LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN THƠ MỚI VÀ SỰ ĐỔI MỚI NGHỆ THUẬT THƠ TRONG THƠ VIỆT NAM HIỆN ĐẠI - Pdf 55

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BÙI QUANG TUYẾN

THƠ MỚI VÀ SỰ ĐỔI MỚI NGHỆ THUẬT THƠ
TRONG THƠ VIỆT NAM HIỆN ĐẠI

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - 2001



LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu, kết quả nêu
trong Luận án là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác.


MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN ........................................................................................................ 3
MỤC LỤC .................................................................................................................... 4
PHẦN DẪN NHẬP ...................................................................................................... 5
1. Tính cấp thiết của đề tài: ...............................................................................................5
2. Lịch sử vấn đề : ...............................................................................................................6
3. Mục đích, ý nghĩa: ........................................................................................................22
4. Phương pháp nghiên cứu: ............................................................................................22
5. Giới hạn đề tài, phạm vi nghiên cứu:..........................................................................23
6. Cấu trúc luận án: ..........................................................................................................23
7. Đóng góp mới của luận án: ..........................................................................................24

hiện đại hóa thơ ca Việt Nam. Đó là một phong trào cải cách, đổi mới thơ ca về thi hứng và thi
pháp, đánh dấu sự chuyển biến của một nền thơ ca từng ngự trị lâu đời trên thi đàn dân tộc, tạo
nên bước ngoặt lịch sử, đưa thơ ca Việt Nam từ loại hình cổ điển bước vào loại hình hiện đại,
góp phần đặt nền móng cho thơ ca hôm nay. Có thể nói, với ““Thơ Mới””, thơ ca Việt Nam
bước tới sự hội nhập với thơ ca hiện đại thế giới, cùng với thơ ca thế giới đi sâu khám phá
những giá trị nhân văn phức tạp, đa dạng của con người thế kỷ XX. Ý kiến của nhiều nhà
nghiên cứu đều cho rằng, “Thơ Mới” là một hiện tượng văn học có giá trị trong nửa đầu thế kỷ
XX.
1.2. Mặt khác, đây là một hiện tượng văn học phức tạp, từng gây ra nhiều cuộc thảo luận,
tranh luận sôi nổi, hấp dẫn sự quan tâm của các nhà nghiên cứu trong một thời kỳ lịch sử khá
dài. Những cuộc thảo luận, tranh luận không chỉ dừng lại trong phạm vi văn học nghệ thuật
mà còn mang ý nghĩa về xã hội, chính trị, tư tưởng. Cũng như vấn đề Truyện Kiều trước nó,
“Thơ Mới” tạo ra những cuộc tranh luận, thảo luận nối tiếp nhau, mỗi lần như thế vấn đề lại
càng nâng cao càng mở rộng. “Thơ Mới” có một số phận thăng trầm trong một quá trình tiếp
nhận, với nhiều quan điểm xem xét, đánh giá khác nhau, tùy theo góc độ lựa chọn của mỗi độc
giả, mỗi nhà nghiên cứu, tùy theo tâm lý xã hội và yêu cầu chủ đạo của mỗi giai đoạn lịch sử.
Cho đến hôm nay, vấn đề nhận định, đánh giá “Thơ Mới”, cũng chưa phải đã thống nhất. Có
thể nói, nhìn chung việc đánh giá hiện tượng “Thơ Mới” tuân theo một tiến trình khá biện
chứng: phủ định - khẳng định rồi lại phủ định - khẳng định. Do vậy, dù đã trải qua 70 năm
được nghiên cứu, đánh giá đặc biệt là trong 10 năm đổi mói vừa qua, “Thơ Mới” vẫn còn là
một vấn đề cần được nghiên cứu, lý giải thêm.
1.3. “Thơ Mới” được đưa vào giáo trình Đại học, sách giáo khoa môn Văn ở trường
Trung học Phổ thông. Chỉ trong phạm vi nhà trường, giữa các thầy giáo với nhau, về “Thơ
Mới” vẫn còn có những ý kiến khác nhau. Là một nhà giáo giảng dạy văn học ở trường Trung
học, trong đó có giảng dạy “Thơ Mới”, trong nhiều quan điểm chúng tôi mong muốn chọn
quan điểm được cho là xác đáng và hợp lý nhất để lý giải hiện tượng văn chương này. Song
đây chắc chắn chưa phải là ý kiến cuối cùng mà chỉ là cái hướng tìm hiểu một phong trào thơ
ca. Sở dĩ có ý định táo bạo như thế là do chúng tôi tiếp thu những ý kiến, những bài học về



khác: một lòng tin đầy đủ" (tr. 46). Đây là một nhận xét xác đáng, khách quan của tác giả.


