Việt Nam được xếp hạng thứ 16 trên thế giới về đa dạng
tài nguyên sinh vật và là một trong 10 trung tâm đa dạng sinh học phong phú nhất
thế giới với nhiều kiểu hệ sinh thái, các loài sinh vật, nguồn gen phong phú và đặc
hữu. Như vậy, thủy sản chiếm số lượng lớn về loài, nguồn gen đa dạng, bao gồm
một số nguồn gen quý hiếm (bào ngư, tôm hải ni đỏ…) đã tạo nên sự đa dạng sinh
thái trong hệ sinh thái.
1.1.2. Hoạt động thủy sản và vai trò của nó trong phát triển kinh tế xã hội
* Về hoạt động thủy sản:
Hoạt động thuỷ sản là việc tiến hành khai thác, nuôi trồng, vận chuyển thuỷ
sản khai thác; bảo quản, chế biến, mua bán, xuất khẩu, nhập khẩu thuỷ sản; dịch vụ
trong hoạt động thuỷ sản; điều tra, bảo vệ và phát triển nguồn lợi thuỷ sản (Điều 3
Luật Thủy sản 2004). Khai thác thuỷ sảnlà việc khai thác nguồn lợi thuỷ sản trên
biển, sông, hồ, đầm, phá và các vùng nước tự nhiên khác. Nuôi trồng thủy sản là

được quy hoạch và công bố; vi phạm các quy định trong quy chế quản lý khu bảo
tồn hoặc vi phạm các quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường đối với môi trường
sống của các loài thuỷ sản.

8


- Sản xuất, lưu hành, sử dụng ngư cụ bị cấm; sử dụng loại nghề bị cấm để khai
thác thuỷ sản; sử dụng các loại chất nổ, chất độc, xung điện và các phương pháp có
tính huỷ diệt khác; Sử dụng các ngư cụ làm cản trở hoặc gây thiệt hại cho tổ chức,
cá nhân khác đang khai thác; thả neo, đậu tàu tại nơi có ngư cụ của tổ chức, cá nhân
khác đang khai thác hoặc nơi tàu cá khác ra dấu hiệu đang khai thác, trừ trường hợp
bất khả kháng hoặc vứt bỏ ngư cụ xuống vùng nước tự nhiên, trừ trường hợp bất
khả kháng.
- Chuyển mục đích sử dụng đất, mặt nước biển để nuôi trồng thuỷ sản đã được
giao, cho thuê mà không được phép hoặc nuôi trồng thuỷ sản không theo quy hoạch
làm cản trở dòng chảy, cản trở hoạt động khai thác thuỷ sản, ảnh hưởng xấu đến
hoạt động của các ngành, nghề khác;
- Sử dụng thuốc, phụ gia, hoá chấtthuộc danh mục cấm sử dụngđể nuôi trồng
thủy sản, sản xuất thức ăn nuôi trồng thủy sản, chế biến, bảo quản thuỷ sản; đưa tạp
chất vào nguyên liệu, sản phẩm thuỷ sản.
- Chế biến, vận chuyển hoặc đưa ra thị trường các loài thuỷ sản thuộc danh
mục cấm khai thác; thuỷ sản có xuất xứ ở vùng nuôi trồng trong thời gian bị cấm
thu hoạch; thuỷ sản có dư lượng các chất độc hại vượt quá giới hạn cho phép; thuỷ
sản có độc tố tự nhiên gây nguy hiểm đến tính mạng con người, trừ trường hợp
được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép; Xuất khẩu, nhập khẩu hàng hoá
thuỷ sản thuộc danh mục cấm xuất khẩu, nhập khẩu.
* Về vai trò của hoạt động thủy sản:
Nguồn lợi thủy sản có vai trò rất quan trọng trong đời sống của con người
cũng như cho môi trường tự nhiên và giá trị kinh tế, giá trị khoa học cũng như giá

bền bỉ phấn đấu, phát triển từ một lĩnh vực sản xuất nhỏ, vươn lên trở thành một
ngành kinh tế mũi nhọn quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, đạt tốc độ tăng
trưởng cao nhất trong khối nông, lâm, thủy sản (năm 2007 đạt mức tăng 11%), đem
lại nguồn thu ngoại tệ lớn cho đất nước. Tổng sản lượng thủy sản trong 5 năm gần
đây tăng từ 2,41 triệu tấn lên 4,15 triệu tấn; khai thác thủy sản tăng từ 1,43 triệu tấn
lên 2,05 triệu tấn; sản lượng nuôi trồng thủy sản tăng từ 0,98 triệu tấn lên 2,10 triệu
tấn; kim ngạch xuất khẩu thủy sản tăng từ 2,01 tỷ USD lên 3,76 tỷ USD. Số lượng
tàu thuyền công suất trên 90 CV của Ngành tăng nhanh, từ 1.000 tàu (1997) lên

10


14.000 tàu (2007), tỷ trọng khai thác xa bờ chiếm gần 40% tổng sản lượng thủy sản
khai thác. Nghề cá Việt Nam đã đạt được vị trí cao trong cộng đồng nghề cá thế
giới, đứng thứ 12 về khai thác thủy sản, thứ 3 về nuôi trồng thủy sản và thứ 7 về giá
trị xuất khẩu thủy sản. Hàng chục cảng cá đã được xây dựng và đưa vào sử dụng tại
các địa phương ven biển và nhiều đảo lớn trên các vùng biển của đất nước... Sự phát
triển nhanh, bền vững của kinh tế thủy sản, đặc biệt là sự lớn mạnh của lực lượng
sản xuất, nuôi trồng, khai thác thủy sản và các cơ sở hạ tầng nghề cá đã giúp cho
đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội của bà con ngư dân được cải thiện rõ rệt; đồng
thời, góp phần xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân
trên biển và các địa bàn ven biển, hải đảo ngày càng vững chắc.
Thực hiện mục tiêu phát triển đất nước mà Đại hội Đảng X và Nghị quyết
Trung ương 4 (khóa X) về Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020 đã đề ra: “Phấn
đấu đưa nước ta trở thành quốc gia mạnh về biển, làm giàu từ biển, bảo đảm vững
chắc chủ quyền, quyền chủ quyền quốc gia trên biển, đảo, góp phần quan trọng
trong sự nghiệp CNH, HĐH làm cho đất nước giàu mạnh"; “Phấn đấu đến năm
2020, kinh tế trên biển và ven biển đóng góp khoảng 53-55% tổng GDP của cả
nước", ngành thủy sản xác định phương hướng chiến lược phát triển trong giai đoạn
tới là: phát huy lợi thế để xây dựng Ngành thành một trong những ngành góp phần

kinh doanh, tăng thu nhập của bà con ngư dân. Chú trọng tổng kết, đánh giá các mô
hình tổ, đội, hợp tác sản xuất trên biển của các địa phương, qua đó có những chính
sách khuyến khích và hỗ trợ lao động; đồng thời, phổ biến, nhân rộng các mô hình
sản xuất đem lại hiệu quả kinh tế cao trong phạm vi cả nước. Phát triển mô hình
đồng quản lý nhằm nâng cao tính chủ động, tự giác, sáng tạo của ngư dân trong sản
xuất và chế biến thủy, hải sản..., tạo thêm động lực giúp bà con yên tâm đẩy mạnh
sản xuất, bám biển, bám nghề, góp phần xây dựng và bảo vệ quê hương, đất nước.
Thủy sản là một ngành kinh tế quốc dân quan trọng, hoạt động trải rộng trên
khắp các vùng biển và ven biển của Tổ quốc, luôn có quan hệ mật thiết với vấn đề
bảo vệ nguồn lợi biển, bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ Việt Nam trên hướng
biển, nên sự phát triển của hoạt động thủy sản luôn gắn bó hữu cơ với việc xây
dựng tiềm lực quốc phòng-an ninh, củng cố thế trận quốc phòng toàn dân trên từng
vùng biển, ven biển, hải đảo và của cả nước. Sự kết hợp phát triển kinh tế biển với
tăng cường bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc được thể hiện rõ trong các quy

12


hoạch, kế hoạch phát triển của Ngành, nhất là trong đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng
nghề cá, phát triển các đội tàu, thuyền đánh bắt hải sản của các doanh nghiệp và các
hợp tác xã nghề cá; trong nghiên cứu khoa học sông, biển, hải đảo và đào tạo, phát
triển nguồn nhân lực; trong xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận
an ninh nhân dân trên các vùng biển, hải đảo và ven biển. Sự kết hợp kinh tế biển
với anh ninh quốc phòng còn được thể hiện cụ thể trong các hoạt động kiểm tra,
giám sát, thực thi pháp luật và giữ gìn an ninh, trật tự trên biển. Với hơn 4 triệu lao
động và hàng chục ngàn tàu, thuyền hoạt động trên các vùng biển chủ quyền của
nước ta, nhất là trên vùng biển thuộc quần đảo Trường Sa, Hoàng Sa..., là yếu tố
quan trọng tạo nên thế trận quốc phòng toàn dân trên biển, góp phần canh giữ và
bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc. Nó cũng được thể hiện trong các hoạt
động phối hợp cứu hộ, cứu nạn, ngăn chặn âm mưu và các hành động gây rối, xâm