Phê bình về “Thơ Mới” cũng có thể kể đến Vũ Ngọc Phan với Nhà văn hiện đại
(1942). Trong Nhà văn hiện đại, tác giả dành 70/1266 trang (từ tr. 699 - 769) để viết về các
nhà “Thơ Mới” (trong đó 6 trang cho nhận định tổng quát về sự đổi mới thơ), những trang còn
lại viết về 10 nhà thơ mà tác giả cho là "tiêu biểu cho những áng “Thơ Mới”. Về sự đổi mói
của “Thơ Mới” , tác giả cho rằng tinh thần của nó là "nguồn hứng" mới hay ở "ý rất mới". Vì
rằng "các thi gia hiện đại chả dùng nhiều thể lục bát, thể thất ngôn và ngũ ngôn, trường thiên
là gì? Những bài ấy gọi là “Thơ Mới” vì "ý rất mới" rồi "những thể thơ mà bây giờ người ta
cho là mới xét ra đều xuất nhập ở các lối thi ca từ khúc cũ, thơ tám chữ chẳng qua chỉ là biến
thể của lối hát ả đào" Từ đó tác giả đi đến kết luận: "Vậy cái chữ "mới" mà người ta tặng cho
thơ bây giờ có lẽ để chỉ vào ý và lời thì dùng hơn là chỉ vào thể" [88 tr.699]. Mặt khác khi
phân tích mười nhà thơ mà tác giả cho là tiêu biểu cho phong trào, tác giả khai thác ở góc độ
nguồn hứng mới. Với Thế Lữ, tác giả cho rằng: "Ái tình tạo vật, rồi sầu man mác, đó là những
nguồn hứng không cùng ở ông" (tr.749). Về Thánh nữ đồng trinh Maria của Hàn Mặc Tử, tác
giả khẳng định: "Lần này cũng là lần đầu thi ca Việt Nam thấy được nguồn hứng mới" (tr.
768). Với Xuân Diệu thì: "những nguồn hứng mới: yêu đương và tuổi xuân dù lúc vui hay lúc
buồn, cũng ru thanh niên bằng giọng yêu đời thắm thía" (tr. 775). Còn những nhận xét như
thế này thật hiếm: "Cũng là lục bát mà những câu lục bát "Tiếng sáo Thiên Thai" thật khác
hẳn với những câu lục bát thuở xưa".
Dương Quảng Hàm trong Việt Nam Văn học Sử yếu (1942) cũng đánh giá cao các nhà
“Thơ Mới” . Trong chương 6 "Vềmấy thi sĩ hiện đại", tác giả cho rằng các nhà “Thơ Mới” "là
người có biệt tài và có tâm hồn thi sĩ” họ "không những muốn cải cách lối thơ về đường hình
thức mà cũng có cái hoài bão đổi mới lối thơ về đường tinh thần" [43, tr. 439]. Theo ông,
“Thơ Mới” đã có sự đổi mới về hình thức (thể cách) ở các mặt "số câu trong bài và trong
khổ", "số chữ trong câu", "cách hiệp vần và điệu thơ" [tr. 431-432- 433-434]. Và cũng theo
ông, “Thơ Mới” , mới ở đề mục và thi hứng, bởi vì họ quan niệm: Thơ phải là "cây đàn muôn
điệu" để gẫy lên các âm thanh trong lòng người và "cây bút muôn màu", để vẽ đủ các hình sắc
trong tạo vật.

tr. 21]. (Theo chúng tôi tắt cả đánh giá này chưa vượt qua Thi Nhân Việt Nam - Hoài Thanh Hoài Chân). Các công trình nghiên cứu hầu như đặc biệt chú trọng về sự đổi mới hình thức
thơ (kỹ thuật). Minh Huy đưa ra "Luật “Thơ Mới”" [52, tr. 9]: "Luật bằng trắc" và "cách gieo
vần" trên một chừng mực nhất định để áp dụng cho các thể “Thơ Mới”. Vũ Văn Thanh cho
rằng: "“Thơ Mới” linh động hơn Cổ phong, lời lẽ thường nhẹ nhàng, uyển chuyển và đặt câu
cũng có phần gọn gàng, phù hợp với thời gian tính" [112, tr. 121]. Phạm Thế Ngũ cho rằng:
"Câu thơ không hạn định số chữ và không theo thanh luật, bài thơ không hạn định số câu,
phân khổ tùy ý, vần gieo theo mấy kiểu vần trong thơ Pháp. Cách đặt câu và ngắt câu phóng
túng" [82, tr. 92- 93- 97]. Có thể xem nhận định của Phạm Thế Ngũ cũng là ý kiến chung của
các nhà nghiên cứu đương thời về thể cách “Thơ Mới” . Thể cách “Thơ Mới” ảnh hưởng thơ
Pháp song đó chỉ là bước đầu, các nhà nghiên cứu còn nhận thấy rằng về sau " chúng ta chỉ rút
ra từ thi luật Pháp những điểm hay những cách gieo vần, tréo, ôm, tiếp, những lối choàng,
thông trong thơ làm cho câu thơ biến hóa thêm tiết điệu, thêm thơ" [53, tr. 31].
Nhìn chung, tình hình nghiên cứu “Thơ Mới” tại các vùng tạm chiếm giai đoạn này khá
sôi nổi nhiều về số lượng, có những tác giả áp dụng các phương pháp nghiên cứu "mới" như:
ấn tượng, khách quan, thực chứng, phân tâm, cấu trúc... tạo nên một nguồn tài liệu dồi dào cho
các công trình nghiên cứu sau này. Song các công trình nặng về khái quát văn học sử.
2.2.3. Sau ngày thống nhất và trong thời kỳ đổi mới


Sau 1975 đất nước hoàn toàn thống nhất, điều kiện nghiên cứu văn học có thuận lợi hơn.
Song phạm vi đề tài nghiên cứu được tập trung chung quanh những tác phẩm phản ánh hai
cuộc kháng chiến yêu nước vừa qua. Tình hình nghiên cứu “Thơ Mới” chưa thực sự khỏi sắc,
việc đánh giá, thừa nhận sự đóng góp thì cũng tỏ ra dè dặt. Chẳng hạn, trong Thêm một vài lời
về quyển Thi nhân Việt Nam (1932 - 1945) Hoài Thanh suy nghĩ "Ngày nay hòa bình lập lại,
hoàn cảnh đã đổi khác. Trong hoàn cảnh đổi mới, nên chăng nhìn lại Thi nhân Việt Nam một
cách khác? Tôi nghĩ chúng ta sẽ tiếp tục trân trọng phần hay, phần đẹp trong “Thơ Mới” như
ta vẫn nhận định trước đây. Những phần ấy không phải phần chính. Phần chính là thơ xuôi
tay và nước chảy xuôi dòng" [106, tr. 168]. Còn trong Phong trào “Thơ Mới” của Phan Cự Đệ
in lại 1982 có quan tâm hơn đến mặt tích cực của “Thơ Mới” nhưng về cơ bản, trong phần nói
về nhược điểm tác giả vẫn cho rằng “Thơ Mới” "nguy hại lâu dài và khó chữa", "có hại cho