trường nước.
Thông thường có 2 loại hình ô nhiễm do hoạt động thủy sản ven biển là ô
nhiễm môi trường đầm nuôi và bên ngoài đầm nuôi. Ô nhiễm môi trường đầm nuôi
bị hình thành trong quá trình nuôi như các chất thải từ thức ăn và các hoá chất tích
tụ ở đáy đầm nuôi tạo thành một lớp bùn ô nhiễm. Thành phần lớp bùn chủ yếu là
các chất hữu cơ như prôtêin, lipids, axit béo với công thức chung
CH3(CH2)nCOOH, photpholipids, Sterol - vitamin D3, các hoocmon, carbohydrate,
chất khoáng và vitamin, vỏ tôm lột xác,... Lớp bùn này luôn ở trong tình trạng ngập
nước, yếm khí, các vi sinh vật yếm khí phát triển mạnh, phân huỷ các hợp chất trên
tạo thành các sản phẩm là hydrosulphua (H2S), Amonia (NH3), khí metan (CH4),...
rất có hại cho thuỷ sinh vật, ví dụ nồng độ 1,3 ppm của H2S có thể gây sốc, tê liệt
và thậm chí gây chết tôm. Khí amonia (NH3) cũng được sinh ra từ quá trình phân
huỷ yếm khí thức ăn tồn dư gây độc trực tiếp cho tôm, làm ảnh hưởng đến độ pH
của nước và kìm hãm sự phát triển của thực vật phù du. Ô nhiễm môi trường bên
ngoài đầm nuôi được sản sinh từ nguồn thức ăn, phân bón, thuốc thú y thủy sản,
trong quá trình chăn nuôi thải ra bên ngoài đầm nuôi. Các chất ô nhiễm chủ yếu
gồm: Các-bon hữu cơ (gồm thức ăn, phân bón v.v…), Nitơ được phân huỷ từ các
prôtêin, Phốtpho phân huỷ từ các prôtêin. Nồng độ các chất ô nhiễm trên được biểu
thị bởi một số chỉ tiêu chung như chỉ tiêu nhu cầu ôxy hoá sinh - BOD
(Biochemical Oxygen Demand), tổng Nitơ (NT) và tổng Phôtpho (TP).

14


Chất thải trong nuôi trồng thủy sản là bùn thải chứa phân của các loài thủy
sản tôm cá, các nguồn thức ăn dư thừa thối rữa bị phân hủy, các chất tồn dư của
các loại vật tư sử dụng trong nuôi trồng như: hóa chất, vôi và các loại khoáng chất
Diatomit, Dolomit, lưu huỳnh lắng đọng, các chất độc hại có trong đất phèn Fe,
Fe3+, Al3+, SO42-, các thành phần chứa H2S, NH3,... là sản phẩm của quá trình phân
hủy yếm khí ngập nước tạo thành, nguồn bùn phù sa lắng đọng trong các ao nuôi