đắc của ông với quan niệm thẩm mỹ của nhà thơ Pháp thế kỷ XIX: Quan niệm "tương ứng các
giác quan" (Correspondance de sens) [40, tr 28]. Còn Đỗ Đức Hiểu thấy " Vũ Hoàng Chương
nhập thân vào ngôn từ quay cuồng của tinh thần đô thị, đức tính hiện đại của Baudelaire" [48,
tr. 140]. Hiện đại, siêu thực nhưng đầy tinh thần sáng tạo và rất Việt Nam. Do vậy khi nói siêu
thực của Hàn Mạc Tử, Chế Lan Viên nhận xét "Siêu thực Châu Âu là siêu thực vì bộ óc. Hàn
Mạc Tử thì vì nàng đánh tôi đau quá". Hoàng Nhân cho rằng: "Ở Hàn Mạc Tử vẫn đậm đà
bản sắc của một tâm hồn thơ Việt Nam" [84, tr. 111]. Với vốn hiểu biết phong phú, tinh thần
nghiên cứu khoa học, các tác giả đã chỉ ra điểm ảnh hưởng đồng thời phát hiện tinh thần sáng
tạo và khẳng định hồn thơ đậm đà dân tộc của các nhà “Thơ Mới”.
Ảnh hưởng Văn học Pháp đến Văn học Việt Nam 1930 - 1945 đặc biệt là với “Thơ Mới”
đã được Hoài Thanh, Hoài Chân đề cập đến trong tiểu luận nổi tiếng "Một thời đại trong thi
ca" để cho đến bây giờ trong không khí dân chủ hóa, các nhà nghiên cứu có điều kiện trở lại
vấn đề rộng hơn, sâu hơn, có những đánh giá khách quan và thỏa đáng.
Những năm gần đây thi pháp học hiện đại được các nhà nghiên cứu sử dụng làm công cụ
khám phá văn chương : như Quan niệm nghệ thuật về con người, hình tượng tác giả, thời gian
nghệ thuật, không gian nghệ thuật, điểm nhìn nghệ thuật. Nghiên cứu về “Thơ Mới” có các
bài : Vài cảm nhận về không gian nghệ thuật trong “Thơ Mới” - (Nguyễn Kim Đính). Thời
gian nghệ thuật trong thơ (“Thơ Mới” 1932-1945), Quan niệm nghệ thuật về con người trong
thơ Xuân Diệu (Qua hai tập: Thơ Thơ và Gửi Hương cho gió) của (Nguyễn Thị Hồng
Nam) Thế giới không gian nghệ thuật của Xuân Diệu qua Thơ Thơ và Gửi Hương cho gió
- (Lý Hoài Thu), Cảm xúc thời gian trong thơ Xuân Diệu - (Lê Quang Hưng), Nghệ thuật cấu
tứ trong thơ tình - Xuân Diệu - (Lưu Khánh Thơ), Thời gian nghệ thuật thơ Chế Lan Viên
- (Đoàn Trọng Huy), Chế Lan Viên với cái nhìn nghệ thuật trong thơ - (Huỳnh Văn Hoa). Đây
là hướng nghiên cứu có nhiều phát hiện mới mẻ trên bình diện đổi mới thi hứng, tuy nhiên các
bài còn tập trung một số bài thơ, tập thơ, nhà thơ.


Nghiên cứu theo đề tài, chủ đề chẳng hạn như: Thiên nhiên như một biểu hiện của cái tôi
trữ tình trong “Thơ Mới” (Phan Huy Dũng), Sự trở về với cái tôi - một đóng góp của “Thơ
Mới” lãng mạn (Phạm Quang Long), Về cái buồn của “Thơ Mới” (Hoài Chân) là những chủ

cuộc đời. Thơ sẽ gần gũi, gắn sát với đời hơn" [67, tr. 69]. Và cũng theo tác giả "sự sống lại
những giá trị “Thơ Mới” sau hơn nửa thế kỷ chìm nổi là hiện tượng tự nhiên, phù hợp với quy
luật của cuộc sống và nghệ thuật" [tr. 71].
Lam Giang trong Khảo luận về Thơ, (1994) đã đi sâu khám phá luật “Thơ Mới”, đặc biệt
thể 8 chữ và cho rằng "khi sử dụng câu thơ tám chữ một sáng chế quý báu của phong trào


“Thơ Mới” , người làm thơ tự nhiên và mặc nhiên ứng dụng luật quân bình tam phân" Tác giả
còn cố gắng tìm kiếm những đóng góp khác của “Thơ Mới” như: "Thơ hai chữ, thơ nhạc, thơ
bình thanh, điệp khúc, song tuyệt, tam tuyệt" [39, tr. 106-112-116-125] trong mối quan hệ với
hình thức thơ Pháp.
Nguyễn Bá Thành trong Tư duy Thơ và tư duy thơ Hiện đại Việt Nam (1996) đã đặt “Thơ
Mới” dưới góc độ tư duy mới và cho rằng tư duy thơ được tự do khi chủ thể thật sự tự do
không bị ràng buộc bởi mọi thứ tư tưởng giáo điều và các quyền tự do cá nhân được bảo đảm;
tư duy “Thơ Mới” được mở rộng, "không còn tuân theo khuôn sáo về hình thức và đạo lý về
nội dung nữa mà nó tuân theo những tình cảm chủ thể" [114, t.r 139]; là một đóng góp lớn
cho thơ ca hiện đại nhằm khám phá chiều sâu tâm linh con người.
Lê Đình Kỵ trong chuyên luận “Thơ Mới” - Những bước thăng trầm (1993) đã so sánh
về mặt loại hình giữa Thơ cũ và “Thơ Mới” để chỉ ra nhưng đổi mới trên cả hai phương diện
hình thức biểu hiện cũng như nội dung cảm hứng. Từ đó đi đến khẳng định đầy tính thuyết
phục rằng "“Thơ Mới” đã đánh dấu một bước phát triển quan trọng xét về mặt nào đó là một
cuộc cách mạng trong tiến trình thơ Việt Nam hiện đại, đưa thi ca cổ điển Việt Nam đạt đến
hiện đại cả về mặt biểu hiện cũng như cảm hứng thi ca" [61, tr. 136]. Trên tinh thần khách
quan và khoa học, tác giả thừa nhận “Thơ Mới” có những đóng góp lớn và yêu cầu đánh giá
“Thơ Mới” đúng mức.
Nguyễn Quốc Túy với “Thơ Mới”, Bình minh thơ Việt Nam hiện đại (1994) đã nghiên
cứu “Thơ Mới” dưới góc độ ảnh hưởng tổng hợp các nền văn hóa: Văn hóa Phương Tây (Thơ
Pháp), Văn hóa Phương Đông (Thơ Đường), thơ trung đại, Văn hóa dân gian Việt Nam (ca
dao, dân ca). Từ đó đi đến kết luận rằng “Thơ Mới” là bình minh thơ Việt Nam hiện đại, "một
nền thơ đa giọng điệu, nhiều trường phái, lắm phong cách" [127, tr. 36- 38]

là đã giải phóng câu thơ, tạo dáng lại câu thơ Tiếng Việt. Thứ hai, nhãn quan mới về con
người và thế giới. Có thể nói cuộc đi tìm cái tôi với một nhãn quan mới làm nên sự phong phú
của “Thơ Mới”. Thứ ba, nhãn quan tạo hình mới trong thơ với cái nhìn hướng ngoại. Cái nhìn
hướng ngoại của “Thơ Mới” là một thi pháp mới có nhiều biểu hiện đa dạng. Nghiên cứu
“Thơ Mới” ở góc độ nhãn quan mới tác giả đã mở ra nhiều chiêu kích để đi sâu khám phá một
thế giới nghệ thuật thơ phong phú và đa dạng góp một tiếng nói khoa học, khách quan khi
đánh giá một hiện tượng văn chương.
Tiếp cận “Thơ Mới” từ hướng thi pháp học, Đỗ Đức Hiểu trong “Thơ Mới”, cuộc nổi
loạn của ngôn từ thơ đã phân tích tinh tế để đưa ra những kết luận về sự đóng góp của “Thơ Mới”
trên phương diện ngôn ngữ. Và tác giả cho rằng “Thơ Mới” sáng tạo một hệ thống ngôn từ mới. Ngôn
từf “Thơ Mới” là "bản giao hưởng chưa từng thấy'' [48, tr. 141].