Mecaptan…thải ra trong quá trình vệ sinh và nạo vét ao nuôi tác động xấu đến môi
trường xung quanh, ảnh hưởng đến chất lượng thủy sản nuôi trồng. Thành phần bùn
thải nuôi tôm công nghiệp có chứa khoảng 29,5%, Si 27.842mg/kg, Ca 13.256
mg/kg, K 5.642 mg/kg, Fe 11.210 mg/kg, H2S 8,3mg/kg, N-NH3 36,1mg/kg, N-NO3
0,3mg/kg, N-NO2 0,1mg/kg, PO4 1,8mg/kg, bùn thải đáy ao nuôi cá tra có thành
phần pH 4,37-5,39, TOC 1,56-1,89%, tích tụ khoảng 24% nitơ và 24% phốt pho,
trong bùn đáy ao nuôi tổng N 0,131-0,186%, tổng P 0,124-0,181%… là nguồn gây
ô nhiễm môi trường khá nghiêm trọng cần phải được xử lý triệt để nhằm phát triển
bền vững nghề nuôi trồng thủy sản ở đồng bằng sông Cửu Long.
Bên cạnh đó, nước thải nuôi trồng thủy sản cũng chứa các thành phần độc
hại có thể gây ô nhiễm môi trường cần được xử lý. Nước thải nuôi tôm công nghiệp
có hàm lượng các chất hữu cơ cao (BOD5 12 - 35mg/l, COD 20 - 50mg/l), các chất
dinh dưỡng (photpho, nitơ), chất rắn lơ lửng (12 - 70mg/l), ammoniac (0,5 - 1mg/l),
coliforms (2,5.102 -3.104 MNP/100ml). Nước thải nuôi cá trê lai có thành phần
BOD5 56mg/l, COD 118mg/l, tổng N 11,50 mg/l, tổng P 5,02 mg/l. Nước thải nuôi
cá tra có thành phần BOD5 50mg/l, COD 112mg/l, tổng N 4,81 mg/l, tổng P 2,17
mg/l. Nguồn nước thải nuôi trồng thủy sản trong một vụ nuôi (nuôi tôm thường 2
vụ/năm, nuôi cá 1 vụ/năm) có thể đạt đến 15.000 - 25.000 m3/ha tùy thuộc vào quy
trình nuôi các loại thủy sản... có chứa nhiều thành phần độc hại và các nguồn dịch
bệnh phải được xử lý triệt để trước khi thải ra nguồn tiếp nhận.
Nước thải trong ngành chế biến thủy sản là nguồn nước thải từ nước rửa
nguyên liệu, sơ chế nguyên liệu, chế biến sản phẩm, các nguồn nước vệ sinh nhà
xưởng sản xuất, nước rửa máy móc thiết bị, dụng cụ sản xuất trong các phân xưởng
nhà máy chế biến thủy sản với thành phần như sau: BOD5 khoảng 800 - 2.000mg/l,
có lúc đạt đến 4.500mg/l. COD khoảng 1.000 - 2.500mg/l, có lúc đạt đến 5.000mg/l,
chất rắn lơ lửng (SS) khoảng 300 - 600mg/l, nitơ tổng số (Nt) khoảng 100 -

16



17


huỳnh quang thải, giẻ lau máy dính dầu thải, cặn dầu nhiễm hoá chất… phải được
thu gom và xử lý theo quy định về quản lý chất thải nguy hại [25].
Như vậy, hoạt động thủy sản ở nước ta đang đặt ra nhiều khó khăn, thách
thức trong việc thực hiện quản lý môi trường. Những khó khăn chính là về thể chế
chính sách, cơ chế phối hợp giữa các ngành, trình độ và khả năng quản lý của cán
bộ, trình độ khoa học kỹ thuật, ý thức bảo vệ môi trường và khả năng áp dụng công
nghệ của người nuôi. Những khó khăn này không tác động đến hiệu quả của việc
quản lý môi trường một cách riêng lẻ mà chúng tương tác với nhau. Chẳng hạn, tài
nguyên nước vùng biển do rất nhiều ngành sử dụng và quản lý. Mỗi ngành, mỗi cấp
có những chính sách quản lý khác nhau, sự phối hợp giữa các ngành trong việc sử
dụng và quản lý tài nguyên nước. Mặt khác, các hoạt động kinh tế - xã hội thường
độc lập với các hoạt động bảo vệ môi trường, do vậy các dự án thường chỉ nhằm
phục vụ mục tiêu trước mắt mà chưa tính đến tính bền vững của các hoạt động phát
triển vùng biển. Trong nuôi trồng thủy sản ven biển, vấn đề quy hoạch là một trong
những hoạt động có ảnh hưởng đến quản lý môi trường. Trong những năm qua,
nhiều dự án nuôi trồng thủy sản vùng ven biển đã được triển khai rộng khắp trên cả
nước. Tuy nhiên, một số vùng đã có quy hoạch nuôi trồng thủy sản, nhưng do thiếu
vốn nên dự án quy hoạch chậm triển khai, dẫn đến phát triển tự phát.
1.2. Khái quát về pháp luật bảo vệ môi trường trong hoạt động thủy sản
1.2.1. Khái niệm và vai trò của pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động
thủy sản
* Khái niệm pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động thủy sản
Pháp luật là một hiện tượng vừa mang tính giai cấp lại vừa thể hiện tính xã
hội, là hệ thống các quy tắc do Nhà nước ban hành và bảo đảm thể hiện ý chí của
giai cấp thống trị trong xã hội, là yếu tố điều chỉnh các quan hệ xã hội. Trong mối
quan hệ này, đường lối chính sách của Đảng giữ vai trò chủ đạo chỉ đạo phương
hướng xây dựng pháp luật, chỉ đạo nội dung pháp luật, chỉ đạo tổ chức thực hiện và


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status