Tiếp cận “Thơ Mới” từ phong cách tác giả, Đỗ Lai Thúy trong chuyên luận Con mắt
thơ đã đi sâu khám phá thế giới nghệ thuật “Thơ Mới”. Với một năng lực cảm thụ văn chương
tinh tế kết hợp với tư duy khoa học phần nào thiên về triết học, tác giả đã phân tích chỉ ra
những phong cách độc đáo của từng cái tôi trong làng “Thơ Mới”: “Thế Lữ, người bộ hành
phiêu lãng”, "Xuân Diệu, sự ám ảnh thời gian", "Huy Cận, nỗi khắc khoải không gian ",
"Nguyễn Bính, Đường về chân quê", "Vũ Hoàng Chương, Đào nguyên lạc lối", "Hàn Mặc Tử,
một tư duy thơ độc đáo (tính trữ tình + tư duy tôn giáo + yếu tố cá nhân hiện đại)", “Bích Khê,
sự thức nhận ngôn từ” [124, tr. 25 – 47 – 71 – 93 – 115 - 143 - 167] tất cả hòa quyện tạo nên
cái tôi - “Thơ Mới” làm nên một thời đại thi ca.
Nhìn chung tình hình nghiên cứu “Thơ Mới” gần 70 năm qua rất phong phú, đa dạng.
Trước 1945, nhiều công trình phê bình về “Thơ Mới” mà tiêu biểu là bản tổng kết rất thông
minh và xác đáng của Hoài Thanh, Hoài Chân trong Thi nhân Việt Nam. Hai tác giả cho rằng,
“Thơ Mới” là một thời đại trong thi ca, bởi các ông đã thấy “Thơ Mới” đã đổi mới thi tứ và thi
thể. Song các ông cũng chỉ dừng lại ở mức độ một bản tổng kết, chưa đi sâu vào các chi tiết
như hình dáng câu thơ, vần thơ, ngữ pháp, cú pháp, cũng như quá trình vận động cái tôi. Trong
cuộc kháng chiến lần thứ nhất (1946 - 1954), “Thơ Mới” như chìm vào quên lãng. Suốt cuộc
kháng chiến lần thứ hai, “Thơ Mới” vẫn bị đánh giá thấp, bị phê phán nặng nề về mặt tư

tìm lời giải đáp thỏa đáng sau bao nhiêu tranh luận trước kia cũng như bây giờ. Trả lời “Thơ
Mới” là thế nào? Là cái gì? Cái mới tập trung ở chỗ nào? Đổi mới ở mức độ nào? Tránh sự phủ
nhận, mạt sát quá đáng đồng thời cũng tránh sự ca ngợi, chỉ thấy “Thơ Mới” là hiện tượng thơ
ca duy nhất có giá trị nửa đầu thế kỷ XX.
3.2. Từ những thành tựu của các bậc thầy đi trước, chúng tôi đưa ra ý kiến có thể chấp
nhận vào thời điểm cuối thế kỷ XX có điều kiện giáo dục thế hệ trẻ nhận thức đúng đắn về
phong trào “Thơ Mới”, đồng thời góp tiếng nói khoa học và khách quan về hiện tượng thơ ca
có giá trị nửa đầu thế kỷ XX.

4. Phương pháp nghiên cứu:
4.1. Nghiên cứu đề tài này chúng tôi không thoát ly khỏi phương pháp truyền thống,
xem thơ ca là hiện tượng văn học gắn liền với đời sống xã hội. Thơ là tiếng nói ý thức, tâm tư
con người trong hoàn cảnh xã hội cụ thể, là sự phản ánh tâm lý xã hội nên thơ chuyển biển
theo xã hội. Xét phong trào “Thơ Mới” không thể không xét lịch sử xã hội những năm 1930 và
nghiên cứu sự tiếp nhận không thể không xét đến bối cảnh lịch sử từ khi “Thơ Mới” ra đời cho
đến nay. Chúng tôi cố gắng không sa vào giải thích theo hướng xã hội học tầm thường..
4.2. Nghiên cứu, đánh giá “Thơ Mới” hoặc thiên về nội dung nghệ thuật, không thấy
đóng góp của “Thơ Mới” về nghệ thuật, đóng góp cho văn hóa, qui chiếu với giai đoạn lịch sử
đất nước thấy nó như nhỏ bé có hại. Hoặc thiên về hình thức ngôn từ, chỉ thấy văn học là văn


học, không thấy nhiệm vụ lịch sử, dễ thấy cống hiến, thành tựu, không thấy hạn chế thậm chí
hạn chế lớn của “Thơ Mới” , quá đề cao, quá phóng đại phong trào “Thơ Mới”, không thấy sự
đóng góp bộ phận khác của thơ ca đương thời đều thiên lệch và sai lầm.
4.3. Xét phong trào “Thơ Mới” như hiện tượng lịch sử xã hội đồng thời là hiện tượng
văn học nghệ thuật, do vậy, chúng tôi nghiên cứu “Thơ Mới” và sự đổi mới nghệ thuật thơ trên
cả hai bình diện thi hứng và thi pháp. Xem đổi mới thi hứng là yếu tố quyết định sự đổi mới
của phong trào “Thơ Mới”, nó quy định sự đổi mới thi pháp. Còn đổi mới thi pháp là sự biểu
hiện, hô ứng nhằm tôn vinh thi hứng, hoàn chỉnh quá trình đổi mới thơ. Cả hai
được đặt trong bối cảnh lịch sử xã hội những năm 1930 - 1945, so sánh thơ trước, cùng thời và

đổi mới thi pháp của “Thơ Mới” một cách hệ thống góp phần làm phong phú tư liệu lịch sử văn học
và tư liệu văn học.
- Về mặt giáo dục: Góp phần giảng dạy văn học 1930 - 1945 nói chung, “Thơ Mới” nói
riêng cho học sinh trong nhà trường có hiệu quả hơn, nâng cao nhận thức văn học, giáo dục
thẩm mỹ cho học sinh.


CHƯƠNG 1: GIỚI THUYẾT VỀ “THƠ MỚI” (1930 - 1945) VÀ SỰ
ĐỔI MỚI NGHỆ THUẬT THƠ

“Thơ Mới” là một hiện tượng nổi bật của văn học Việt Nam nói chung và thơ ca nói
riêng trong thế kỷ XX. Vừa ra đòi “Thơ Mới” đã nhanh chóng khẳng định vị trí xứng đáng
trong nền văn học dân tộc - một thời đại trong thi ca – với các "hoàng tử thơ": Thế Lữ, Xuân
Diệu, Huy Cận, Lưu Trọng Lư, Chế Lan Viên, Hàn Mặc Tử v..v.. Đồng thời, “Thơ Mới” là
một hiện tượng thơ ca gây rất nhiều ý kiến khác nhau trong giới phê bình, nghiên cứu và độc
giả theo từng thời kỳ lịch sử xã hội, cho đến bây giờ việc đánh giá vẫn còn đặt ra sôi
nổi. Với phạm vi luận án này chúng tôi điểm lại những khái niệm về “Thơ Mới” và sự đổi mới
nghệ thuật thơ của các bậc thầy đi trước và tìm câu trả lời cho là hợp lý trong bao nhiêu ý kiến
trái ngược nhau.
1.1. “Thơ Mới” là gì? Chính Phan Khôi, người đề xướng ra nó, cũng chưa biết gọi tên là
gì, chỉ giới thiệu sơ lược trên Phụ nữ Tân văn số 122, 1932, như sau: "..Tôi sắp toan bày ra
một lối “Thơ Mới”. Vì nó chưa thành thục nên chưa có thể đặt tên là lối gì được, song có thể
cứ cái đại ý của lối “Thơ Mới” này ra, là: đem ý có thật trong tâm khảm mình tả ra bằng
những câu, có vận mà không phải bó buộc bởi niêm luật gì hết [64, tr. 177]. Tiếp đến, Nguyễn
Thị Kiêm, một trong những nhà diễn thuyết đầu tiên ủng hộ phong trào “Thơ Mới” cho
rằng: "Muốn cho tình tứ không vì khuôn khổ mà đẹt mất thì cần một lối thơ khác, do lề lối
nguyên tắc rộng rãi hơn. Thơ này khác lối xưa nên gọi là “Thơ Mới”" [64, tr. 249].
1.1.1. Theo ý hai tác giả trên thì “Thơ Mới” là thơ tự do. Quả thực, “Thơ Mới” trong
những năm đầu của phong trào "Có thể xem như một cuộc xâm lăng của văn xuôi" "vào địa
hạt thơ phá phách tan tành" hệ thống thi pháp thơ cũ; nó như muốn khẳng định, đối lập hoàn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status